Chương 1: Những vấn đề lý luận về hoạt động mua, bán nợ và pháp luật điều chỉnh hoạt động mua bán nợ của các TCTD. 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Chương 2: Thực trạng pháp luật về điều chỉnh hoạt động mua, bán nợ của các TCTD ở Việt Nam. Chương 3: Phƣơng hƣớng hoàn thiện và một số kiến nghị về pháp luật hoạt động mua, bán nợ của các TCTD ở Việt Nam. 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN NỢ VÀ PHÁP LUẬT ĐIỀU CHỈNH HOẠT ĐỘNG MUA, BÁN NỢ CỦA CÁC TỔ CHỨC TÍN DỤNG 1.
Những vấn đề cơ bản về hoạt động mua, bán nợ của các TCTD 1. Khái niệm, đặc điểm hoạt động mua, bán nợ của các TCTD Trong những năm gần đây, các chủ thể tham gia thị trƣờng tài chính quốc tế đang sử dụng rộng rãi một nghiệp vụ mới là mua, bán nợ. Nghiệp vụ này có tác dụng chính là làm tăng tính thanh khoản và tính hiệu quả trong việc đầu tƣ vốn trên thị trƣờng của các nhà đầu tƣ. Ngoài ra, nghiệp vụ mua, bán nợ còn đƣợc xem là công cụ để Nhà nƣớc tiến hành điều tiết, kiểm soát các hoạt động tài chính, tiền tệ trong nền kinh tế nhằm hƣớng tới một nền kinh tế thịnh vƣợng và phát triển ổn định.
Sự tồn tại của hoạt động mua, bán nợ trong điều kiện hiện nay chính là nhu cầu đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh, xử lý những thua lỗ, yếu kém một cách tích cực bằng cách dịch chuyển nhanh chóng vốn đầu tƣ vào lĩnh vực vừa an toàn, vừa có lợi nhuận. Cùng với sự phát triển ngày càng cao của các hoạt động kinh tế, việc mua, bán nợ nói chung và nghiệp vụ mua, bán các khoản nợ thƣơng mại nói riêng cũng ngày càng gia tăng ở nhiều nƣớc trên thế giới, với sự tham gia của các định chế trung gian tài chính mà điển hình là các ngân hàng. Nghiệp vụ này không chỉ có sự tham gia tích cực của các định chế tài chính trung gian mà trên thực tế, chính quyền cũng tỏ ra rất quan tâm đến hoạt động này, đặc biệt là các cơ quan có chức năng quản lý tài chính và tiền tệ của đất nƣớc nhƣ Bộ Tài Chính và ngân hàng Trung ƣơng. Ban đầu, hoạt động mua bán nợ xuất hiện nhƣ là sự cần thiết phải giải quyết các khoản nợ có vấn đề, nợ quá hạn nhằm xử ký hậu quả kinh doanh yếu kém và từng bƣớc lành mạnh hoá hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, trong đó chủ yếu là các ngân hàng.
Tuy nhiên, cùng với thời gian, do nhu cầu luân chuyển vốn trong nền kinh tế, dần dần những khoản nợ nhƣ tài sản có của các doanh nghiệp và ngân hàng đƣợc đem ra bán trở thành rộng rãi hơn trên thị trƣờng, trong đó bao gồm các khoản nợ có mức độ rủi ro cao và thậm chí là cả những khoản nợ lành mạnh. 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Thực tiễn mua, bán nợ trên thế giới cho thấy rằng các khoản nợ đƣợc giao dịch trên thị trƣờng rất đa dạng, bao gồm các khoản nợ của Chính phủ dƣới dạng trái phiếu, tín phiếu kho bạc nhà nƣớc; các khoản nợ của doanh nghiệp và cá nhân phát sinh trong đời sống dân sự và thƣơng mại; những khoản nợ của các định chế tài chính trung gian; những khoản nợ bằng ngoại tệ có liên quan đến chủ nợ là các tổ chức và cá nhân nƣớc ngoài nhƣ nợ Tổ chức quốc tế, nợ Chính phủ nƣớc ngoài và nợ các tổ chức kinh tế, cá nhân nƣớc ngoài. Có thể nhận thấy rằng sự gia tăng hoạt động mua, bán nợ trên thị trƣờng tài chính lâu nay là do sự gặp gỡ tự nhiên của nguồn cung các khoản nợ cần bán từ phía các doanh nghiệp và nhu cầu mua nợ nhƣ là một cơ hội kinh doanh của các tổ chức kinh doanh dịch vụ tài chính chuyên nghiệp nhƣ các ngân hàng. Mặt khác, kinh nghiệm điều hành nền kinh tế thị trƣờng đã làm thay đổi cách nhìn nhận của Chính phủ đối với việc xử lý các khoản nợ có vấn đề theo xu hƣớng nới rộng khả năng linh hoạt trong hoạt động đầu tƣ của các doanh nghiệp và những định chế tài chính [35].
