Chương 1 đã trình bày rõ về tính cấp thiết của việc xem xét và phân tích các yếu tố tác động đến nợ xấu dựa vào tình hình thực tế nợ xấu của các NHTMCP Việt Nam giai đoạn 2012 – 2022. Việc xác định mục tiêu và đối tượng nghiên cứu cũng được thể hiện trong chương này. Ngoài ra, phương pháp nghiên cứu chính là nghiên cứu định lượng, còn nghiên cứu định tính đóng vai trò là phương pháp phụ trợ. Cuối cùng là đưa ra kết cấu bố cục gồm 5 chương và những điểm nổi bật trong mỗi chương.
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VÀ LƢỢC KHẢO CÁC TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN Giớ i thiệ u Chương thứ hai cung cấp cơ sở lý thuyết và tổng quan nghiên cứu về tác động của các nhân tố vi mô và đặc thù ngành trong mối quan hệ với nợ xấu tại các NHTMCP Việt Nam và các tổ chức tín dụng khác. Sau đó thảo luận để xác định khoảng trống nghiên cứu. Cơ sở lý thuyết về nợ xấu 2. Khái niệm nợ xấu Nợ xấu là một cấu phần quan trọng để đánh giá mức độ tương tác giữa lợi nhuận từ hoạt động tín dụng và rủi ro tín dụng.
Những từ như non – performing loan (NPL), bad debt, doubtful debt được dùng rộng rãi để mô tả nợ xấu. Nhìn chung nợ xấu được mô tả như sau: Theo BCBS (2006), “một khoản vay được coi là mất khả năng thanh toán nếu xảy ra một hoặc cả hai trường hợp sau: (i) Ngân hàng xác định rằng bên vay vốn không thể trả toàn bộ khoản vay; (ii) Chủ thể vay vốn quá hạn thanh toán trên 90 ngày”. Ngoài ra, BCBS đặc biệt chú ý “tổn thất có thể xảy ra trong tương lai” khi định giá các khoản vay. Toàn bộ các khoản vay quá hạn 90 ngày và có biểu hiện mất khả năng thanh toán của bên vay sẽ bị coi là nợ xấu theo hướng dẫn này.
Hội đồng Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IASB) (2004) nhận thấy rằng các ngân hàng xử lý nợ xấu phải thu thập dữ liệu khách quan ngay từ năm 2005. Khi giá trị của một khoản nợ phải trả giảm đi, tài sản được ghi nhận bị suy giảm giá trị do chất lượng của khoản nợ xấu xuống cấp. Dễ dàng nhận thấy, IAS vẫn đánh giá cao khả năng trả nợ hơn là thời gian quá hạn. Theo Quỹ Tiền tệ Quốc tế (2019): “Nợ xấu được định nghĩa là những khoản vay mà (1) Quá hạn thanh toán gốc/lãi 90 ngày trở lên; hoặc (2) các khoản thanh 9 toán lãi từ 90 ngày trở lên đã được vốn hóa (tái đầu tư thành số tiền gốc), tái cấp vốn hoặc đảo hạn (thanh toán chậm theo thỏa thuận); hoặc (3) khả năng thanh toán của bên vay suy giảm, chẳng hạn như do phá sản hoặc khó khăn tài chính khác”.
Quan điểm này xem xét nợ xấu trên khía cạnh khả năng trả nợ của khách hàng và thời gian nợ. Khách hàng có thể hoàn toàn không trả được nợ hoặc chỉ có thể thanh toán một phần. IMF xem xét nợ xấu từ một góc độ khác về việc trì hoãn thời gian trả nợ với mốc thời gian là quá hạn trên 90 ngày. Ngoài ra, định nghĩa mới nhất về NPL không có sự khác biệt so với bản trước đó của IMF (2004).
