Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Sự tăng trưởng kinh tế cùng chính sách mở rộng hội nhập quốc tế và tiềm năng cảnh quan thiên nhiên đã thúc đẩy ngành du lịch Việt Nam phát triển nhanh chóng, tạo động lực trực tiếp cho thị trường bất động sản nghỉ dưỡng tại các địa phương ven biển (như Đà Nẵng, Nha Trang, Bà Rịa – Vũng Tàu, Phú Quốc) cũng như các đô thị du lịch và vùng miền núi (Hà Nội, Thành phố Hồ Chí Minh, Đà Lạt, Sa Pa). Tuy nhiên, giai đoạn 2020–2021, đại dịch Covid-19 bùng phát đã tác động nặng nề đến toàn bộ nền kinh tế, đặc biệt là ngành du lịch và thị trường bất động sản nghỉ dưỡng. Tại Thành phố Đà Nẵng – trung tâm du lịch trọng điểm của miền Trung, thực tiễn hoạt động kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng bộc lộ nhiều điểm nghẽn do hành lang pháp lý chưa đồng bộ, chưa có quy định chuyên biệt điều chỉnh các loại hình mới như căn hộ du lịch (condotel), shophouse thương mại, biệt thự du lịch. Thực trạng này gia tăng rủi ro cho nhà đầu tư, chủ đầu tư dự án và làm phát sinh các vướng mắc trong công tác quản lý nhà nước tại địa phương.

Từ bối cảnh trên, khóa luận xác định mục tiêu và hệ thống nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  • Mục tiêu nghiên cứu: Làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về kinh doanh và pháp luật kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng; khảo sát, phân tích thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thi hành tại Thành phố Đà Nẵng; từ đó đề xuất các định hướng, giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và nâng cao hiệu quả thực thi, bảo đảm thị trường phát triển minh bạch, bền vững.
  • Nhiệm vụ nghiên cứu:
    1. Hệ thống hóa cơ sở lý luận, khái niệm, đặc điểm, phân loại và các nguyên tắc pháp lý điều chỉnh hoạt động kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng.
    2. Phân tích quá trình phát triển của pháp luật Việt Nam qua các giai đoạn lịch sử và tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm điều chỉnh pháp luật của một số quốc gia (Thái Lan, Hoa Kỳ).
    3. Đánh giá thực trạng các quy phạm pháp luật hiện hành về chủ thể, điều kiện, phạm vi kinh doanh và phân tích thực tiễn áp dụng pháp luật trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
    4. Xác định các vướng mắc, khoảng trống lập pháp và đề xuất các giải pháp hoàn thiện thể chế cũng như cơ chế tổ chức thi hành pháp luật.

Về đối tượng và phạm vi nghiên cứu:

  • Đối tượng nghiên cứu: Quy định pháp luật Việt Nam về kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng (tập trung vào quy chế chủ thể kinh doanh, điều kiện kinh doanh, hợp đồng, chế độ sử dụng đất, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu và xử lý vi phạm) thể hiện trong các đạo luật nền tảng như Bộ luật Dân sự năm 2015, Luật Đất đai năm 2013, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Du lịch năm 2017, Luật Đầu tư năm 2020; cùng thực tiễn áp dụng các quy định này tại Thành phố Đà Nẵng.
  • Phạm vi nghiên cứu:
    • Về nội dung: Tập trung vào hoạt động kinh doanh hàng hóa bất động sản nghỉ dưỡng gắn liền với đất thương mại, dịch vụ theo cơ sở lý luận và pháp lý hiện hành.
    • Về không gian: Khảo sát thực tế trên địa bàn Thành phố Đà Nẵng.
    • Về thời gian: Tập trung nghiên cứu thực tiễn áp dụng pháp luật giai đoạn từ năm 2016 đến năm 2021.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp

Khóa luận được triển khai trên nền tảng lý luận pháp lý chuyên ngành luật kinh tế, kết hợp nghiên cứu quy chuẩn kỹ thuật và thực tiễn quản lý nhà nước. Tác giả vận dụng các khái niệm pháp lý về tài sản, quyền sử dụng đất, quyền sở hữu công trình xây dựng không phải nhà ở và hoạt động kinh doanh bất động sản có điều kiện.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật được tác giả trích dẫn và phân tích gồm:

  • Bộ luật, luật: Bộ luật Dân sự năm 2015 (Điều 107 về phân loại bất động sản); Luật Đất đai năm 1993, 2003 và 2013 (Điều 5, Điều 10, Điều 126, Điều 153); Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 (Điều 3, 4, 9, 10, 11, 12, 13, 14, 19, 21, 22, 23, 24, 58); Luật Nhà ở năm 2014 (Điều 3, Điều 9, Điều 159); Luật Du lịch năm 2017 (Điều 48, Điều 50 về phân loại và xếp hạng cơ sở lưu trú); Luật Đầu tư năm 2020 (khoản 19 Điều 3, khoản 2 Điều 7, khoản 2 Điều 75); Luật Doanh nghiệp năm 2020 (khoản 21 Điều 4); Luật Quy hoạch năm 2017; Luật Bảo vệ môi trường năm 2014.
  • Văn bản dưới luật và văn bản chỉ đạo: Nghị định số 43/2014/NĐ-CP (Điều 14 về năng lực tài chính của chủ đầu tư); Chỉ thị số 11/CT-TTg ngày 23/04/2019 của Thủ tướng Chính phủ; Quyết định số 3720/QĐ-BVHTTDL ngày 28/10/2019 của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch ban hành Quy chế quản lý, kinh doanh loại hình căn hộ du lịch và biệt thự du lịch; Thông tư số 27/2018/TT-BTNMT; Thông tư số 06/2019/TT-BXD và Thông tư số 21/2019/TT-BXD của Bộ Xây dựng; Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/02/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.

Phương pháp nghiên cứu thực tế được tác giả sử dụng:

  • Phương pháp phân tích và tổng hợp lý thuyết: Phân tích bản chất học thuật, khái niệm, đặc điểm, cấu trúc phân loại bất động sản nghỉ dưỡng và hệ thống hóa các chế định pháp luật tại Chương 1 và Chương 2.
  • Phương pháp so sánh pháp luật: Đối chiếu các quy định giữa pháp luật Việt Nam với quy chế sở hữu có thời hạn của Thái Lan và chế độ minh bạch thông tin giao dịch theo Bộ luật Dân sự bang California (Hoa Kỳ), cũng như so sánh giữa các loại hình bất động sản nhà ở và công trình lưu trú.
  • Phương pháp thống kê, tổng hợp dữ liệu thực tế: Thu thập dữ liệu thứ cấp, số liệu nguồn cung và mức độ tiêu thụ các sản phẩm căn hộ du lịch, biệt thự du lịch tại Đà Nẵng để đánh giá thực trạng thị trường.
  • Phương pháp đánh giá, bình luận: Đưa ra quan điểm lập pháp độc lập đối với các điểm mâu thuẫn giữa các luật hiện hành và các quy định sửa đổi mới của Luật Đầu tư năm 2020.

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1: Một số vấn đề lý luận và pháp luật về kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng

Tác giả xây dựng định nghĩa khoa học: Bất động sản nghỉ dưỡng là đất đai, công trình nghỉ dưỡng gắn liền với đất đai và tài sản khác gắn liền với đất đai, được xây dựng trong các khu du lịch, khu nghỉ dưỡng nhằm phục vụ du khách, cung ứng dịch vụ thương mại, lưu trú, và sản phẩm được bán lại cho các nhà đầu tư để nghỉ dưỡng, tự kinh doanh hoặc hợp tác kinh doanh thu lợi nhuận. Khóa luận phân tích 3 đặc điểm chung kế thừa từ bất động sản (tính cá biệt, tính lâu bền, tính chịu ảnh hưởng lẫn nhau) và 2 đặc điểm riêng biệt của phân khúc nghỉ dưỡng: tính khan hiếm (phụ thuộc vào địa hình, cảnh quan tự nhiên) và yêu cầu nghiêm ngặt về tiêu chuẩn, quy chuẩn, phân cấp xếp hạng (theo Điều 50 Luật Du lịch năm 2017 từ 1 sao đến 5 sao).

