CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ QUẢN LÝ NỢ VÀ XỬ LÝ NỢ XẤU CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nợ xấu trong hoạt động của các ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về nợ cho vay và nợ xấu 1. Khái niệm về nợ cho vay Nợ cho vay của NHTM là khoản tiền NHTM sử dụng cho vay khách hàng trong một khoảng thời gian xác định với một lãi suất xác định hoặc thỏa thuận được quy định trong hợp đồng cho vay với nguyên tắc hoàn trả.
Khái niệm về nợ xấu Trong hoạt động tín dụng của NHTM, khoản nợ mà khách hàng không trả được khi đến hạn thỏa thuận ghi trên hợp đồng tín dụng thì phát sinh chuyển nợ quá hạn. Theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005, nợ quá hạn là bao gồm một phần hoặc toàn bộ nợ gốc và/ hoặc lãi đã quá hạn. Nợ quá hạn là tiền đề của một khoản nợ xấu. Hiện nay trên thế giới tùy theo từng quốc gia và tổ chức có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu, như sau: a.
Theo quan điểm quốc tế: - Phòng Thống kê – Liên hợp quốc cho rằng: “Về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc trả chậm theo thoả thuận, hoặc các khoản phải thanh toán quá hạn 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản cho vay được thanh toán đầy đủ. Nợ xấu về cơ bản được xác định dựa trên 02 yếu tố: (i) quá hạn trên 90 ngày; (ii) khả năng trả nợ nghi ngờ. Đây là định nghĩa được áp dụng phổ biến ở nhiều nước trên thế giới. 5 - Tổ chức Investopedia cho rằng: “Nợ xấu là những khoản nợ quá hạn hoặc có khả năng quá hạn, rất nhiều các khoản nợ đã trở thành nợ xấu sau thời gian quá hạn 03 tháng, tuy nhiên việc này tuỳ thuộc vào các điều khoản của hợp đồng”.
Khoản nợ trở thành quá hạn khi: (i) “Không thể trả lãi hoặc gốc ngay khi đến hạn” hoặc (ii) “Không thực hiện được hợp đồng tương lai theo hợp đồng gốc. Theo quan điểm của Việt Nam: Ở Việt Nam, trước năm 2000 chưa có quy định cụ thể, thống nhất về nợ xấu mà chỉ có các quy định về nợ quá hạn, nợ khó đòi bao gồm: nợ quá hạn dưới 90 ngày, nợ quá hạn từ 90 ngày đến 180 ngày, nợ quá hạn từ 180 ngày đến 360 ngày, nợ quá hạn trên 360 ngày thì được coi là nợ khó đòi. Ngày 5/10/2001, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 149/2001/QĐ-TTg về việc phê duyệt đề án xử lý nợ tồn đọng của các NHTM, tạo cơ sở pháp lý cho hoạt động phân loại nợ và xử lý nợ tồn đọng phát sinh trước thời điểm 31/12/2000. Theo đó việc phân loại các khoản nợ tồn đọng không căn cứ vào thời gian quá hạn mà căn cứ vào tính chất và khả năng thu hồi nợ thông qua các biện pháp bảo đảm tiền vay và tình trạng pháp lý của khách hàng để phân loại theo 03 nhóm nợ với cơ chế xử lý khác nhau gồm: Nhóm 1: Nợ tồn đọng có tài sản bảo đảm; Nhóm 2: Nợ tồn đọng không có tài sản bảo đảm và không còn đối tượng để thu hồi; Nhóm 3: Nợ tồn đọng không có tài sản bảo đảm nhưng khách hàng vay vẫn còn tồn tại, hoạt động.
Đến ngày 22/4/2005, Thống đốc NHNN ban hành Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN về việc Quy định về phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD, đồng thời ngày 25/4/2007 NHNN ban hành Quyết định số 18/2007/QĐ-NHNN về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy Quy định về phân loại nợ, trích lập 6 và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của TCTD ban hành kèm theo Quyết định số 493/2005/QĐ-NHNN ngày 22/4/2005. Việc phân loại nợ của các TCTD đã bước đầu bám sát thông lệ quốc tế, phân loại nợ được căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản vay và thực trạng của khách hàng vay vốn, theo đó được phân thành 5 nhóm và nợ thuộc nhóm 3, 4, 5 được coi là nợ xấu: Nhóm 1: Nợ đủ tiêu chuẩn; Nhóm 2: Nợ cần chú ý; Nhóm 3: Nợ dưới tiêu chuẩn; Nhóm 4: Nợ nghi ngờ; Nhóm 5: Nợ có khả năng mất vốn. Mặc dù có nhiều khái niệm khác nhau về nợ xấu, nhưng các khái niệm này có nhiều điểm chung là một khoản nợ mà người cho vay có bất cứ một lý do nào lo ngại hơn mức bình thường về khả năng trả nợ của khách hàng vay. Phân loại nợ Việc xác định một khoản nợ xấu thông thường được các NHTM đánh giá, phân tích trên cơ sở hai tiêu chí chủ yếu là: tiêu chí định lượng và tiêu chí định tính.
Tiêu chí định lượng: Là tiêu chí được các NHTM sử dụng để phân tích, đánh giá khoản cho vay dựa trên cơ sở thời gian quá hạn của khoản cho vay đó. Nói cách khác, các NHTM căn cứ vào thời gian quá hạn của khoản cho vay để đánh giá chất lượng khoản cho vay và xếp hạng tín dụng. Theo thông lệ quốc tế, nếu áp dụng phương pháp này, các khoản nợ được xếp vào một trong năm nhóm sau: - Nhóm 1 – nợ đủ tiêu chuẩn, nợ tốt: Đây là các khoản nợ được các NHTM đánh giá là có đủ khả năng thu hồi đầy đủ cả gốc và lãi với đúng như thời hạn đã cam kết trong hợp đồng tín dụng. Các khoản tín dụng do NHTM cung cấp cho khách hàng không có dấu hiệu nào thể hiện việc vi phạm hợp 7 đồng tín dụng đã ký kết.