Tại Việt Nam, sau nhiều lần sửa đổi bổ sung thì nợ xấu được định nghĩa theo Thông tư 11/2021/TT-NHNN của Thống đốc NHNN ngày 30/07/2021 (gọi tắt là Thông tư 11) – Quyết định mới nhất về việc phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro và việc sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài. Như vậy, tại khoản 8 Điều 3 Thông tư 11, “nợ xấu được định nghĩa là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5 quy định tại Điều 10 Thông tư 11”. Theo NHNN, nợ xấu được quyết định bởi hai điều sau: (i) Thanh toán chậm hơn 90 ngày và (ii) Nghi ngờ về khả năng thực hiện nghĩa vụ của người đi vay. Phân loại nợ và phương pháp đánh giá nợ xấu Giới thiệu các phân loại và phương pháp đánh giá nợ xấu tại một số quốc gia Để ngân hàng tăng trưởng bền vững trong dài hạn, công tác điều tiết và quản lý nợ xấu cần được thực hiện một cách chặt chẽ.
Do đó, việc xác định các khoản cho vay có tính chất nợ xấu, đánh giá rủi ro và chủ động trích lập các khoản dự là điều không thể bỏ qua. Bholat và cộng sự (2016) lập luận trong nghiên cứu của mình rằng khó có một tiêu chuẩn chung về phân loại nợ do thực tế nó phụ thuộc vào đặc điểm riêng của mỗi quốc gia. Phụ lục 01 trình bày một số điểm khác biệt giữa phân loại nợ tại các nước thuộc nhóm G20 của công trình nghiên cứu này. 10 Qua Phụ lục 01, dễ dàng nhận thấy rằng Hoa Kỳ, Đức đã sử dụng các hệ thống để phân loại các khoản nợ một cách rõ ràng.
Mặt khác, các nhà quản lý ngân hàng thường có trách nhiệm xây dựng các quy tắc và thủ tục phân loại nợ nội bộ tại những quốc gia không tồn tại hệ thống quản lý cụ thể. Điển hình là hệ thống Pháp quy định các điều kiện tối thiểu đối với các khoản vay có dấu hiệu suy giảm, nhưng không có tiêu chuẩn rõ ràng để thiết lập chúng. Cách tiếp cận tương tự được sử dụng ở Ý khi nước này phân thành năm nhóm nợ chỉ với hướng dẫn chung về cách áp dụng phân loại vào thực tế. Tại Anh, các nhóm nợ không được hình thành theo bất kỳ tiêu chí nào.
Do đó, giám sát viên ngân hàng mong muốn ngân hàng có một quy trình phù hợp để quản lý rủi ro tín dụng, bao gồm cả việc đánh giá và cập nhật khoản vay. Trong khi đó, các quốc gia châu Á (như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc,…) thường có xu hướng chia các khoản vay thành bốn hoặc năm hạng mục và sử dụng cách phân loại tương tự nhau. Hơn nữa, số nhóm nợ của các nước châu Mỹ như Argentina và Brazil vượt quá mức chung khi so sánh với các nước trong nhóm G20. Ngoài ra, dựa trên cơ sở về thời gian quá hạn mà WB, IMF, và một số ngân hàng nước ngoài phân nợ vào năm nhóm cơ bản như sau: (i) Nhóm 1 – Nợ đạt tiêu chuẩn; (2) Nhóm 2 – Nợ cần theo dõi; (3) Nhóm 3 - Nợ dưới tiêu chuẩn; (4) Nhóm 4 – Nợ đáng nghi ngờ; (5) Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn.
Giới thiệu cách phân loại và phương pháp đánh giá nợ xấu tại Việt Nam theo quy định Thông tư 11 Từ năm 2005, các NHTM tại Việt Nam đã thực hiện phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro theo hướng dẫn tại Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN (còn gọi là Quyết định 493) của NHNN. Tiếp đó là Thông tư số 02/2013/NHNN (Thông tư 02) được ban hành. Tuy nhiên, văn bản này xuất hiện một số hạn chế do NHTM ngày càng càng đa dạng lĩnh vực kinh doanh. Như một hệ quả tất yếu, các văn bản mới, cập nhật và thay thế phải được tạo ra để tăng cường bảo mật hệ thống, tăng tính minh bạch trong hoạt động của các NHTM và tuân theo quy định quản lý rủi ro toàn 11 cầu.
