Ảnh Hưởng Của Một Số Yếu Tố Đến Nợ Xấu Trong Hệ Thống Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam

Nghiên cứu ảnh hưởng của các yếu tố đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay, cung cấp cái nhìn sâu sắc và giải pháp.

Chuyên ngành

Tài Chính - Ngân Hàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

114
1
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Về Nợ Xấu Ngân Hàng Khái Niệm Phân Loại

Nợ xấu là vấn đề nhức nhối trong hệ thống ngân hàng, ảnh hưởng đến sự ổn định tài chính và tăng trưởng kinh tế. Bài viết này cung cấp cái nhìn tổng quan về nợ xấu, từ khái niệm đến phân loại, theo chuẩn mực quốc tế và quy định Việt Nam. Mục tiêu là giúp độc giả hiểu rõ bản chất của nợ xấu và những yếu tố tác động, làm cơ sở cho việc phân tích sâu hơn về thực trạng và giải pháp. Các thuật ngữ như non-performing loans (NPLs), non-accrual loans, và impaired loans đều được sử dụng để chỉ nợ xấu, tùy theo ngữ cảnh và mục đích. Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN, nợ xấu là các khoản nợ thuộc nhóm 3, 4, 5.

1.1. Định Nghĩa Nợ Xấu Theo Quan Điểm Quốc Tế và Việt Nam

Các tổ chức quốc tế như IMF và BCBS đều có định nghĩa riêng về nợ xấu, nhưng điểm chung là khoản nợ quá hạn thanh toán (thường là 90 ngày trở lên) hoặc có dấu hiệu không có khả năng thu hồi. Theo quyết định 493/2005/QĐ - NHNN ngày 22/04/2005, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 bao gồm nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lƣợng tín dụng của tổ chức tín dụng. Các định nghĩa quốc tế, như của IMF, nhấn mạnh việc khoản vay quá hạn 90 ngày hoặc có dấu hiệu rõ ràng người vay không thể hoàn trả nợ đầy đủ.

1.2. Phân Loại Nợ Theo Quy Định Ngân Hàng Nhà Nước Việt Nam

Ngân hàng Nhà nước Việt Nam (NHNN) phân loại nợ thành 5 nhóm dựa trên khả năng trả nợ của khách hàng. Nợ xấu bao gồm nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn). Việc phân loại nợ giúp các ngân hàng trích lập dự phòng rủi ro phù hợp, đảm bảo an toàn hoạt động. Quyết định 493 và Thông tư 02/2013/TT-NHNN quy định chi tiết về các tiêu chí phân loại nợ. Thông tƣ 02/2013/TT - NHNN ngày 21/01/2013 ban hành thay thế quyết định 493 và quyết định 18 đã nêu trên, hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2014: Quy định tại điểm 8 điều 3 thông tƣ 02, nợ xấu (NPLs) vẫn là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5.

II. Các Yếu Tố Vĩ Mô Tác Động Mạnh Đến Nợ Xấu Phân Tích

Nợ xấu không chỉ xuất phát từ nội tại ngân hàng mà còn chịu ảnh hưởng lớn từ các yếu tố vĩ mô. Tăng trưởng kinh tế chậm lại, lạm phát gia tăng, lãi suất biến động mạnh, và các cú sốc kinh tế bên ngoài đều có thể làm gia tăng nợ xấu. Phân tích các yếu tố vĩ mô giúp dự báo và phòng ngừa rủi ro nợ xấu hiệu quả hơn. Theo nhiều nghiên cứu, GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và tăng trưởng tín dụng là hai yếu tố vĩ mô quan trọng nhất ảnh hưởng đến nợ xấu. Trong bối cảnh kinh tế hiện nay, đặc biệt giai đoạn từ năm 2008 đến năm 2013, hệ thống ngân hàng thƣơng mại thƣờng xuyên đối mặt với rất nhiều rủi ro, trong đó nợ xấu là một trong những rủi ro đƣợc bàn đến nhiều nhất.