Tuy nhiên, các khoản nợ này có thể trở thành nợ xấu khi xuất hiện các dấu hiệu rủi ro trong thời gian khi chưa đến thời hạn trả nợ. Đối với các khoản nợ này, thông thường các NHTM cho vay thường trích dự phòng rủi ro 0% tính trên dư nợ cho vay. - Nhóm 2 – Nợ cần chú ý: Đây là các khoản nợ có thời gian quá hạn từ 10 ngày đến 90 ngày, các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ với thời gian ngắn, có khả năng gây ra những tổn thất về tài chính đối với các NHTM cho vay. Đối với các khoản nợ này, thông thường các NHTM cho vay thường trích dự phòng rủi ro khoảng 5% tính trên dư nợ cho vay.
- Nhóm 3 – Nợ dưới tiêu chuẩn: Đây là các khoản nợ có thời gian quá hạn từ 91 ngày đến dưới 180 ngày, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu, nhiều khả năng gây ra những tổn thất về tài chính đối với các NHTM cho vay, các khoản nợ được miễn hoặc giảm lãi do khách hàng không đủ khả năng trả lãi đầy đủ theo hợp đồng tín dụng. Đối với các khoản nợ này, thông thường các NHTM cho vay thường trích dự phòng rủi ro khoảng 20% tính trên dư nợ cho vay. - Nhóm 4 – Nợ nghi ngờ: Đây là các khoản nợ dưới tiêu chuẩn có thời gian quá hạn từ 181 ngày đến dưới 360 ngày, các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn dưới 90 ngày theo thời gian trả nợ được cơ cấu lại lần đầu, khả năng khách hàng không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ là tương đối rõ ràng. Đối với các khoản nợ này, thông thường các NHTM cho vay thường trích dự phòng rủi ro khoảng 50% tính trên dư nợ cho vay.
- Nhóm 5 – Nợ có khả năng mất vốn: Đây là các khoản nợ có thời gian quá hạn trên 360 ngày, các khoản nợ đã được cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần đầu quá hạn từ 90 ngày trở lên theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lần đầu, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần 2 quá hạn theo thời hạn trả nợ được cơ cấu lại lần 2, các khoản nợ cơ cấu lại thời hạn trả nợ lần 3 trở lên, khách hàng chắc chắn không hoàn thành nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng. Đối với các 8 khoản nợ này, thông thường các NHTM cho vay thường trích dự phòng rủi ro là 100% tính trên dư nợ cho vay. Theo tiêu chí định lượng, các khoản nợ được xếp vào nhóm 3, 4 và 5 được xác định là các khoản nợ xấu. Tiêu chí định tính: Là tiêu chí được việc các NHTM sử dụng để phân tích, đánh giá khoản nợ dựa trên cơ sở khả năng trả nợ của khách hàng một cách toàn diện.
Nói cách khác, các NHTM căn cứ vào khả năng trả nợ của khách hàng để đánh giá chất lượng khoản vay của khách hàng và xếp hạng tín dụng. Theo thông lệ quốc tế, khả năng trả nợ của khách hàng thường được đánh giá trên các khía cạnh sau: - Mục tiêu hoạt động và quá trình hoạt động kinh doanh của khách hàng. - Thị trường và marketing: gồm các nội dung như khách hàng, đối thủ cạnh tranh, đặc điểm thị trường, đặc điểm của sản phẩm, dịch vụ, marketing và các cơ hội thị trường. - Kế hoạch tương lai: gồm mục tiêu định lượng, phát triển sản phẩm, dịch vụ, phát triển thị trường và marketing, nguồn cung cấp nguyên nhiên vật liệu và phát triển hệ thống thu mua, phát triển cơ sở kinh doanh, thay đổi cơ cấu tổ chức, phát triển nguồn nhân lực, rủi ro và các yếu tố giảm thiểu rủi ro.
- Phân tích tài chính: Đây là một nội dung hết sức quan trọng trong việc đánh giá tiềm lực và khả năng tài chính hay “sức khoẻ” của khách hàng. Trong phân tích tài chính cần xác định rõ doanh số và các chi phí hoạt động biến động, chi phí hoạt động cố định, vốn lưu động, nguồn khấu hao và các chỉ số tài chính chủ yếu như: + Chỉ số thanh toán hiện hành (tài sản lưu động/công nợ ngắn hạn). + Vòng quay các khoản phải thu (Doanh thu bán chịu/bình quân doanh thu ngày). 9 + Vòng quay hàng tồn kho (tổng giá trị hàng tồn kho/chi phí bán hàng bình quân ngày).
+ Lợi nhuận gộp/doanh thu. + Lợi nhuận ròng/doanh thu. + Thu nhập trên vốn chủ sở hữu (lợi nhuận ròng/vốn chủ sở hữu). + Thu nhập trên tài sản có (lợi nhuận ròng/tổng tài sản có).
+ Nợ trên vốn chủ sở hữu (các khoản nợ/vốn chủ sở hữu). + Khả năng thanh toán nợ: (lợi nhuận hoạt động+tiền lãi+khấu hao)/ (tiền lãi+chi phí tài chính+hoàn trả nợ gốc).