Bảng tổng hợp phân loại bất động sản nghỉ dưỡng theo tác giả trình bày:

Loại hình Bản chất kiến trúc và chức năng Đặc trưng vận hành và sở hữu
Căn hộ du lịch (Condotel) Kết hợp giữa căn hộ khép kín (bếp, phòng khách, phòng ngủ) và tiện ích khách sạn cao cấp (hồ bơi, nhà hàng, gym). Vận hành bởi đơn vị quản lý chuyên nghiệp; nhà đầu tư có quyền sở hữu để nghỉ dưỡng hoặc ủy thác cho thuê chia sẻ lợi nhuận.
Biệt thự du lịch Công trình nghỉ dưỡng riêng biệt, sang trọng tại khu vực ven biển hoặc đồi núi, mật độ xanh cao, diện tích lớn. Chú trọng tối đa tính riêng tư; phục vụ phân khúc khách hàng thu nhập cao và khách quốc tế.
Mini Hotel Mô hình khách sạn thu nhỏ trong quần thể nghỉ dưỡng hoặc trung tâm đô thị du lịch; bùng nổ tại Việt Nam từ năm 2016. Diện tích đất vừa phải, tích hợp tiện ích hiện đại, chi phí đầu tư linh hoạt.
Shophouse (Nhà phố thương mại) Thiết kế hỗn hợp kết hợp giữa kinh doanh thương mại và lưu trú; thường từ hai tầng trở lên dọc các trục đường chính khu du lịch. Tầng dưới bố trí kinh doanh thương mại, dịch vụ ăn uống; các tầng trên dành cho sinh hoạt gia đình hoặc lưu trú nghỉ dưỡng.

Về mặt lý luận, kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng được phân tích dưới góc độ mang lại lợi ích đa chiều: đóng góp nguồn thu ngân sách (thuế, tiền thuê đất) và công cụ điều tiết kinh tế cho Nhà nước; tối ưu hóa lợi nhuận và mở rộng thương hiệu cho chủ đầu tư; giải quyết việc làm địa phương (như dự án FLC Quy Nhơn giải quyết gần 1.200 lao động) và tạo cơ hội sinh lời cho người dân. Về mặt pháp lý, hoạt động này chịu sự chi phối của 4 nguyên tắc cơ bản theo Điều 4 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014: bình đẳng, tự do thỏa thuận không trái luật; bất động sản đưa vào kinh doanh phải đáp ứng đủ điều kiện luật định; trung thực, công khai, minh bạch; và tuân thủ quy hoạch quốc phòng, an ninh.

Nghiên cứu lịch sử lập pháp chỉ ra 3 giai đoạn chuyển biến: Giai đoạn 1954–2000 (đặt nền móng với Luật Đất đai năm 1987 và 1993, xác lập chế độ sở hữu toàn dân về đất đai); Giai đoạn 2000–2013 (Luật Đất đai năm 2003 và 2013 bắt đầu phân hóa chế độ sử dụng đất thương mại, dịch vụ); Giai đoạn 2013 đến nay (sự ra đời của Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Du lịch năm 2017 cùng các văn bản dưới luật điều chỉnh căn hộ và biệt thự du lịch).