2.1. Tăng Trưởng Kinh Tế GDP và Tỷ Lệ Thất Nghiệp Ảnh Hưởng Nợ Xấu

Khi kinh tế tăng trưởng chậm lại hoặc suy thoái, doanh nghiệp gặp khó khăn trong hoạt động sản xuất kinh doanh, dẫn đến giảm khả năng trả nợ. Tỷ lệ thất nghiệp gia tăng cũng làm giảm thu nhập của người dân, khiến họ khó khăn hơn trong việc trả nợ tiêu dùng và nợ vay mua nhà. Các yếu tố vĩ mô này có mối tương quan chặt chẽ với chất lượng tín dụng của ngân hàng. Theo nhiều nghiên cứu, GDP (tổng sản phẩm quốc nội) và tăng trưởng tín dụng là hai yếu tố vĩ mô quan trọng nhất ảnh hưởng đến nợ xấu.

2.2. Lạm Phát Lãi Suất Biến Động Tỷ Giá Hối Đoái Tăng Nợ Xấu

Lạm phát làm giảm giá trị thực của thu nhập và tài sản, khiến người vay khó khăn hơn trong việc trả nợ. Lãi suất tăng cao làm tăng chi phí vay vốn của doanh nghiệp và người dân, từ đó làm gia tăng rủi ro nợ xấu. Biến động tỷ giá hối đoái ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của các doanh nghiệp vay ngoại tệ. Những biến động này tạo áp lực lớn lên khả năng trả nợ và làm tăng nợ xấu.

III. Yếu Tố Vi Mô Nội Tại Ngân Hàng Nguyên Nhân Gốc Rễ Nợ Xấu

Bên cạnh yếu tố vĩ mô, các yếu tố vi mô nội tại ngân hàng đóng vai trò quan trọng trong việc hình thành và gia tăng nợ xấu. Quản trị rủi ro tín dụng yếu kém, chính sách cho vay lỏng lẻo, thiếu kiểm soát sau giải ngân, và năng lực thẩm định dự án hạn chế là những nguyên nhân phổ biến. Việc cải thiện quản trị rủi ro tín dụng là chìa khóa để kiểm soát nợ xấu. Cùng với việc thực hiện vai trò đó, hoạt động Ngân hàng cũng tiềm ẩn nhiều rủi ro ngày càng lớn do tác động của các nhân tố bên ngoài nhƣ những bất ổn của nền kinh tế vĩ mô, khủng hoảng tài chính thế giới,… và các nhân tố bên trong NHTM nhƣ quản trị rủi ro kém, đầu tƣ nhiều dự án rủi ro cao,…

3.1. Quản Trị Rủi Ro Tín Dụng Yếu Kém Hậu Quả Nghiêm Trọng

Khi ngân hàng không có hệ thống quản trị rủi ro tín dụng hiệu quả, việc đánh giá và kiểm soát rủi ro trở nên khó khăn. Điều này dẫn đến việc cho vay các dự án rủi ro cao, thiếu kiểm soát dòng tiền của khách hàng, và không có biện pháp xử lý kịp thời khi khách hàng gặp khó khăn. Hệ quả là nợ xấu gia tăng, ảnh hưởng đến lợi nhuận và an toàn vốn của ngân hàng. Nguyên nhân từ phía ngân hàng là yếu tố quan trọng tạo ra nợ xấu.

3.2. Chính Sách Cho Vay Lỏng Lẻo và Thiếu Kiểm Soát Sau Giải Ngân

Chính sách cho vay lỏng lẻo, yêu cầu về tài sản đảm bảo thấp, và quy trình thẩm định sơ sài tạo điều kiện cho các khách hàng không đủ năng lực tiếp cận vốn vay. Thiếu kiểm soát sau giải ngân khiến ngân hàng không nắm bắt được tình hình sử dụng vốn của khách hàng, từ đó không có biện pháp can thiệp kịp thời khi có dấu hiệu rủi ro. Điều này làm gia tăng khả năng nợ xấu phát sinh. Một số nghiên cứu có phân tích nguyên nhân dẫn đến đến nợ xấu dựa trên các bảng biểu, số liệu thống kê và đề ra giải pháp xử lý, cá c mô hình nghiên cứu định lƣợng rất hiếm đƣợc thực hiện và công bố trên tạp chí cũng nhƣ trên các kênh thông tin tài chính khác.

