Chương 1. Tổng quan một số vấn đề lý luận về đòi nợ, kinh doanh dịch vụ đòi nợ và pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam. Thực trạng pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam. Giải pháp hoàn thiện pháp luật về kinh doanh dịch vụ đòi nợ ở Việt Nam.
5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chƣơng 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ ĐÒI NỢ, KINH DOANH DỊCH VỤ ĐÒI NỢ VÀ PHÁP LUẬT VỀ KINH DOANH DỊCH VỤ ĐÒI NỢ Ở VIỆT NAM 1. Tổng quan về đòi nợ và kinh doanh dịch vụ đòi nợ 1. Khái niệm nợ, chủ nợ và con nợ 1. Khái niệm nợ Nợ là nghĩa vụ tài sản của một chủ thể này phải trả cho một chủ thể khác.
Nợ có thể xuất hiện trong các quan hệ dân sự khác nhau như: quan hệ mua bán hàng hóa, cung cấp dịch vụ, quan hệ cho thuê tài sản, cho thuê tài chính…Quan hệ xã hội là những quan hệ giữa người với người được hình thành trong quá trình hoạt động kinh tế, xã hội, chính trị, pháp luật, tư tưởng, đạo đức, văn hóa…Nợ có thể phát sinh trong bất kỳ mối quan hệ xã hội nào, quan hệ xã hội càng phức tạp thì những nguồn gốc phát sinh nợ nần càng đa dạng, phức tạp. Có nhiều cách phân loại nợ, tùy thuộc vào tiêu chí, mục đích phân loại, có thể phân thành nợ thường (là những khoản nợ mà chủ thể có quyền đòi nợ có thể tự mình thu hồi nợ) và nợ xấu (là nợ mà chủ thể có quyền đòi nợ không thể tự mình thu hồi nợ vì nhiều lý do khách quan); hoặc có thể phân thành nợ trong dân sự và nợ trong kinh doanh; hoặc có thể phân thành nợ công và nợ dân doanh… Theo định nghĩa tại Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 104/2007/NĐ-CP ngày 14/06/2007 của Chính phủ quy định chi tiết về kinh doanh dịch vụ đòi nợ (sau đây gọi là Nghị định số 104/2007/NĐ-CP) thì “Nợ là nghĩa vụ của các tổ chức kinh tế, cá nhân này phải trả tài sản cho tổ chức kinh tế, cá nhân khác”.Nó không chỉ xuất hiện trong các quan hệ hợp đồng vay tài sản mà có thể xuất hiện ở nhiều lĩnh vực khác của đời sống xã hội. Các khoản nợ mà các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ đòi nợ được phép tham gia cung cấp dịch 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com vụ đòi nợ đó là các khoản nợ phát sinh từ các quan hệ xã hội khác nhau. Tuy nhiên, giới hạn của nó chính là nghĩa vụ giữa các tổ chức kinh tế, cá nhân chứ không phát sinh giữa các tổ chức chính trị, chính trị - xã hội, tổ chức chính trị - xã hội - nghề nghiệp với nhau hay giữa các tổ chức này với tổ chức kinh tế, cá nhân.
Nợ được xem là “tài sản” mà một tổ chức kinh tế, cá nhân phải trả cho một tổ chức kinh tế, cá nhân khác, và nó là một nghĩa vụ dân sự. Tài sản là một khái niệm cơ bản, quen thuộc với bất kỳ ai, nó là công cụ của đời sống con người. Điều 163 Bộ luật dân sự năm 2005 (BLDS năm 2005) quy định: “Tài sản bao gồm vật, tiền, giấy tờ có giá và các quyền tài sản”. Tuy nhiên cách định nghĩa tài sản của BLDS năm 2005 hiện tại nhiều luật gia cho rằng đây là cách định nghĩa ra theo kiểu liệt kê các loại tài sản, chứ không xác định phạm vi dứt khoản của tài sản, các quy định tiếp đó tại “ Chương XI – Phân loại tài sản lại diễn giải cụ thể các loại tài sản được nêu ra trong giải nghĩa này không đề cập gì tới tiền và giấy tờ có giá.
Mặc khác tại Điều 173 và Điều 181 và toàn bộ các quy định của BLDS 2005 không diễn giải một cách có thể hiểu được phạm vi của quyền tài sản và quyền sở hữu được quy định dường như tách biệt với tài sản tại Điều 164 và Điều 174 BLDS 2005 dẫn đến khái niệm tài sản dường như không bao trùm hết quyền sở hữu trong khi vẫn quy định các vấn đề chuyển dịch tài sản gắn với quyền sở hữu tại rất nhiều các quy định [15]. Ngày nay, với sự xuất hiện của nhiều loại tài sản mới như chứng khoản, sở hữu trí tuệ thì việc định nghĩa tài sản, phân loại tài sản như thế nào cho phù hợp cũng là cơ sở để chúng ta xác định chính xác đối tượng của dịch vụ kinh doanh dịch vụ đòi nợ là những loại tài sản nào. Trong giới hạn nghiên cứu, đề tài chỉ để cập đến khái niệm nợ theo quy định của pháp luật hiện hành, tức nợ là các nghĩa vụ về tài sản mà tổ chức kinh tế, cá nhân này phải trả cho tổ chức kinh tế, cá nhân khác mà thôi. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.
Khái niệm chủ nợ Gắn liền với tài sản là quyền sở hữu, do đó khi nói tới tài sản không thể không nói về quyền sở hữu. Quyền sở hữu là vật quyền thống trị và làm cơ sở cho việc phân chia và xác định các vật quyền khác mà các vật quyền này thường được gọi là các chi phần của quyền sở hữu. Khi một vật quyền được tạo lập thì lập tức xuất hiện hai loại quyền cùng tồn tại trên một vật – đó là quyền sở hữu của chủ sở hữu và quyền của người khác trên vật đó. Khi phát sinh một khoản nợ sẽ xuất hiện quyền đòi nợ của chủ sở hữu, vật quyền được xác lập.
