CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ NỢ XẤU VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU TẠI CÔNG TY QUẢN LÝ TÀI SẢN 1.1 Tổng quan về nợ xấu 1.1 Khái niệm về nợ xấu Hiện nay có rất nhiều nghiên cứu nói về nợ xấu với nhưng góc nhìn khác nhau như định nghĩa, cách phân loại nhóm nợ xấu; các tác nhân gây ra nợ xấu và hệ quả tiêu cực của nợ xấu tới hệ thống tài chính, tổng thể nền kinh tế cũng như các biện pháp xử lý nợ xấu và hạn chế chúng phát sinh trong tương lai. Về định nghĩa và những cách phân loại nhóm nợ xấu, các nghiên cứu hầu hết đều cho thấy chưa có một định nghĩa chính xác và tối ưu xác định nợ xấu cũng như các tiêu chí để phân loại các khoản nợ này. Góc nhìn của nợ xấu có những sự đa dạng do đặc điểm kinh tế của từng quốc gia có sự khác biệt, sự đa dạng về định nghĩa và tiêu chí phân loại bắt nguồn từ sự khác biệt trong đặc điểm kinh tế, chính trị, xã hội của các quốc gia; cũng như sự khác nhau về mục đích phân loại và quản lý nợ xấu của các cơ quan quản lý. Fofack (2005) định nghĩa về “nợ xấu” là các khoản nợ không tạo ra thu nhập trong một thời gian dài, tương tự với Ernst & Young (2004) khi cho rằng nợ xấu là những khoản vay không trả được (defaulted loans) và các ngân hàng không thể thu hồi vốn vay từ nó.
Trong khi Berger và DeYoung (1997) đưa ra khái niệm rất chung về nợ xấu là các khoản vay có vấn đề (problem loans), thì Stephan (2013) trong một nghiên cứu về nợ xấu tại các nước Đông Âu lại cụ thể hai yếu tố cơ bản hình thành nên định nghĩa về nợ xấu, đó là (i) gốc hoặc lãi quá hạn từ 90 ngày trở lên và (ii) xác định được sự tồn tại của những điểm yếu cơ bản của các khoản vay hoặc người vay tiền. Đối với Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF) (2015) nợ xấu được nhận định như sau: “Một khoản cho vay được coi là không sinh lời khi tiền thanh toán lãi và /hoặc tiền gốc đã quá hạn từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản thanh toán lãi đến 90 ngày hoặc hơn đã 9 được tái cơ cấu hay gia hạn nợ, hoặc các khoản thanh toán dưới 90 ngày nhưng có nguyên nhân ghi ngờ về việc trả nợ sẽ được thực hiện đầy đủ.” Đối với định nghĩa về nợ xấu các chuyên gia tư vấn của Advisory Expert Group (AEG) cho rằng: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn lãi và hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắn chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ”. Ủy Ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) xác định rằng một khoản vay nếu như khách hàng không còn khả năng trả nợ khi ngân hàng cho vay chưa thực hiện bất kỳ biện pháp thu hồi nợ nào nhằm thu hồi khoản vay hoặc khách hàng vay vượt quá thời gian trả nợ hơn 90 ngày thì các khoản vay đó sẽ được coi là nợ xấu. Tại Việt Nam, theo Thông tư 02/2013/TT-NHNN được NHNN ban hành ngày 21/01/2013 nêu về phân loại tài sản có mức, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và cách sử dụng dự phòng rủi ro để xử lý cho hoạt dộng của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3 (Nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (Nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (Nợ có khả năng mất vốn)”.
Nợ xấu được phân loại theo 02 phương pháp cơ bản đó là: định tính và định lượng. Định lượng được tính theo số ngày quá hạn (theo Điều 10 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN); định tính được đánh giá về hệ thống xếp hạng tín dụng đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng (Điều 7 của Thông tư 02/2013/TT-NHNN). Như vậy, nợ xấu theo quan điểm của NHNN Việt Nam cũng được xác định dựa trên hai yếu tố: (i) Đã quá hạn trên 90 ngày, (ii) hoặc các khoản nợ không có khả năng thu hồi nợ gốc và lãi khi đến hạn. Theo Nghị quyết số 42/2017/QH14 được Quốc Hội ban hành ngày 21/6/2017, Nợ xấu bao gồm: các khoản nợ đang hạch toán trong và ngoài bảng cân đối kế toán của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và được xác định là nợ xấu Theo quy định tại Phụ lục về xác định nợ xấu ban hành kèm Theo Nghị quyết, khoản nợ xấu 10 mà VAMC đã mua của TCTD; Khoản nợ xấu phát sinh từ 09 hoạt động sau: Cho vay, cho thuê tài chính, chiết khấu, tái chiết khấu công cụ chuyển nhượng và giấy tờ có giá, bao thanh toán, cấp tín dụng dưới hình thức phát hành thẻ tín dụng, trả hay theo cam kết ngoại bảng, ủy thác cấp tín dụng, hoạt động mua bán nợ, hoạt động mua ủy thác trái phiếu doanh nghiệp chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán hoặc chưa đăng ký giao dịch trên thị trường giao dịch các công ty đại chúng chưa niêm yết; Được xác định là nợ nhóm 3, 4, 5 theo phương pháp định lượng hoặc phương pháp định tính.