IV. Mô Hình Nghiên Cứu Định Lượng Ảnh Hưởng Yếu Tố Đến Nợ Xấu

Để đánh giá chính xác mức độ ảnh hưởng của các yếu tố đến nợ xấu, cần sử dụng các mô hình nghiên cứu định lượng. Các mô hình này cho phép phân tích mối tương quan giữa các biến số như GDP, tăng trưởng tín dụng, tỷ lệ nợ trên vốn, và tỷ lệ nợ xấu. Kết quả nghiên cứu là cơ sở quan trọng để xây dựng các chính sách và giải pháp kiểm soát nợ xấu hiệu quả. Các nghiên cứu trên thế giới đa số thực hiện tại các quốc gia Châu Âu với các nền kinh tế phát triển. Do đó bài nghiên cứu “Ảnh hƣởng của một số yếu tố đến nợ xấu trong hệ thốn g Ngân hàng thƣơng mại Việt Nam” này đóng góp thêm bằng chứng thực nghiệm vào các công trình nghiên cứu các yếu tố ảnh hƣởng đến nợ xấu tại Việt Nam nói riêng, định hƣớng cho việc phát triển các nghiên cứu định lƣợng sau này và thực hiện bổ sung thêm vào h ệ thống các công trình nghiên cứu tại các nền kinh tế đang phát triển.

4.1. Xây Dựng Giả Thuyết Nghiên Cứu và Hệ Thống Biến Quan Sát

Quá trình nghiên cứu bắt đầu bằng việc xây dựng các giả thuyết về mối quan hệ giữa các yếu tố vĩ mô, vi mô và nợ xấu. Sau đó, cần xác định các biến quan sát để đo lường các yếu tố này. Ví dụ, GDP có thể được đo lường bằng tốc độ tăng trưởng GDP, tăng trưởng tín dụng bằng tốc độ tăng trưởng dư nợ tín dụng, và quản trị rủi ro bằng tỷ lệ nợ quá hạn. Việc lựa chọn biến quan sát phù hợp là rất quan trọng để đảm bảo tính chính xác của kết quả nghiên cứu.

4.2. Phương Pháp Hồi Quy và Phân Tích Kết Quả Nghiên Cứu

Phương pháp hồi quy được sử dụng để ước lượng mối quan hệ giữa các biến độc lập (yếu tố vĩ mô, vi mô) và biến phụ thuộc (nợ xấu). Kết quả hồi quy cho biết mức độ ảnh hưởng của từng yếu tố đến nợ xấu, cũng như chiều hướng tác động (tăng hoặc giảm). Phân tích kết quả nghiên cứu giúp xác định các yếu tố quan trọng nhất ảnh hưởng đến nợ xấu, từ đó đề xuất các giải pháp can thiệp phù hợp. Luận văn tham khảo mô hình nghiên cứu, mô hình hồi quy cùng phƣơng pháp ƣớc lƣợng nhằm tìm ra kết quả kiểm định các giả thuyết lý thuyết mà các tác giả đặt ra về các yếu tố tác động đến nợ xấu tại các quốc gia Châu Âu và Châu Á từ thời kỳ năm 1992 đến giai đoạn gần đây năm 2013.

V. Gợi Ý Chính Sách Quản Lý Nợ Xấu Giải Pháp Hiệu Quả

Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần đưa ra các gợi ý chính sách cụ thể để quản lý và kiểm soát nợ xấu hiệu quả. Các chính sách này có thể bao gồm tăng cường giám sát hoạt động tín dụng của ngân hàng, nâng cao năng lực thẩm định dự án, cải thiện hệ thống quản trị rủi ro, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý nợ xấu. Ngân hàng Nhà nước đóng vai trò quan trọng trong việc xây dựng và thực thi các chính sách này. T ừ nghiên c ứu này giúp tác giả đƣa ra những gợi ý về mặt chính sách góp phần nâng cao hiệu quả trong công tác quản lý kiểm soát nợ xấu, nâng cao khả năng dự báo nợ xấu có thể xảy ra trong tƣơng lai, từ đó có những biện pháp dự phòng và xử lý kịp thời.