Trước tình hình đó, NHNN đã ban hành Thông tư 11/2021/TT-NHNN (Thông tư 11) ngày 30/07/2021 thay thế một số văn bản liên quan khác và Thông tư 02. Theo quy định tại Điều 1 và Khoản 1, 2 của Điều 11 trong Thông tư 11, các khoản nợ trong được phân loại theo phương pháp định lượng và định tính. Về phương pháp phân loại nợ định lượng, tổ chức tín dụng thực hiện phân loại nợ căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản nợ và có quyền chủ động phân loại khách hàng vào nhóm có rủi ro cao hơn khi nhận thấy khả năng trả nợ bị suy giảm. Ngược lại, các tổ chức tín dụng sử dụng hệ thống xếp hạng nội bộ theo phương pháp định tính, dựa trên chính sách giảm thiểu và quản lý rủi ro.
Bất kể phương pháp nào được sử dụng thì nợ xấu đều là các khoản nợ từ nhóm 3 đến nhóm 5, lần lượt tương ứng với nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ và nợ có khả năng mất vốn. Trên thực tế, phần lớn các tổ chức tín dụng chỉ phân loại nợ theo định lượng mà không quan tâm đến phương pháp định tính. Do đó, hệ thống phân loại nhóm nợ của Việt Nam và những mô tả cơ bản về từng nhóm nợ tương tự như hệ thống của nhiều quốc gia phát triển khác. Ngoài ra, do khóa luận xem xét các yếu tố tác động đến tỷ lệ nợ xấu tại các NHTMCP trên địa bàn Việt Nam nên nghiên cứu sử dụng phương pháp phân loại nợ theo quy định của NHNN Việt Nam làm chuẩn.
Các tác động của nợ xấu Không chỉ ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh của bản thân ngân hàng mà nợ xấu còn tác động sâu rộng và nặng nề đến các chủ thể xung quanh, cũng như nền kinh tế. Có thể chia thành 3 nhóm như sau: 2. Tác động của nợ xấu đối với ngân hàng Khi phân tích các tác động của nợ xấu đối với hệ thống ngân hàng, tác động đầu tiên được đề cập đến là giảm khả năng sinh lời của ngân hàng. Thông thường, hoạt động chính của các ngân hàng là huy động tiền gửi từ vốn thị trường nhàn rỗi và sử dụng nó để cho vay.
Hay nói cách khác, ngân hàng hỗ trợ luân chuyển vốn từ nơi dư thừa sang nơi cần vốn. Kết quả là, vốn có thể được sử dụng hiệu quả hơn trong khi vẫn hưởng lợi từ việc phân bổ dòng vốn vào. Mặt khác, nợ xấu cao cho 12 thấy ngân hàng không có khả năng thu hồi nợ gốc, tồn đọng vốn kinh doanh lớn. Như vậy, ngân hàng vừa phải trả lãi tiền gửi, vừa giảm lợi nhuận để tăng trích lập dự phòng theo quy định đã ban hành.
Nếu tình trạng này vẫn còn tiếp diễn, ngân hàng này sẽ bị giám sát đặc biệt bởi từ NHNN và hạn chế khả năng mở rộng hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Song song đó, nợ xấu còn ảnh hưởng đến khả năng thanh toán. Tương tự như việc nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng sinh lời: làm chi phí quản lý và xử lý nợ xấu tăng, bên cạnh việc mất gốc và lãi từ các khoản cho vay. Từ đó gây mất cân đối và tiềm ẩn rủi ro thanh khoản.
Cuối cùng, tỷ lệ nợ xấu cao gây tổn hại đến uy tín và làm suy giảm lòng tin của khách hàng đối với tiềm lực tài chính của ngân hàng trên thị trường.