Khảo cứu kinh nghiệm quốc tế mang lại hai bài học lập pháp:

  • Thái Lan: Quy định rõ thời hạn sở hữu có giới hạn (căn hộ chung cư tối đa 50 năm; bất động sản gắn liền với đất như biệt thự du lịch là 30 năm, có thể gia hạn theo chu kỳ lên 90–120 năm). Pháp luật Thái Lan kiểm soát chặt chẽ quyền sử dụng đất của người nước ngoài, nhưng thiết lập cơ chế thuê đất dài hạn hoặc lập pháp nhân liên doanh (người nước ngoài nắm giữ không quá 49% cổ phần) kết hợp bảo lãnh tài chính, giúp Nhà nước vừa thu hút vốn ngoại vừa giữ vững chủ quyền tài nguyên đất đai.
  • Hoa Kỳ: Đề cao nguyên tắc minh bạch thông tin tuyệt đối theo quy định của Bộ luật Dân sự bang California (Phần 1 Điều 102.3), buộc bên bán và môi giới phải công bố văn bản tình trạng thực tế của tài sản, thiết lập chế tài nghiêm khắc đối với gian lận thông tin; đồng thời tạo điều kiện tài chính thông qua việc các tổ chức tín dụng cho vay khi người mua trả trước 30–40% giá trị.

Chương 2: Thực trạng pháp luật, giải pháp hoàn thiện và nâng cao hiệu quả thực hiện pháp luật Việt Nam về kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng từ thực tiễn Thành phố Đà Nẵng

Chương 2 tập trung mổ xẻ thực trạng pháp luật thực định và bất cập phát sinh:

  • Về chủ thể và quyền tiếp cận thị trường của người nước ngoài: Tồn tại sự xung đột thể chế rõ rệt. Điểm b khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 cho phép cá nhân nước ngoài sở hữu nhà ở thương mại tại Việt Nam trong thời hạn không quá 50 năm. Tuy nhiên, Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 không liệt kê người nước ngoài thuộc đối tượng có quyền sử dụng đất tại Việt Nam. Đồng thời, khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 lại ràng buộc nguyên tắc việc mua bán nhà, công trình xây dựng phải gắn liền với quyền sử dụng đất. Sự thiếu đồng bộ này khiến các cơ quan quản lý lúng túng, không thể cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu cho người nước ngoài mua các sản phẩm nghỉ dưỡng.
  • Về điều kiện vốn pháp định: Khoản 1 Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 từng quy định tổ chức, cá nhân kinh doanh bất động sản phải thành lập doanh nghiệp và có vốn pháp định tối thiểu 20 tỷ đồng. Tuy nhiên, điểm a khoản 2 Điều 75 Luật Đầu tư năm 2020 đã sửa đổi và bãi bỏ yêu cầu vốn pháp định 20 tỷ đồng này. Tác giả phê phán đây là một bất cập lớn, bởi kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng là ngành nghề đầu tư lớn, dài hạn; việc dỡ bỏ rào cản vốn pháp định tối thiểu tiềm ẩn nguy cơ các doanh nghiệp năng lực tài chính yếu kém tham gia thị trường, gây đứt gãy tiến độ và rủi ro thiệt hại nghiêm trọng cho khách hàng.
  • Về năng lực tài chính của chủ đầu tư: Áp dụng Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP, chủ đầu tư dự án phải có vốn chủ sở hữu không thấp hơn 20% tổng mức đầu tư đối với dự án dưới 20 ha và không thấp hơn 15% đối với dự án từ 20 ha trở lên, đồng thời phải chứng minh năng lực huy động vốn từ tổ chức tín dụng.
  • Thực tiễn áp dụng tại Đà Nẵng: Thị trường bất động sản nghỉ dưỡng Đà Nẵng phát triển sôi động với nguồn cung lớn về condotel và biệt thự du lịch. Tuy nhiên, các vướng mắc về chế độ sử dụng đất thương mại, dịch vụ (theo Điều 153 và khoản 3 Điều 126 Luật Đất đai năm 2013 với thời hạn giao/thuê đất không quá 50 năm, trường hợp đặc biệt không quá 70 năm) đã cản trở việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu lâu dài (sổ đỏ) cho người mua condotel. Hướng dẫn tại Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/02/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường chỉ giải quyết việc cấp giấy chứng nhận có thời hạn tương ứng với thời hạn của dự án du lịch, chưa tháo gỡ được tâm lý e ngại của các nhà đầu tư thứ cấp muốn sở hữu ổn định lâu dài. Bên cạnh đó, các biến động tiêu cực về nguồn cung và sức tiêu thụ (phản ánh tại Biểu đồ 1 và Biểu đồ 2 của luận văn trang 57) cho thấy thị trường rơi vào giai đoạn chững lại nghiêm trọng dưới tác động kép của khoảng trống pháp lý và đại dịch.