5.1. Tăng Cường Giám Sát Hoạt Động Tín Dụng Ngân Hàng Giải Pháp

Ngân hàng Nhà nước cần tăng cường giám sát hoạt động tín dụng của các ngân hàng thương mại, đặc biệt là việc tuân thủ các quy định về cho vay, quản lý rủi ro, và phân loại nợ. Các biện pháp giám sát có thể bao gồm kiểm tra định kỳ, thanh tra đột xuất, và yêu cầu báo cáo thường xuyên về tình hình tín dụng và nợ xấu. Điều này giúp phát hiện sớm các dấu hiệu rủi ro và có biện pháp can thiệp kịp thời.

5.2. Nâng Cao Năng Lực Thẩm Định Dự Án và Quản Trị Rủi Ro

Ngân hàng cần nâng cao năng lực thẩm định dự án, đảm bảo rằng các dự án được cho vay có tính khả thi và hiệu quả kinh tế. Cần xây dựng hệ thống quản trị rủi ro tín dụng toàn diện, bao gồm các quy trình đánh giá rủi ro, kiểm soát rủi ro, và xử lý rủi ro. Đào tạo và nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ tín dụng cũng là một yếu tố quan trọng. Kết quả của đề tài cho biết khả năng giải thích của các yếu tố trong mô hình lên tỷ lệ nợ xấu. Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý Ngân hàng lƣợng hóa mức độ rủi ro và chiều hƣớng tác động từ đó có những biện pháp trong kiểm soát nợ xấu.

VI. Kết Luận và Triển Vọng Kiểm Soát Nợ Xấu Ngân Hàng

Nợ xấu là một thách thức lớn đối với hệ thống ngân hàng Việt Nam. Để kiểm soát nợ xấu hiệu quả, cần có sự phối hợp đồng bộ giữa các chính sách vĩ mô, các biện pháp quản trị rủi ro của ngân hàng, và các giải pháp xử lý nợ xấu. Nghiên cứu và phân tích sâu hơn về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu là rất cần thiết để xây dựng các chính sách và giải pháp phù hợp. Trong thời gian gần đây, nợ xấu của các TCTD tăng cao, vấn đề nợ xấu Ngân hàng đang gây đƣợc chú ý, tranh luận và nghiên cứu khá nhiều tại Việt Nam nhằm mục tiêu nhận diện nó và đƣa ra các gợi ý chính sách nhằm cải thiện tình hình.

6.1. Tầm Quan Trọng Của Nghiên Cứu Định Lượng Về Nợ Xấu

Nghiên cứu định lượng về các yếu tố ảnh hưởng đến nợ xấu cung cấp thông tin quan trọng cho việc xây dựng các chính sách và giải pháp kiểm soát nợ xấu hiệu quả. Các nghiên cứu này giúp xác định các yếu tố quan trọng nhất, đo lường mức độ ảnh hưởng của chúng, và dự báo xu hướng nợ xấu trong tương lai. Nghiên cứu định lượng cũng giúp đánh giá hiệu quả của các chính sách và giải pháp hiện hành, từ đó đề xuất các điều chỉnh phù hợp.

6.2. Hướng Nghiên Cứu Tiếp Theo và Đề Xuất Chính Sách

Các nghiên cứu tiếp theo cần tập trung vào việc phân tích sâu hơn các yếu tố vi mô nội tại ngân hàng, như chất lượng quản trị, năng lực thẩm định dự án, và hiệu quả của các biện pháp xử lý nợ xấu. Cần có các nghiên cứu so sánh giữa các ngân hàng khác nhau để xác định các best practices trong quản lý nợ xấu. Dựa trên kết quả nghiên cứu, cần đề xuất các chính sách cụ thể để tăng cường giám sát hoạt động tín dụng, nâng cao năng lực quản trị rủi ro, và tạo điều kiện thuận lợi cho việc xử lý nợ xấu.

