CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ SỬ DỤNG LAO ĐỘNG NỮ TRONG QUAN HỆ LAO ĐỘNG 1. Khái niệm, đặc điểm của sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động 1. Khái niệm về sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động Theo như định nghĩa tại Từ điển tiếng Việt của Viện ngôn ngữ học, khái niệm lao động được định nghĩa “là hoạt động có mục đích của con người nhằm tạo ra các loại sản phẩm vật chất và tinh thần cho xã hội”.2 Theo như cách hiểu chung, ngoài sự vận động của sức lao động trong quá trình tạo ra của cải vật chất cho xã hội, lao động cũng chính là quá trình kết hợp của sức lao động và tư liệu sản xuất để sản xuất ra sản phẩm phục vụ nhu cầu nhân loại. Có thể nói lao động là yếu tố quyết định cho mọi hoạt động kinh tế, phát triển của toàn xã hội.
Lao động nữ cũng là người lao động, muốn đáp ứng điều kiện để trở thành người lao động nữ theo pháp luật lao động hiện hành thì cần phải đáp ứng tiêu chí chung của người lao động. Cụ thể theo quy định của pháp luật hiện hành là BLLĐ 2019 có hiệu lực chính thức từ ngày 01/01/2021, khái niệm về người lao động được định nghĩa như sau: “Người lao động là người làm việc cho NSDLĐ theo thỏa thuận, được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành, giám sát của NSDLĐ”. Cùng với đó, yếu tố tuổi cũng được đề cập, rằng “Độ tuổi lao động tối thiểu của người lao động là đủ 15 tuổi, trừ trường hợp quy định tại Mục 1 Chương XI của Bộ luật này”.3 Như vậy, so với các yếu tố để xác định như thế nào là người lao động trong BLLĐ 2012 (gồm yếu tố tuổi, khả năng lao động, làm việc theo hợp đồng lao động và chịu sự giám sát, điều hành của NSDLĐ) thì khái niệm người lao động tại Khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2019 đã được mở rộng, trong đó yếu tố hợp đồng lao động đã được loại bỏ. Việc phải có hợp đồng lao động giữa người lao động và NSDLĐ không còn là yếu tố bắt buộc, thay vào đó chỉ cần có sự thỏa thuận liên quan cũng đã đủ để định nghĩa và xác định được liệu chủ thể đó có là người lao động theo pháp luật lao động hay không.
Nhìn chung, khả năng lao động sẽ thể hiện thông qua năng lực hành vi lao động và năng lực pháp luật lao động của từng cá thể không đủ điều kiện để được xem là người lao động theo pháp luật Việt Nam. 2 Viện ngôn ngữ học (2003), Từ điển tiếng Việt, Nxb. 3 Xem Khoản 1 Điều 3 BLLĐ 2019. 6 Nhìn chung các văn bản quy phạm pháp luật lao động Việt Nam tính đến thời điểm hiện nay chưa quy định cụ thể khái niệm về người lao động nữ.
Khi tham gia vào quan hệ pháp luật lao động, lao động nữ có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ chung cùng với những quyền và nghĩa vụ đặc thù được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật. Như vậy khi xem xét đến khái niệm lao động nữ, ta sẽ xem xét dưới góc độ khác biệt về mặt giới tính sinh học. Theo như định nghĩa về giới tính tại Khoản 2 Điều 5 của Luật Bình đẳng giới năm 2006 thì giới tính là khái niệm chỉ các đặc điểm sinh học của nam, nữ.4 Có nghĩa rằng sự khác biệt này nằm ở mặt sinh học, có sẵn từ khi cá thể nam hoặc nữ sinh ra và tồn tại đồng nhất, không thể biến đổi (trừ trường hợp do có sự can thiệp về mặt y học). Khi có sự khác biệt về mặt sinh học, thể chất và tâm lí, nhận thức thì người mang giới tính nữ trong lao động cũng góp phần quan trọng rất lớn trong quá trình sản xuất vì sự đặc thù trong giới tính của mình.
Họ cũng trở thành chủ thể của quan hệ lao động khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện chung về năng lực pháp luật lao động, năng lực hành vi lao động, độ tuổi,… Điểm tạo ra sự khác biệt giữa lao động nữ và lao động nam nằm ở mặt giới tính sinh học như đã nêu trên. Vì thế bên cạnh việc có đầy đủ các quyền và nghĩa vụ như người lao động nói chung, vấn đề về giới là yếu tố quan trọng nhằm xác định rõ thế nào là người lao động nữ, từ đó mới có cơ sở hình thành nên các quy định pháp lý đảm bảo quyền của người lao động nữ trong quá trình lao động. Như vậy khái niệm về lao động nữ được hiểu ngắn gọn như sau: “Lao động nữ là người lao động mang giới tính nữ về mặt sinh học, có khả năng lao động, làm việc theo thỏa thuận với NSDLĐ, đồng thời được trả lương và chịu sự quản lý, điều hành của NSDLĐ trong suốt quá trình tham gia quan hệ lao động”. Hiện nay chưa có một quy định pháp lý nào giải thích cụ thể như thế nào là sử dụng lao động nữ.
Theo góc nhìn và cách hiểu của tác giả, cùng với điểm đặc thù của lao động nữ, tác giả nhận thấy khái niệm sử dụng nữ có thể được hiểu khái quát là: “Việc NSDLĐ thỏa thuận với lao động nữ, trong đó yêu cầu lao động nữ thực hiện một công việc cụ thể. Lao động nữ trong quá trình lao động sẽ được NSDLĐ đảm bảo các quyền lợi cơ bản trong lao động như được trả công, bảo đảm về thời giờ làm việc, nghỉ ngơi, hưởng các chế độ trợ cấp, an sinh xã hội theo quy định pháp luật. Bên cạnh đó, NSDLĐ cũng đảm bảo quyền lợi đặc thù cho chủ thể này như nghỉ trong 4 Xem Khoản 2 Điều 5 Luật Bình đẳng giới năm 2006. 7 thời gian hành kinh, nuôi con nhỏ, nghỉ thai sản, đảm bảo việc làm sau khi nghỉ thai sản,…”.