Kết quả và đóng góp

  • Kết quả nghiên cứu chính:
    • Khóa luận làm sáng tỏ bản chất pháp lý của bất động sản nghỉ dưỡng: là công trình xây dựng phục vụ mục đích thương mại, dịch vụ, lưu trú du lịch trên đất thương mại, dịch vụ; không phải là "nhà ở" theo định nghĩa của Điều 3 Luật Nhà ở năm 2014, do đó không áp dụng chế độ cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở lâu dài như căn hộ chung cư thông thường.
    • Chỉ ra sự thiếu tương thích mang tính hệ thống giữa Luật Đất đai năm 2013, Luật Nhà ở năm 2014, Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2020 liên quan đến quyền sở hữu tài sản của người nước ngoài và điều kiện vốn pháp định của chủ thể kinh doanh.
    • Phân tích giá trị thực thi của các văn bản chuyên ngành: Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ, Quyết định số 3720/QĐ-BVHTTDL và Thông tư số 06/2019/TT-BXD trong việc xác lập quy chuẩn kỹ thuật và thủ tục cấp giấy chứng nhận có thời hạn cho căn hộ, biệt thự du lịch.
  • Hệ thống giải pháp và kiến nghị:
    • Hoàn thiện khung pháp lý: Đề xuất sửa đổi, bổ sung Luật Kinh doanh bất động sản và Luật Đất đai nhằm định danh chính thức các sản phẩm căn hộ du lịch, biệt thự du lịch, shophouse thương mại dịch vụ; quy định cụ thể cơ chế cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình có thời hạn cho nhà đầu tư thứ cấp; khôi phục hoặc thiết lập tiêu chí kiểm soát năng lực tài chính chặt chẽ đối với chủ đầu tư dự án nghỉ dưỡng thay vì bãi bỏ hoàn toàn vốn pháp định; xây dựng quy chế cho phép cá nhân nước ngoài mua bất động sản nghỉ dưỡng có thời hạn gắn liền với điều kiện bảo đảm quốc phòng, an ninh.
    • Nâng cao hiệu quả thực thi: Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra việc chấp hành quy hoạch đất đai tại Đà Nẵng; minh bạch hóa toàn bộ thông tin tình trạng pháp lý dự án nghỉ dưỡng trước khi mở bán; chuẩn hóa hợp đồng mẫu trong giao dịch căn hộ du lịch để phân định rủi ro và cam kết lợi nhuận giữa chủ đầu tư và khách hàng.
  • Đóng góp học thuật: So với các nghiên cứu trước đây (thường chỉ tiếp cận condotel thuần túy dưới góc độ kinh tế thị trường hoặc nghiên cứu diện rộng trên phạm vi toàn quốc), khóa luận đã xây dựng một phân tích pháp lý hệ thống, chuyên sâu dưới lăng kính Luật kinh tế, đồng thời gắn liền việc thi hành pháp luật với thực tế tại một địa bàn cụ thể là Thành phố Đà Nẵng.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