23/05/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1 : Tổng quan về nợ xấu và các yếu tố tác động đến nợ xấu trong các Ngân hàng thương mại. Chương 2 : Thực trạng nợ xấu và mô hình nghiên cứu ảnh hưởng của một số yếu tố đến nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam hiện nay. Chương 3 : Kết quả nghiên cứu – Gợi ý chính sách cho việc quản lý kiểm soát nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài nghiên cứu Kết quả của đề tài cho biết khả năng giải thích của các yếu tố trong mô hình lên tỷ lệ nợ xấu.

Đề tài có ý nghĩa quan trọng trong việc giúp các nhà hoạch định chính sách, các nhà quản lý Ngân hàng lƣợng hóa mức độ rủi ro và chiều hƣớng tác động từ đó có những biện pháp trong kiểm soát nợ xấu.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 5 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC YẾU TỐ TÁC ĐỘNG ĐẾN NỢ XẤU TRONG CÁC NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI Trong chƣơng này, luận văn thực hiện một số nội dung liên quan đến các vấn đề tổng quan cơ bản về nợ xấu nhƣ các khái niệm về nợ xấu, phân loại nợ. Bên cạnh đó luận văn đƣa ra các tìm hiểu lý thuyết về nguyên nhân dẫn đến nợ xấu ở mức độ khái quát chung nhất, bao gồm ba nhóm nguyên nhân: Nguyên nhân khách quan, nguyên nhân từ phía Ngân hàng, nguyên nhân từ phía khách hàng vay. Trên cơ sở đó bài luận văn dẫn dắt đến những nghiên cứu thực nghiệm ngoài nƣớc về các nguyên nhân khách quan và nguyên nhân xuất phát bản thân các NHTM, cụ thể là các nghiên cứu định lƣợng về tƣơng quan của các yếu tố tác động đến nợ xấu tại Ngân hàng thƣơng mại. Khái niệm về nợ xấu và phân loại nợ: 1.

Khái niệm về nợ xấu: Xét về thuật ngữ “nợ xấu” sử dụng trên thế giới, tác giả Trần Huy Hoàng (2013) phát biểu rằng các nhà hoạch định chính sách ở các Ngân hàng trung ƣơng, các tổ chức tài chính quốc tế nhƣ IMF, Ngân hàng thế giới và các chuyên gia trong lĩnh vực ngân hàng thƣờng sử dụng thuật ngữ “non-performing loans – NPLs”, trong khi đó các tổ chức ban hành các chuẩn mực kế toán hay sử dụng thuật ngữ “non-accrual loans” hay “impaired loans”. Trong các công trình nghiên cứu về các yếu tố tƣơng quan đến nợ xấu trong hệ thống Ngân hàng mà tác giả đã tổng hợp trong bài luận văn này đều sử dụng thuật ngữ NPLs. Một số định nghĩa nợ xấu theo quan điểm quốc tế và tại Việt Nam nhƣ sau: Khái niệm nợ xấu của nhóm chuyên gia tư vấn AEG của Liên Hợp Quốc: Nhóm chuyên gia tƣ vấn AEG của Liên Hợp Quốc cho rằng định nghĩa về nợ xấu không nên mang tính chất mô tả mà chỉ nên đƣợc sử dụng nhƣ hƣớng dẫn cho (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 6 các ngân hàng. AEG thống nhất định nghĩa nợ xấu nhƣ sau: Là những khoản nợ khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chƣa trả từ 90 ngày trở lên đã đƣợc nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dƣới 90 ngày nhƣng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ đƣợc thanh toán đầy đủ.

Nói cách khác, nợ xấu đƣợc xác định trên 2 yếu tố: quá hạn trên 90 ngày; khả năng trả nợ bị nghi ngờ (Trung tâm thông tin dữ liệu, số 1, 2013). Khái niệm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS): BCBS không đƣa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu. Tuy nhiên, trong các hƣớng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả (a default) khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: Ngân hàng thấy ngƣời vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chƣa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; ngƣời vay đã quá hạn trả nợ 90 ngày. Dựa trên hƣớng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu ngƣời đi vay không trả đƣợc nợ (Đinh Thị Thanh Vân, 2012).