Theo cách nhìn nhận của tác giả, việc sử dụng lao động nữ kéo dài từ giai đoạn thực hiện công tác tuyển dụng cho đến khi chấm dứt quan hệ lao động với chủ thể này. Trong quá trình đó, việc sử dụng lao động nữ phải được thực hiện theo đúng với quy định pháp luật, cụ thể trách nhiệm của NSDLĐN là phải đảm bảo được quyền lợi cho chủ thể đặc thù này. Nội quy lao động cũng nên được xây dựng phù hợp với quy định của pháp luật về lao động nữ, hạn chế tình trạng có những quy định không phù hợp, xâm phạm quyền và lợi ích của lao động nữ trong suốt quá trình lao động. Đặc điểm của lao động nữ và việc sử dụng lao động nữ trong quan hệ lao động Ngoài những đặc điểm chung của người lao động, lao động nữ còn mang những đặc thù riêng biệt do sự khác biệt về mặt giới tính tạo ra.
Ngoài việc tham gia vào quan hệ lao động sản xuất, những người phụ nữ còn mang trong mình thiên chức làm mẹ, phải mang thai, sinh con, săn sóc, bảo vệ và nuôi dạy con cái. Ngoài ra người lao động nữ còn có trách nhiệm vun vén cho gia đình và thực hiện công việc nội trợ hằng ngày. Chính vì thế, để sử dụng nguồn lực lao động này một cách hiệu quả nhất mà vẫn đảm bảo rằng lao động nữ vẫn được hưởng những quyền lợi của họ, đồng thời tạo điều kiện cho họ tham gia vào quá trình lao động cho xã hội theo đúng nguyện vọng, hai đặc điểm sau đây nên được hiểu rõ: Thứ nhất, những đặc điểm nổi bật về mặt sức khỏe, tâm sinh lý. Đây là những sự khác biệt tự nhiên về mặt sinh học, cụ thể hơn là tâm sinh lý và giới tính giúp phân biệt giữa người lao động nam với lao động nữ.
Sự khác biệt rõ nhất là về vóc dáng cơ thể, tâm sinh lý của người phụ nữ so với đàn ông. Cũng chính sự khác biệt này mà người phụ nữ sẽ phải trải qua những sự kiện mang tính tự nhiên liên quan đến giới tính như việc hành kinh hay sinh sản. Như quy luật vốn có, nữ giới từ khi sinh ra đã có thể lực yếu hơn nam giới, ngoài ra còn có thiên chức làm mẹ. Chính sự hạn chế về mặt thể lực này khiến phụ nữ bị xem là “chân yếu tay mềm” nên họ thường hay bị gán với những công việc mang tính chất nhẹ nhàng hay những công việc đỏi hỏi sự tỉ mĩ, sự khéo léo như may vá, thêu thùa, nấu ăn, dọn dẹp,… Với những đặc điểm mang thiên hướng tự nhiên nêu trên, người lao động nữ thường sẽ bị hạn chế về cơ hội việc làm, vì NSDLĐ cho rằng họ không đủ thể lực, sức khỏe để đáp ứng yêu cầu công việc, nhất là những công việc mang tính chất độc hại hay nặng nhọc, có thể ảnh 8 hưởng đến sức khỏe thậm chí là khả năng sinh sản cho người lao động nữ.
Ngoài ra trong quá trình thực hiện thiên chức làm mẹ, lao động nữ cũng bị ảnh hưởng rất nhiều đến cơ hội trau dồi kỹ năng làm việc, họ dễ bị tụt hậu về mặt trình độ, chuyên môn nghiệp vụ. Bên cạnh đó, trong quá trình mang thai và nuôi con nhỏ, lao động nữ rất dễ bị ảnh hưởng về mặt tâm lý. Trong quá trình mang thai, do sự gia tăng nội tiết tố, lao động nữ trở nên nhạy cảm hơn đối với môi trường bên ngoài. Những áp lực gia tăng từ công việc gia đình, bản thân và công việc ngoài xã hội khiến cho tâm lý của họ trở nên thay đổi, dễ căng thăng, gây mất tập trung trong công việc.
Điều này cũng gây ảnh hưởng không nhỏ đến sức khỏe sinh sản cũng như là đối với thai nhi. Chính vì đặc điểm này, pháp luật lao động ưu tiên dành những quyền lợi cho lao động nữ mang thai, như quy định về thời gian nghỉ thai sản, bảo đảm việc làm để họ được giảm bớt gánh nặng trong công việc. Thứ hai, đặc điểm trong vai trò của lao động nữ về xã hội và gia đình. Tại Việt Nam, khi nhắc đến người phụ nữ Việt thì luôn sẽ có những hình dung như “Tam tòng tứ đức”, “Công dung ngôn hạnh”, … để đánh giá xem liệu người phụ nữ đó có mẫu mực, đảm đang hay không.
Từ thời xưa, phụ nữ cũng đã bị xem thường khi chỉ coi là người sinh con đẻ cái và phải ở nhà chăm chồng chăm con mà không được tham gia các hoạt động xã hội như nam giới. Cũng chính tư tưởng lạc hậu, coi thường phụ nữ ấy vẫn còn len lỏi trong xã hội hiện nay, khiến việc người lao động nữ ít được quan tâm, được đào tạo về trình độ, được có cơ hội tham gia lao động nâng cao tay nghề rộng như nam giới.