Nếu chủ sở hữu chuyển giao quyền đòi nợ cho người khác làm phát sinh dịch quyền. Quyền đòi nợ bao gồm cả quyền trreen tài sản của mình và quyền trên tài sản của người khác.Do đó khái niệm chủ nợ cũng là một khái niệm khá rộng. Theo Từ điển Kinh tế học hiện đại: Các chủ nợ (creditors) là “các cá nhân hay tổ chức cho vay tiền để được người hay tổ chức vay hứa trả một khoản tiền nhất định hàng năm theo lãi suất và hoàn trả gốc vào một ngày nào đó trong tương lai” [19]. Khái niệm trên về chủ nợ chỉ bó hẹp trong phạm vi hợp đồng vay tài sản, chủ nợ chỉ được hiểu là người cho vay nợ.
Hiểu như vậy là chưa đầy đủ vì nợ không chỉ phát sinh từ hợp đồng vay tài sản mà còn có thể phát sinh từ các hợp đồng khác. Vậy nên đương nhiên tư cách chủ nợ cũng có thể phát sinh không chỉ bởi hành vi cho vay nợ của chủ thể đó. Nên hiểu chủ nợ là người tham gia quan hệ pháp luật làm phát sinh khoản nợ và có quyền thụ hưởng giá trị tài sản từ khoản nợ đó. Ngoài ra, tư cách chủ nợ cũng có thể được chuyển từ chủ thể này sang chủ thể khác bởi hành vi chuyển quyền thụ hưởng giá trị tài sản được xác định trong khoản nợ cho người thứ ba của chủ nợ.
Khi đó, khoản nợ có được xác định là nợ với chủ nợ mới hay không, phụ thuộc vào tư cách chủ thể và tính chất của hợp đồng chuyển giao đó. Ví dụ, nếu người nhận sự chuyển giao quyền thụ hưởng là 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com chủ thể kinh doanh và sự chuyển quyền đó cũng xuất phát từ hoạt động kinh doanh thì đối với họ, khoản nợ đó cũng được coi là nợ trong kinh doanh (ví dụ: quyền thụ hưởng do thanh toán bù trừ trong kinh doanh). Theo Từ điển Luật học do Viện Khoa học Pháp lý - Bộ Tư pháp biên soạn thì khái niệm chủ nợ được định nghĩa với nội hàm rộng hơn. Theo đó, chủ nợ là người cho một cá nhân, tổ chức khác vay một món nợ bằng tiền hay hiện vật.
Khi đến hạn, chủ nợ có quyền đòi con nợ phải hoàn trả khoản tiền vay hoặc hiện vật, kèm theo lãi. Chủ nợ là người có quyền trong quan hệ nghĩa vụ dân sự, cụ thể là hợp đồng vay. [31] Khái niệm chủ nợ cùng với hợp đồng vay tài sản là một trong những khái niệm pháp lý ra đời sớm nhất trước khi xuất hiện đồng tiền. Pháp luật dân sự La Mã đã có những điểm rất chi tiết về hợp đồng vay chủ nợ.
Trong dân luật thi hành tại các tòa Nam án Bắc kỳ trước đây, những quy định pháp lý về chủ nợ được quy định từ Điều 730 đến Điều 861. Trong Hoàng Việt Trung Kỳ hộ luật được duyệt y vào ngày 24/4/1936 những quy định pháp lý về chủ nợ được quy định từ Điều 811 đến Điều 878. Theo BLDS năm 2005 thì chủ nợ (người cho vay) là người có quyền và nghĩa vụ trong hợp đồng vay tài sản. Trong hợp đồng này, chủ nợ là bên cho vay, là người có tiền hoặc tài sản chuyển cho bên kia vay.
Khi hết hạn của hợp đồng, bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi như thỏa thuận. Nếu hợp đồng cho vay có áp dụng biện pháp bảo đảm thực hiện nghĩa vụ nhưng bên vay không thực hiện đúng thời hạn thì bên cho vay có quyền xử lý tài sản để bảo đảm thực hiện đúng nghĩa vụ như thỏa thuận hoặc yêu cầu bán đấu giá để thực hiện nghĩa vụ. Bên cho vay có nghĩa vụ giao tài sản đầy đủ, đúng số lượng, chất lượng, chủng loại như thỏa thuận cho bên vay. Nếu bên cho vay lừa dối bên vay, chuyển giao tài sản không đảm bảo chất lượng mà gây thiệt hại cho bên vay thì phải bồi thường.
9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Tuy nhiên, định nghĩa này lại chỉ đề cập đến chủ nợ là một cá nhân mà quên mất rằng trong quan hệ nợ nần thì chủ nợ có thể là tổ chức, đây là một điểm thiếu sót rất lớn, bởi lẽ khi các quan hệ dân sự phát triển không ngừng thì tư cách chủ nợ trong quan hệ nợ cũng không ngừng biến đổi với nhiều dạng chủ thể khác nhau. Mặt khác, món nợ mà định nghĩa trên nêu ra cũng khá hẹp, chỉ là “tiền” hoặc “hiện vật”, hẹp hơn rất nhiều so với quy định của BLDS năm 2005 về tài sản và khái niệm chủ nợ ở đây cũng chỉ bó hẹp trong quan hệ hợp đồng vay tài sản. Với một cái nhìn khác hơn ở một góc độ rộng hơn, bao quát hơn, Nghị định số 104/2007/NĐ-CP định nghĩa: “Chủ nợ là tổ chức kinh tế, cá nhân có quyền đòi nợ”.