phần mở đầu, kết luận, mục lục và tài liệu tham khảo, luận văn được kết cấu thành 3 chương: Chƣơng 1: Tổng quan về ngân hàng thương mại và những vấn đề cơ bản về hiệu quả công tác xử lý nợ có vấn đề. Chƣơng 2: Thực trạng hiệu quả công tác xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh. Chƣơng 3: Một số giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả công tác xử lý nợ có vấn đề tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam - Chi nhánh Quảng Ninh. 2 CHƢƠNG 1 TỔNG QUAN VỀ NGÂN HÀNG THƢƠNG MẠI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ HIỆU QUẢ CÔNG TÁC XỬ LÝ NỢ CÓ VẤN ĐỀ 1.1 Tổng quan về Ngân hàng thƣơng mại 1.1 Khái niệm Để đưa ra khái niệm về Ngân hàng thương mại (NHTM), mỗi quốc gia lại có cách quy định riêng của mình.
Ví dụ luật Ngân hàng Pháp, năm 1941 quy định: NHTM là những xí nghiệp hay cơ sở thường xuyên nhận tiền của công chúng dưới hình thức ký thác hay hình thức khác. Số tiền này được dùng cho chính họ vào nghiệp vụ chiết khấu, tín dụng hoặc là dịch vụ tài chính. Hay như luật ngân hàng của Ấn Độ được bổ sung năm 1950 có nêu: "Ngân hàng là cơ sở nhận các khoản tiền ký thác để cho vay hay tài trợ, đầu tư". Luật Ngân hàng Mỹ quy định: NHTM là một công ty kinh doanh chuyên cung cấp dịch vụ tài chính và hoạt động dịch vụ khác trong ngành tài chính.
Ở Việt Nam theo pháp lệnh Ngân hàng 1990 quy định: "NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ mà hoạt động chủ yếu của nó là thường xuyên nhận tiền gửi từ khách hàng với trách nhiệm hoàn trả và sử dụng số tiền đó để cho vay thực hiện nghiệp vụ chiết khấu và làm phương tiện thanh toán". Theo định nghĩa ở Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 (Luật số: 47/2010/QH12) thì: "NHTM là loại hình ngân hàng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận". Khái niệm trên cho thấy về cơ bản NHTM có tính chất hoạt động tương tự như nhiều loại hình tổ chức tài chính khác nhau với tư cách là những trung gian tài chính. Điểm phân biệt quan trọng giữa NHTM với các loại hình trung gian tài chính phi Ngân hàng hoặc các Ngân hàng đầu tư ở chỗ NHTM là trung gian tài chính được Nhà Nước cho phép chuyên cung ứng các dịch vụ Ngân hàng cho nền kinh tế như: Nhận tiền gửi, cấp tín dụng, cung ứng các dịch vụ thanh toán và một số hoạt động Ngân hàng khác có liên quan.
Sự phân biệt giữa NHTM với các tổ chức tài chính khác còn thể hiện ở mức độ tham gia của mỗi loại hình trên một số thị trường tài chính khác. 3 Mặc dù có nhiều cách thể hiện khác nhau nhưng có thể thấy ba đặc điểm chính trong các khái niệm đó là: NHTM là một doanh nghiệp; hoạt động nhận tiền ký thác, tiền gửi không kỳ hạn và có kỳ hạn để sử dụng vào các nghiệp vụ cho vay, chiết khấu và làm dịch vụ thanh toán. Ngày nay, trong thế giới hiện đại, hoạt động của các tổ chức tài chính là môi giới tài chính ngày càng phong phú và phát triển cả về số lượng lẫn quy mô. Vì vậy đặc trưng cơ bản để phân biệt NHTM với các tổ chức trung gian tài chính khác là hoạt động vì mục đích lợi nhuận thông qua việc kinh doanh tiền gửi, chủ yếu là tiền gửi không kỳ hạn.2 Vai trò của NHTM trong nền kinh tế Ngân hàng là nơi tập trung tiền nhàn rỗi và cung cấp vốn cho quá trình sản xuất kinh doanh Khi có tiền nhàn rỗi hoặc tích luỹ (do người dân không có khả năng đầu tư tiền để sinh lời) thì họ thường gửi vào Ngân hàng bởi Ngân hàng không chỉ đảm bảo cho các khoản tiền gửi và cung cấp cho khách hàng các dịch vụ thanh toán tiện lợi mà người gửi tiền còn thu được lợi từ vốn tạm thời nhàn rỗi của mình thông qua khoản lãi tiền gửi.
Hay nói cách khác Ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi và tiền tích luỹ dưới dạng tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn, không kỳ hạn, kỳ phiếu, trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi. Ngược lại khi thiếu vốn kinh doanh thì nơi mà các doanh nghiệp tìm đến cũng là Ngân hàng. Bởi doanh nghiệp sẽ tránh được tình trạng thông tin không cân xứng và có đủ nguồn vốn cần thiết cho quá trình sản xuất của mình. Như vậy NHTM là nơi cung ứng vốn cho quá trình tái sản xuất mở rộng của các doanh nghiệp.