Khái niệm nợ xấu theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS): Chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng sử dụng thuật ngữ “impaired” (các khoản nợ bị giảm giá trị) thay vì sử dụng thuật ngữ “nonperforming” (nợ xấu). Về cơ bản chuẩn mực kế toán quốc tế chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay, tức chủ yếu dựa vào định tính cho dù khoản vay đã quá hạn chƣa tới 90 ngày hoặc chƣa quá hạn. Phƣơng pháp đánh giá khả năng trả nợ của khách hàng thƣờng là phƣơng pháp phân tích dòng tiền tƣơng lai chiết khấu hoặc xếp hạng khoản vay của khách hàng. Hệ thống này đƣợc coi là chính xác về mặt lý thuyết, nhƣng việc áp dụng thực tế gặp nhiều khó khăn.

Vì vậy, nó vẫn đang đƣợc Ủy ban Chuẩn mực kế toán quốc tế chỉnh sửa lại (Đinh Thị Thanh Vân, 2012).nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 7 Khái niệm nợ xấu theo tổ chức tiền tệ thế giới (IMF): Định nghĩa nợ xấu theo IMF đƣợc trích trong Trung tâm thông tin dữ liệu (số 1, năm 2013) nhƣ sau: “một khoản vay đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã đƣợc vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dƣới 90 ngày nhƣng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy ngƣời vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (ngƣời vay phá sản). Sau khi khoản vay đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên đƣợc xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi đƣợc lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi đƣợc khoản vay thay thế”. Từ những định nghĩa trên có thấy đƣợc sự tƣơng đồng trong cách nhận thức về nợ xấu giữa các định chế tài chính trên thế giới. Theo đó, một khoản nợ đƣợc coi là nợ xấu khi quá hạn 90 ngày hoặc hơn 90 ngày khi xét về mặt định lƣợng và/ hoặc có dấu hiệu mất mát hoặc khả năng không trả đƣợc nợ trong tƣơng lai khi xét về mặt định tính.

Khái niệm nợ xấu tại Việt Nam: Theo quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005: Tại Việt Nam, khái niệm “nợ xấu” đƣợc nêu tại điểm 6, điều 2, Quyết định 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/04/2005 của NHNN về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động Ngân hàng của tổ chức tín dụng. Theo đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 bao gồm nợ dƣới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn quy định tại Điều 6 hoặc điều 7 của Quyết định 493 và Quyết định 18/2007/QĐ-NHNN ngày 25/04/2007 của NHNN về sửa đổi bổ sung một số điều trong quyết định 493. Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dƣ nợ là tỷ lệ để đánh giá chất lƣợng tín dụng của tổ chức tín dụng. (Khoản 6, Điều 2) Về cơ bản, nợ xấu theo Điều 6 là những khoản nợ quá hạn từ 91 ngày trở lên; nợ đã cơ cấu lại và khách hàng chƣa trả đủ lãi và gốc.

Tại Điều 7, các khoản nợ đƣợc phân (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 8 loại theo phƣơng pháp định tính và nợ xấu bao gồm các khoản nợ dƣới tiêu chuẩn và đƣợc đánh giá là không có khả năng thu hồi, có khả năng mất vốn. Phạm vi nợ phân loại: Theo Quyết định 493 và Quyết định 18, nợ đƣợc phân loại chỉ bao gồm hoạt động tín dụng thuần túy (Các khoản cho vay, ứng trƣớc, thấu chi và cho thuê tài chính; Các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thƣơng phiếu và giấy tờ có giá khác; Các khoản bao thanh toán). Theo thông tƣ 02/2013/TT-NHNN ngày 21/01/2013 ban hành thay thế quyết định 493 và quyết định 18 đã nêu trên, hiệu lực thi hành từ ngày 1/6/2014: Quy định tại điểm 8 điều 3 thông tƣ 02, nợ xấu (NPLs) vẫn là nợ thuộc các nhóm 3, 4 và 5. Thông tƣ 02 mới đƣợc ban hành so với Quyết định 493 có nhiều điểm tiến bộ.