  • Hạn chế của đề tài:
    • Khóa luận được hoàn thành vào năm 2021, thời điểm thị trường bất động sản nghỉ dưỡng chịu tác động nặng nề bởi các biện pháp giãn cách xã hội do dịch Covid-19, dẫn đến việc khảo sát số liệu thực tế tại Đà Nẵng chịu sự chi phối của các yếu tố biến động bất thường của thị trường.
    • Phạm vi khảo sát thực tiễn áp dụng tập trung từ năm 2016 đến năm 2021, trong khi các chính sách mới của Luật Đầu tư năm 2020 và các thông tư hướng dẫn của Bộ Xây dựng, Bộ Tài nguyên và Môi trường mới ở giai đoạn đầu triển khai, chưa tích lũy đủ các phán quyết tranh chấp tại Tòa án để phân tích sâu thực tiễn tố tụng.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo:
    • Mở rộng nghiên cứu cơ chế giải quyết tranh chấp phát sinh từ hợp đồng hợp tác kinh doanh và hợp đồng ủy thác quản lý cam kết lợi nhuận condotel giữa khách hàng và chủ đầu tư.
    • Đánh giá tác động thực thi của các đạo luật sửa đổi trong tương lai đối với việc tháo gỡ quyền sử dụng đất thương mại, dịch vụ đa chức năng tại các đô thị du lịch biển.

Giá trị tham khảo

Khóa luận có giá trị tham khảo thiết thực cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với sinh viên, học viên chuyên ngành Luật kinh tế, Luật Đất đai: Cung cấp tài liệu hệ thống hóa các khái niệm, lịch sử lập pháp và phương pháp phân tích xung đột giữa các đạo luật kinh tế hiện hành. Phần phân tích so sánh pháp luật của Thái Lan và bang California (Hoa Kỳ) tại Chương 1 là nguồn tư liệu hữu ích cho các bài nghiên cứu về luật so sánh.
  • Đối với cơ quan quản lý và chính quyền địa phương: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về những vướng mắc trong khâu thẩm định dự án, cấp giấy chứng nhận quyền sở hữu công trình không phải nhà ở và quản lý quy hoạch đất ven biển tại Đà Nẵng.
  • Đối với doanh nghiệp, chủ đầu tư và luật sư tư vấn: Giúp nhận diện rõ ranh giới pháp lý giữa đất thương mại dịch vụ và đất ở, các tiêu chuẩn tài chính theo Điều 14 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP và lường trước các rủi ro pháp lý khi soạn thảo hợp đồng mua bán, cho thuê bất động sản nghỉ dưỡng hình thành trong tương lai.

Câu hỏi thường gặp

1. Khóa luận định nghĩa bất động sản nghỉ dưỡng như thế nào?
Tác giả định nghĩa bất động sản nghỉ dưỡng là đất đai, công trình nghỉ dưỡng gắn liền với đất đai và tài sản khác gắn liền với đất đai, được xây dựng trong các khu du lịch, khu nghỉ dưỡng với mục đích phục vụ du khách, cung cấp các dịch vụ thương mại, lưu trú, và sản phẩm được bán lại cho các nhà đầu tư để nghỉ dưỡng, tự kinh doanh hoặc cùng hợp tác kinh doanh để thu lợi nhuận.

2. Điểm xung đột pháp lý nổi bật nào giữa Luật Nhà ở năm 2014, Luật Đất đai năm 2013 và Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 đối với người nước ngoài?
Điểm b khoản 2 Điều 159 Luật Nhà ở năm 2014 cho phép cá nhân nước ngoài được sở hữu nhà ở thương mại tại Việt Nam. Tuy nhiên, Điều 5 Luật Đất đai năm 2013 không xếp người nước ngoài vào nhóm đối tượng có quyền sử dụng đất. Trong khi đó, khoản 1 Điều 19 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014 lại quy định việc mua bán công trình xây dựng phải gắn liền với quyền sử dụng đất. Sự thiếu tương thích này tạo ra khoảng trống pháp lý khiến cơ quan chức năng không thể cấp Giấy chứng nhận sở hữu bất động sản nghỉ dưỡng cho cá nhân nước ngoài.

