CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ NỢ XẤU VÀ CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN NỢ XẤU CỦA NHTM 1. Tổng quan về nợ xấu 1. Khái niệm về nợ xấu Với mỗi tổ chức, quốc gia khác nhau thì thuật ngữ nợ xấu sẽ được định nghĩa khác nhau. Nợ xấu được sử dụng phổ biến trên thế giới với các từ như “Non- performing loans” (NPL), “bad debt”, “doubtful debt”, được hiểu là các khoản nợ dưới chuẩn, có thể quá hạn và bị nghi ngờ về khả năng trả nợ lẫn khả năng thu hồi vốn của chủ nợ, điều này thường xảy ra khi khách hàng vay đã tuyên bố phá sản hoặc đã tẩu tán tài sản.
Hiện tại không có một quy tắc hay chuẩn mực thống nhất khi thảo luận về khái niệm nợ xấu. Quan điểm nợ xấu của Qũy tiền tệ quốc tế (IMF) IMF đưa ra như sau: “Một khoản vay được coi là nợ xấu khi quá hạn thanh toán gốc hoặc lãi 90 ngày hoặc hơn; khi các khoản lãi suất đã quá hạn 90 ngày hoặc hơn đã được vốn hóa, cơ cấu lại, hoặc trì hoãn theo thỏa thuận; khi các khoản thanh toán đến hạn dưới 90 ngày nhưng có thể nhận thấy những dấu hiệu rõ ràng cho thấy người vay sẽ không thể hoàn trả nợ đầy đủ (người vay phá sản). Sau khi khoản vay được xếp vào danh mục nợ xấu, nó hoặc bất cứ khoản vay thay thế nào cũng nên được xếp vào danh mục nợ xấu cho tới thời điểm phải xóa nợ hoặc thu hồi được lãi và gốc của khoản vay đó hoặc thu hồi được khoản vay thay thế”. Quan điểm nợ xấu của Ủy ban Basel về Giám sát Ngân hàng (BCBS) BCBS không đưa ra định nghĩa cụ thể về nợ xấu.
Tuy nhiên, trong các hướng dẫn về các thông lệ chung tại nhiều quốc gia về quản lý rủi ro tín dụng, BCBS xác định, việc khoản nợ bị coi là không có khả năng hoàn trả khi một trong hai hoặc cả hai điều kiện sau xảy ra: ngân hàng thấy người vay không có khả năng trả nợ đầy đủ khi ngân hàng chưa thực hiện hành động gì để cố gắng thu hồi; người vay đã quá hạn trả nợ quá 90 ngày. Dựa trên hướng dẫn này, nợ xấu sẽ bao gồm toàn bộ các khoản cho vay đã quá hạn 90 ngày và có dấu hiệu người đi vay không trả được nợ. Quan điểm của nhóm chuyên gia tư vấn Advisory Expert Group (AEG) AEG thống nhất định nghĩa như sau: “Một khoản nợ được coi là nợ xấu khi 4 quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thỏa thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ” Quan điểm nợ xấu của Chuẩn mực Kế toán quốc tế (IAS) Chuẩn mực Kế toán quốc tế về ngân hàng thường đề cập các khoản nợ bị giảm giá trị (Impaired) thay vì sử dụng thuật ngữ nợ xấu (nonperforming). Về cơ bản IAS39 chú trọng tới khả năng hoàn trả của khoản vay bất luận thời gian quá hạn chưa tới 90 ngày hoặc chưa quá hạn.
Quan điểm nợ xấu tại Việt Nam Tại Việt Nam, nợ ngân hàng bao gồm các khoản cho vay, ứng trước, thấu chi và cho thuê tài chính; các khoản chiết khấu, tái chiết khấu thương phiếu và giấy tờ có giá khác; các khoản bao thanh toán; các hình thức tín dụng khác. Trong đó, nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3, 4, 5 bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ có khả năng mất vốn quy định trong văn bản hợp nhất 01/VBHN-NHNN (2014). Hậu quả của nợ xấu 1. Hậu quả của nợ xấu đến hoạt động của NHTM Nợ xấu là dấu hiệu của chất lượng cho vay kém, hiệu quả hoạt động tín dụng thấp, đe dọa khả năng thanh khoản, hạn chế phát triển hoạt động tín dụng, làm giảm uy tín của ngân hàng, là nguyên nhân rủi ro lãi suất; làm giảm thu nhập của ngân hàng; nếu nguồn bù đắp rủi ro không đủ, nợ xấu sẽ ăn vào vốn tự có của ngân hàng… cuối cùng nợ xấu là nhân tố giảm năng lực cạnh tranh của ngân hàng.
Nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng thanh khoản của NHTM Hoạt động chủ yếu của ngân hàng là huy động vốn và tín dụng, ngân hàng trả lãi suất huy động cho người gửi và thu lãi từ hoạt động cho vay. Nếu hoạt động tín dụng gặp phải vấn đề về nợ xấu, ngân hàng không thu được vốn tín dụng đã cấp và lãi cho vay, nhưng ngân hàng phải trả vốn và lãi cho khoản tiền huy động khi đến hạn, điều này dẫn đến ngân hàng mất khả năng thanh khoản. trong khi ngân hàng vẫn phải chi trả gốc và lãi cho người gửi đúng hạn. Từ đó gây ra sự mất cân đối dẫn đến tình trạng thiếu hụt thanh khoản cho các ngân hàng.