Ngân hàng là cầu nối giữa các doanh nghiệp với thị trường Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp phải chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật khách quan như: Quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh.để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu của thị trường nâng cao chất lượng sản phẩm, mở rộng thị phần kinh doanh. doanh nghiệp cần phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, mở rộng nhà xưởng, đào tạo công nhân.mà những 4 hoạt động này đòi hỏi phải có khối lượng lớn vốn đầu tư. Nếu doanh nghiệp tự đi vay thì phải đi vay nhiều chỗ mới có đủ số vốn cần thiết. Hơn nữa chi phí cho mỗi lần vay lại cao.
Do đó để giải quyết khó khăn này doanh nghiệp có thể tìm đến Ngân hàng xin vay vốn nhằm thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Nguồn vốn mà Ngân hàng cung ứng sẽ tạo điều kiện cho doanh nghiệp trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, tạo thế đứng cho doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt. Như vậy, thông qua hoạt động tín dụng, Ngân hàng là chiếc cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường. Ngân hàng thương mại nhà nước là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế.
Trong sự vận hành của nền kinh tế thị trường, NHTM hoạt động một cách có hiệu quả thông qua các nghiệp vụ kinh doanh của mình sẽ thực sự là một công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế. Nhà nước điều tiết hoạt động của các NHTM thông qua những công cụ điều hành chính sách tiền tệ như công cụ lãi suất, công cụ dự trữ bắt buộc. mà làm tăng hay giảm việc tăng trưởng tín dụng, tăng lượng tiền cung ứng vào lưu thông khi cần điều tiết nền kinh tế vĩ mô. Ngân hàng thương mại góp phần thu hút vốn, mở rộng đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế.
Vốn đầu tư là tiền tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh, là tiền tiết kiệm của dân chúng và là vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào trong quá trình sản xuất kinh doanh nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực mới. Vốn đầu tư bao gồm vốn đầu tư trong nước và vốn đầu tư nước ngoài. Khi NHTM làm trung gian tài chính, Ngân hàng gom vốn của những người tiết kiệm để cho các nhà đầu tư vay vì các khoản tiết kiệm thường nhỏ lẻ mà nhu cầu vốn để thực hiện đầu tư lại cao. Như vậy các nhà đầu tư hoàn toàn có đủ vốn để tiến hành đầu tư tại thị trường tiềm năng đối với họ.
Hay đối với các dự án lớn của Chính phủ, Ngân hàng được sự uỷ quyền của Chính phủ có thể vay tiền của Chính phủ các nước về tài trợ cho các dự án đầu tư. Ngân hàng được Chính phủ uỷ quyền cho sử dụng nguồn vốn ODA để cho vay đối 5 với các dự án nằm trong kế hoạch, hoặc Ngân hàng có thể thực hiện bảo lãnh phát hành chứng khoán cho các công ty khi phát hành chứng khoán ra nước ngoài.2 Tín dụng và đặc trƣng của tín dụng 1.1 Khái niệm Khái niệm tín dụng đã xuất hiện từ rất lâu, nó xuất phát từ gốc la tinh CREDITUM có nghĩa là sự tin tưởng, tín nhiệm hay chính là lòng tin. Theo cách biểu hiện này thì tín dụng là quan hệ vay vốn lẫn nhau dựa trên sự tin tưởng số vốn đó sẽ được hoàn trả vào một thời điểm xác định trong tương lai. Mác cho rằng : "Tín dụng là quá trình chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị từ người sở hữu đến người sử dụng, sau một thời gian nhất định thu hồi một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu" (Giáo trình Kinh tế chính trị, Trường Đại học Kinh tế Quốc Dân, 2007, trang 134) Theo QĐ số 1627/2001/QĐ – NHNN của Thống đốc NHNN về việc ban hành Quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng có nêu : “ Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Theo tác giả Phạm Thị Thu Hà (2006, trang 33):”Ngưòi cho vay chuyển giao quyền sử dụng vốn tạm thời nhàn rỗi của mình sang người vay theo nguyên tắc có hoàn trả dựa trên cơ sở sự tin tưởng, sự tín nhiệm. Nếu có thể coi khoản tiền cho vay là một loại “tài sản” đặc biệt thì tài sản này khi cho vay vẫn thuộc quyền sở hữu hợp pháp của người cho vay, thực ra nó chỉ chuyển giaol cho người khác sử dụng trong một thời gian nhất định với giá cả nhất định. Sau đó, “tài sản” này được trả về cho chủ sở hữu đích thực của nó - đó là người cho vay “. Tại Khoản 14 Điều 4 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 có nêu rõ: “Cấp tín dụng là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác”.
Có thể hiểu tổng quát về khái niệm tín dụng : Tín dụng là quan hệ chuyển 6 nhượng tạm thời một lượng giá trị (dưới hình thái tiền tệ hay hiện vật) từ người sở hữu sang người sử dụng sau một thời gian nhất định thu hồi về một lượng giá trị lớn hơn lượng giá trị ban đầu. Mối quan hệ tín dụng bao gồm 2 mặt cơ bản là quan hệ cho vay và quan hệ hoàn trả được thể hiện như sau : (1)- Người vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định.