3. Tác giả đánh giá như thế nào về việc Luật Đầu tư năm 2020 bãi bỏ quy định vốn pháp định 20 tỷ đồng của doanh nghiệp kinh doanh bất động sản?
Tác giả nhận định việc điểm a khoản 2 Điều 75 Luật Đầu tư năm 2020 bãi bỏ quy định vốn pháp định tối thiểu 20 tỷ đồng (tại khoản 1 Điều 10 Luật Kinh doanh bất động sản năm 2014) là một bất cập. Do kinh doanh bất động sản nói chung và bất động sản nghỉ dưỡng nói riêng đòi hỏi quy mô vốn lớn và dài hạn, việc dỡ bỏ vốn pháp định sẽ làm tăng rủi ro cho khách hàng và thị trường khi các doanh nghiệp yếu kém về tài chính vẫn được cấp phép tham gia, dẫn đến nguy cơ chậm tiến độ hoặc không hoàn thành dự án.

4. Chế độ pháp lý đối với việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu cho căn hộ và biệt thự du lịch được hướng dẫn ra sao theo Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ?
Theo Công văn số 703/BTNMT-TCQLĐĐ ngày 14/02/2020 của Bộ Tài nguyên và Môi trường, đất xây dựng dự án du lịch nghỉ dưỡng thuộc loại đất thương mại, dịch vụ. Thời hạn cho thuê đất đối với tổ chức không quá 50 năm (trường hợp đặc biệt không quá 70 năm). Việc cấp Giấy chứng nhận quyền sở hữu tài sản trên đất cho người nhận chuyển nhượng căn hộ, biệt thự du lịch được thực hiện theo quy định của pháp luật đất đai cho công trình xây dựng không phải nhà ở, với thời hạn sở hữu gắn liền với thời hạn hoạt động của dự án, chứ không được cấp sổ đỏ lâu dài như đất ở.

5. Pháp luật Thái Lan điều chỉnh thời hạn sở hữu bất động sản nghỉ dưỡng đối với biệt thự du lịch như thế nào?
Theo quy định pháp luật Thái Lan được tác giả viện dẫn, đối với nhà chung cư, người mua có thể sở hữu 50 năm, nhưng đối với các sản phẩm gắn liền với đất như biệt thự du lịch thì thời hạn sở hữu tối đa chỉ là 30 năm, áp dụng cho cả người nước ngoài và công dân Thái Lan. Cá nhân nước ngoài muốn sử dụng lâu hơn thường lựa chọn hình thức gia hạn hợp đồng thuê đất từ 2 đến 3 kỳ hạn tiếp theo (đạt tổng thời gian 90–120 năm) nhằm bảo đảm quyền quản lý tài sản gắn với quy định bảo vệ đất đai của quốc gia này.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Thái Thị Tú Anh đã hệ thống hóa toàn diện cơ sở lý luận và pháp lý về kinh doanh bất động sản nghỉ dưỡng, đồng thời làm rõ các điểm nghẽn thể chế từ thực tiễn áp dụng tại Thành phố Đà Nẵng giai đoạn 2016–2021. Công trình chỉ rõ sự xung đột giữa các đạo luật then chốt về đất đai, nhà ở, đầu tư và kinh doanh bất động sản, đặc biệt là chế định cấp chứng nhận quyền sở hữu và điều kiện năng lực của chủ thể kinh doanh. Với các đề xuất sửa đổi lập pháp và bài học kinh nghiệm quốc tế sâu sắc, khóa luận đóng góp nguồn tư liệu học thuật và thực tiễn có giá trị cho việc hoàn thiện chính sách thị trường bất động sản du lịch tại Việt Nam.