Với các định nghĩa, các quy định trên cho thấy không thực sự tồn tại một định nghĩa chung dành cho nợ xấu trên toàn thế giới. Tuy nhiên qua tổng hợp, học viên thấy rằng để đánh giá 1 khoản vay có là nợ xấu hay không có thể nhìn nhận như sau: - Khoản vay bị chậm trả gốc và lãi quá 90 ngày; - Khách hàng vay có những dấu hiệu gặp khó khăn trong việc trả nợ; - Khoản vay và khách hàng vay bị xếp hạng tin dụng tại nhóm có mức rủi ro cao. Với các khái niệm xử lý nợ xấu được nhận định trên thế giới và tại Việt Nam, điều này đóng góp phần quan trọng trong vai trò xử lý nợ xấu tại Công ty Quản lý tài sản VAMC theo khía cạnh: rà soát, đánh giá, thẩm định các khoản nợ xấu, từ đó hướng tới được những biện pháp cụ thể nhằm thu hồi nợ xấu.2 Các chỉ tiêu đo lường nợ xấu Việc đánh giá thời gian quá hạn của khoản vay cũng như tiêu chí đánh giá rủi ro của khoản vay đã cho thấy rằng nợ xấu phản ánh rõ nét những rủi ro tín dụng thông qua các nhóm chỉ tiêu sau: - Quy mô và cơ cấu nợ xấu. Trong một thời gian nhất định, nếu như quy mô nợ xấu phình to là 1 nhân tố phản ảnh về chất lượng tín dụng của ngân hàng đó và cơ cấu nợ xấu phản ánh việc ngân hàng đó đang tập trung phát triển tín dụng trong ngành nghề, lĩnh vực,….
Việc đánh giá quy mô và cơ cấu nợ xấu là một cách phòng ngừa nợ xấu và có những biện pháp xử lý nợ xấu hiệu quả. 11 - Tỷ lệ nợ xấu = tổng nợ xấu/tổng dư nợ. Một ngân hàng có thể được đánh giá về chất lượng tín dụng tốt hay kém thông qua qua chỉ tiêu này. Nếu chỉ tỷ lệ nợ xấu ở mức độ cao thì ngân hàng đó có chất lượng tín dụng kém và ngược lại.
- Tỷ lệ nợ xấu so với vốn chủ sở hữu = tổng nợ xấu/tổng vốn chủ sở hữu. Chỉ tiêu này xác định số nợ xấu chiếm tỷ lệ bao nhiêu so với vốn chủ sở hữu của Ngân hàng. Chỉ tiêu này càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp. - Tỷ lệ nợ xấu so với quỹ dự phòng tổn thất = tổng nợ xấu/số dư quỹ dự phòng tổn thất.
Chỉ tiêu này cho biết khả năng ngân hàng bù đắp rủi ro đối với các khoản nợ xấu tại Ngân hàng. Chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 thì hoạt động của ngân hàng là an toàn. - Tỷ lệ nợ xấu so với tổng giá trị TSBĐ = tổng nợ xấu/tổng giá trị TSBĐ. Chỉ tiêu này cho biết khả năng đảm bảo của TSBĐ đối với các khoản nợ xấu của ngân hàng.
Chỉ tiêu này càng nhỏ thì khả năng đảm bảo cho các khoản nợ xấu từ TSBĐ càng lớn. - Tỷ lệ cấp tín dụng xấu = tỷ lệ giữa tổng nợ và cam kết ngoại bảng từ nhóm 3 đến nhóm 5 so với tổng nợ và các cam kết ngoại bảng từ nhóm 1 đến nhóm 5. Đây là chỉ tiêu phản ánh chất lượng toàn bộ hoạt động cấp tín dụng tại ngân hàng bao gồm cả các cam kết ngoại bảng. Tỷ lệ này càng cao thì chất lượng tín dụng càng thấp.
Trong số các chỉ tiêu trên, tỷ lệ nợ xấu = (tổng nợ xấu/tổng dư nợ) được coi là chỉ tiêu quan trọng nhất. Không có tiêu chuẩn tỷ lệ nợ xấu quốc tế, mà chỉ có các thông lệ quốc tế như: + Moodys’: ≤ 2%; + FDIC: đánh giá chất lượng tài sản theo 5 mức với độ rủi ro tăng dần: mức 1 là mức có tài sản chất lượng tốt nhất, mức độ rủi ro rất thấp, không đáng lo ngại trong khi mức 5 phản ánh mức tài sản kém nhất, có độ rủi ro cao nhất đối với định chế tài chính (FDIC, 1997); + AIA CAMELS: ≤ 1% (AIA, 1996); 12 + Việt Nam: ≤ 3%, theo Quyết định 06/2008/QĐ-NHNN ngày 12/03/2018 quy định tỷ lệ nợ xấu ≤ 3% và TCTD tuân thủ theo quy định của NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng. Nếu tỷ lệ này >3%, TCTD sẽ bị trừ điểm, tối đa có thể trừ tới 20 hoặc 25 điểm (NHNN, 2008).3 Các nguyên nhân hình thành nợ xấu Nợ xấu được hình thành dựa trên sự đa dạng các nguyên nhân cùng với đó là việc phân loại các nguyên nhân được xác định từ các khoá cạnh khách quan như: từ môi trường, từ nền kinh tế, từ chính khách hàng vay vốn.1 Nguyên nhân từ yếu tố khách quan Về yêu tố môi trường Về mặt pháp lý: Hiện nay, nền tảng hệ thống pháp lý cho hoạt động ngân hàng còn rất bất cập và mơ hồ, từ việc các bộ luật, văn bản dưới luật được ban hành chồng chéo khiến cho các cơ quan, các bộ ban ngành liên quan gặp khó khăn để áp dụng trong việc xử lý tranh chấp về tài sản bảo đảm khi nợ xấu được phát sinh, các quy định về kế toán kiểm toán chưa thực sự chặt chẽ trong các số liệu điều này khiến cho các nhà thẩm định tại ngân hàng dễ dàng đưa ra những quyết định sai lầm, đây là một trong những nguyên nhân quan trọng tạo nên nợ xấu.