Trong đó có 2 điểm thay đổi lớn là về phạm vi xác định, phân loại nợ và phƣơng pháp xác định, phân loại nợ. Về phạm vi xác định, so với hiện nay thì quy định mới đã bổ sung thêm phần đầu tƣ vào trái phiếu doanh nghiệp, cho vay liên Ngân hàng, ủy thác cấp tín dụng, các khoản cấp tín dụng dƣới hình thức phát hành thẻ. Về mặt phƣơng pháp phân loại nợ, với thông tƣ 02, các TCTD phải sử dụng đồng thời, thống nhất cả định tính và định lƣợng. Nhƣ vậy có thể thống nhất cách phân loại nợ giữa các TCTD.

Khi xem xét định nghĩa nợ xấu của các ngân hàng Việt Nam và thông lệ quốc tế có thể thấy mặt định lƣợng thời gian trả nợ quá hạn từ 91 ngày trong định nghĩa nợ xấu của Việt Nam và thông lệ quốc tế là khá tƣơng đồng. Dù phân loại theo phƣơng pháp định tính hay định lƣợng các khoản nợ từ nhóm 3 tới nhóm 5 đƣợc xếp hạng vào danh mục nợ xấu của ngân hàng. Phân loại nợ: 1. Phân loại nợ theo quan điểm quốc tế: Theo nghiên cứu của tác giả Đinh Thị Thanh Vân (2012), phân loại nợ xấu đƣợc hiểu là quá trình m à các ngân hàng xem xét các danh mục cho vay và đƣa khoản vay vào các nhóm khác nhau dựa trên m ứ c đ ộ rủi ro về khả năng hoàn (LUAN.nay TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.nay 9 trả hay xác suất xảy ra thất thoát khi cho vay.

Việc thƣờng xuyên xem xét và phân loại nợ giúp các ngân hàng có thể kiểm soát chất lƣợng danh mục cho vay và trong trƣờng hợp cần thiết, Ngân hàng có thể kịp thời có các biện pháp xử lý nhằm giảm mức tối thiểu thất thoát từ việc không thu hồi đƣợc nợ, đáp ứng mục tiêu giải quyết các vấn đề phát sinh làm giảm chất lƣợng tín dụng tại danh mục cho vay. Thông thƣờng, các ngân hàng sử dụng hệ thống phân loại nội bộ, hệ thống phân loại quy định bởi các nhà quản lý Ngân hàng và chủ yếu phục vụ mục tiêu báo cáo, so sánh và giám sát đối với các cơ quan thanh tra giám sát.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu "Ảnh Hưởng Của Các Yếu Tố Đến Nợ Xấu Trong Ngân Hàng Thương Mại Việt Nam" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố tác động đến nợ xấu trong hệ thống ngân hàng thương mại tại Việt Nam. Tác giả phân tích các nguyên nhân chính dẫn đến nợ xấu, từ đó đưa ra những giải pháp khả thi nhằm giảm thiểu rủi ro này. Độc giả sẽ nhận được những thông tin hữu ích về cách thức quản lý nợ xấu, cũng như các biện pháp cải thiện hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Để mở rộng kiến thức về quản lý rủi ro trong ngân hàng, bạn có thể tham khảo thêm tài liệu Luận văn thạc sĩ tài chính ngân hàng nhân tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng tại các ngân hàng thương mại việt nam, nơi phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến rủi ro tín dụng. Ngoài ra, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản lý rủi ro ngân hàng thương mại cổ phần trên địa bàn thành phố việt trì tỉnh phú thọ sẽ giúp bạn hiểu rõ hơn về các phương pháp quản lý rủi ro trong ngân hàng. Cuối cùng, tài liệu Luận văn thạc sĩ quản trị kinh doanh hạn chế rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp tại ngân hàng tmcp quân đội chi nhánh đà nẵng cung cấp những giải pháp cụ thể để giảm thiểu rủi ro tín dụng trong cho vay doanh nghiệp. Những tài liệu này sẽ là nguồn tài nguyên quý giá cho những ai muốn tìm hiểu sâu hơn về lĩnh vực ngân hàng và quản lý rủi ro.