Ngày nay, việc mua, bán nợ càng lúc càng thay đổi tuỳ theo nhu cầu phát triển của thị trƣờng và có thể chứa đựng những tính chất khác hẳn so với các giao dịch ban đầu của thị trƣờng mua, bán nợ. Hoạt động tín dụng ngân hàng luôn tìm ẩn nhiều rủi ro khi ngân hàng không thể thu hồi đƣợc toàn bộ hoặc một phần gốc và lãi khi khoản vay đến hạn và khi ngân hàng không thu hồi đƣợc nợ gốc và lãi thì ngƣời ta gọi là nợ xấu. Trong Từ điển tiếng Việt của Trung tâm từ điển thuộc Viện ngôn ngữ học, nhà xuất bản Đà Nẵng năm 2006, nêu “Nợ” đƣợc hiểu là “cái vay phải trả mà chưa trả”, với khái niệm này thì nợ chỉ giới hạn trong phạm vi các quan hệ vay tài sản. Nợ đƣợc hiểu là khoản phải trả thì khoản phải trả đó là nghĩa vụ pháp lý.
Theo quy định tại Điều 280 Bộ Luật Dân sự 2005 thì nghĩa vụ dân sự: “Nghĩa vụ dân sự là việc mà theo đó, một hoặc nhiều chủ thể (sau đây gọi chung là bên có nghĩa vụ) phải chuyển giao vật, chuyển giao quyền, trả tiền hoặc giấy tờ có giá thực hiện công việc khác hoặc không thực hiện công việc nhất định vì lợi ích của một hoặc nhiều chủ thể khác (sau đây gọi là bên có quyền)” với cách hiểu nghĩa vụ là xử sự mà một ngƣời phải thực hiện (buộc phải làm hoặc không phải làm) đối với ngƣời 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. Ở đây nghĩa vụ dân sự là quan hệ tài sản, việc thực hiện nghĩa vụ của chủ thể luôn liên quan nghĩa vụ với một lợi ích vật chất cụ thể và có thể là sự dịch chuyển tài sản từ chủ thể này sang chủ thể khác (nhƣ quan hệ vay tài sản, mua bán tài sản, mƣợn tài sản, thuê tài sản, …) 1. Khái niệm nợ xấu, mua, bán nợ xấu Hiện nay trên thế giới có nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu: Theo nhóm chuyên gia tƣ vấn Advisory Expert Group (AEG) của Liên hiệp quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên sử dụng nhƣ hƣớng dẫn cho các ngân hàng. AEG thống nhất định nghĩa nhƣ sau: “Một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu quá hạn trả lãi và /hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản vay phải thanh toán đã quá hạn 90 ngày nhƣng chƣa có lý do chắc chắc để nghi ngờ về khả năng thanh toán vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ” Nói cách khác, nợ xấu đƣợc khẳng định trên 02 yếu tố quá hạn 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi nghờ.[49] - Theo Ủy ban Basel về Giám sát ngân hàng (BCBS): Ủy ban này không đƣa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu.
Tuy nhiên, trong các hƣớng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau đây xảy ra: ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; ngƣời vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày. Dựa trên hƣớng dẫn này nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 và có dấu hiệu ngƣời đi vay không trả đƣợc nợ. BCBS cũng đề cập tới các khoản vay bị giảm giá trị sẽ xảy ra khi thu hồi các khoản thanh toán từ khoản vay là không thể. Giá trị tổn thất sẽ đƣợc ghi nhận bằng cách giảm trừ giá trị khoản vay thông qua một khoản dự phòng và sẽ đƣợc phản ánh trên báo cáo thu nhập của ngân hàng.
Nhƣ vậy lãi suất của các khoản vay này sẽ không đƣợc cộng dồn và sẽ chỉ xuất hiện dƣới dạng tiền mặt thực tế nhận đƣợc.Còn chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) về ngân hàng thƣờng đề cập các khoản 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming). Chuẩn mực kế toán IAS 39 đƣợc khuyến cáo áp dụng ở một số nƣớc phát triển vào đầu năm 2005 chỉ ra rằng cần có bằng chứng khách quan để xếp một khoản vay có dấu hiệu bị giảm giá trị. Trong trƣờng hợp nợ bị giảm giá trị thì tài sản đƣợc ghi nhận sẽ bị giảm xuống những tổn thất do chất lƣợng nợ xấu gây ra. Về cơ bản IAS39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chƣa tới 90 ngày hoặc chƣa quá hạn.
Phƣơng pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thƣờng là phân tích dòng tiền tƣơng lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này đƣợc coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhƣng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, nó vẫn đƣợc Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại trong IFRS 9. - Theo Tổ chức tiền tệ thế giới (IMF): Trong hƣớng dẫn tính toán các chỉ số lành mạnh tài chính tại các quốc gia (IFRS)2, IMF đƣa ra định nghĩa về nợ xấu nhƣ sau: “Một khoản vay đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoản theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn 90 ngày nhƣng có thể nhận thấy rõ ràng ngƣời đi vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ngƣời vay phá sản).
Sau khi khoản vay đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm xóa nợ hoặc thu hồi đƣợc lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi đƣợc khoản vay thay thế” Từ những định nghĩa trên có thấy đƣợc sự tƣơng đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi xuất hiện 1 hoặc cả 2 dấu hiệu sau: Quá hạn trả nợ gốc và lãi; khi khách hàng vay vốn bị TCTD hoặc ngân hàng coi là không có khả năng trả nợ.