5 Phòng Thống kê - Liên Hiệp Quốc cho rằng về cơ bản một khoản nợ được coi là nợ xấu khi quá hạn trả lãi và/hoặc gốc trên 90 ngày; hoặc các khoản lãi chưa trả từ 90 ngày trở lên đã được nhập gốc, tái cấp vốn hoặc chậm trả theo thoả thuận; hoặc các khoản phải thanh toán đã quá hạn dưới 90 ngày nhưng có lý do chắc chắn để nghi ngờ về khả năng khoản vay sẽ được thanh toán đầy đủ. Như vậy, nợ xấu có ảnh hưởng không nhỏ tới các chủ nợ cũng như ngân hàng, khiến cho cả 2 đều có nguy cơ mất vốn. Vì vậy, các nghiên cứu trước của các tác giả Lucchetta (200 ); Iqbal (2012); Vong và Chan (2009) đều cho thấy mối tương quan âm giữa tỷ lệ nợ xấu và khả năng thanh khoản của các ngân hàng. Tuy nhiên, nghiên cứu của Vodová (2011) cho rằng có mối quan hệ đồng biến giữa nợ xấu và khả năng thanh khoản, cũng có nghĩa là khi phát sinh nợ xấu thì các ngân hàng mới thực sự quan tâm đến việc trung hòa nó bằng các tài sản thanh khoản.
Nợ xấu ảnh hưởng đến khả năng sinh lời của NHTM Kể từ khi các khoản tín dụng được giải ngân thì nợ xấu cũng xuất hiện với một độ trễ tùy vào chất lượng tín dụng. Trong khi đó, hoạt động tín dụng là hoạt động chiếm chủ yếu trong tổng tài sản của NHTM, thu nhập từ lãi thuần (lãi vay là các thu nhập khác tương tự) chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng thu nhập của các NHTM mặc dù các NHTM đã tích cực mở rộng các loại dịch vụ tài chính ngân hàng để tang cùng thu nhập từ hoạt động dịch vụ. Nợ xấu tăng làm cho các ngân hàng phát sinh thêm chi phí trích lập dự phòng, chi phí quản lý và xử lý nợ xấu làm chi phí hoạt động tăng, lợi nhuận bị giảm. Do vậy, nợ xấu cao trong NHTM ảnh hưởng trực tiếp và có tác động mạnh đến khả năng sinh lời của NHTM.
Theo tác giả Fofack (2005) nợ xấu có mối quan hệ ngược chiều với khả năng sinh lời của NHTM, khi nợ xấu càng tăng thì sẽ càng làm giảm khả năng sinh lời của các NHTM đối với NHTM tại Việt Nam có quy mô càng lớn thì tỷ lệ nợ xấu sẽ có xu hướng giảm bớt. Các nghiên cứu của Ayanda và cộng sự (2013), Osuagwu (2014) cũng cho kết quả yếu tố nợ xấu có tác động nghịch với khả năng sinh lời. Ảnh hưởng đến uy tín của ngân hàng Khi một ngân hàng có mức độ rủi ro của các tài sản có cao thì ngân hàng đó thường đứng trước nguy cơ mất uy tín của mình trên thị trường. Không một ai 6 muốn gửi tiền vào một ngân hàng mà ngân hàng đó có tỷ lệ nợ quá hạn, nợ xấu vượt quá mức cho phép, có chất lượng tín dụng không tốt và gây ra nhiều vụ thất thoát lớn.
Thông tin về việc một ngân hàng có mức độ rủi ro cao thường được báo chí nêu lên và lan truyền trong dân chúng, điều này sẽ khiến cho uy tín của ngân hàng trên thị trường bị giảm mạnh gây nên sự bất lợi trong hoạt động cạnh tranh với các ngân hàng khác. Nợ xấu ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng Cạnh tranh của một ngân hàng là khả năng ngân hàng đó tạo ra, duy trì và phát triển những lợi thế nhằm mở rộng thị phần; bảo đảm an toàn trong hoạt động kinh doanh, có khả năng chống đỡ những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh, bảo đảm mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng trưởng. Tác động của nợ xấu đến năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại là khá lớn làm giảm khả năng sinh lời của vốn và tài sản, giảm tỷ lệ an toàn vốn, kìm chế quy mô tín dụng, hạn chế mở rộng kênh phân phối, suy giảm năng lực nhân sự, … Nợ xấu có thể gây khủng hoảng và có nguy cơ phá sản Khi một ngân hàng bị rủi ro tín dụng lớn, sẽ ảnh hưởng đến người gửi tiền làm cho người gửi tiền hoang mang, lo sợ và kéo nhau đến rút tiền, không những ở ngân hàng bị sự cố mà còn ở những ngân hàng khác, làm cho toàn bộ hệ thống ngân hàng gặp khó khăn trong thanh khoản, nếu tình trạng này kéo dài dẫn đến hệ thống ngân hàng bị phá sản, gây hậu quả xấu cho nền kinh tế. Hậu quả của nợ xấu đến nền kinh tế Nợ xấu có tác động tiêu cực không chỉ đối với các NHTM mà còn đối với nền kinh tế.
Ngân hàng là trung gian tài chính - huy động vốn từ các chủ thể có vốn tạm thời nhàn rỗi và cung cấp vốn cho các chủ thể cần vốn; thông qua đó sự an toàn trong hoạt động của ngân hàng tác động tích cực đến phát triển nền kinh tế. Nợ xấu tác động đến sự phát triển nền kinh tế Nợ xấu cao làm chậm quá trình luân chuyển vốn của nền kinh tế và tác động tiêu cực đến sản xuất, lưu thông hàng hóa. Với nền kinh tế tăng trưởng sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động sản xuất kinh doanh nói chung hay tạo môi trường hoạt động thuận lợi cho các khách hàng vay vốn, từ đó năng lực trả nợ sẽ tốt hơn, làm giảm tỷ lệ nợ xấu. 7 Nợ xấu ngân hàng sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến nền kinh tế trên phương diện hạn chế khả năng khách hàng tiếp cận vốn vay của ngân hàng vì lý do lãi suất và điều kiện vay vốn.