Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu
Trong hệ thống kinh tế Việt Nam, ngân hàng thương mại (NHTM) giữ vị trí trung gian tài chính chủ lực, là kênh cung cấp nguồn vốn cơ bản phục vụ các mục tiêu phát triển và chiếm khoảng 50% GDP trong suốt hơn hai thập kỷ. Sự gia tăng quy mô tín dụng đặt các tổ chức tín dụng trước áp lực kiểm soát rủi ro, đặc biệt là nợ xấu. Nợ xấu không chỉ phản ánh chất lượng tín dụng suy giảm, đe dọa khả năng thanh khoản, làm xói mòn vốn tự có mà còn kìm hãm dòng vốn luân chuyển trong toàn bộ nền kinh tế.
Xuất phát từ thực tế đó, tác giả Phạm Diệu Linh đã thực hiện khóa luận tốt nghiệp ngành Tài chính - Ngân hàng tại Học viện Ngân hàng với đề tài: "Các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của Ngân hàng thương mại Việt Nam" (2021). Nghiên cứu tập trung giải quyết các mục tiêu và nhiệm vụ sau:
- Mục tiêu chung: Đánh giá tác động của các yếu tố kinh tế vĩ mô và vi mô nội tại đến tỷ lệ nợ xấu của hệ thống NHTM Việt Nam, từ đó đề xuất các giải pháp ngăn ngừa và kiểm soát nợ xấu.
- Mục tiêu cụ thể:
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về nợ xấu và công tác quản lý nợ xấu tại các NHTM.
- Đánh giá thực trạng nợ xấu và xác định mức độ, chiều hướng tác động của các nhân tố thông qua mô hình kinh tế lượng định lượng.
- Đề xuất hệ thống giải pháp và kiến nghị chính sách nhằm tăng cường quản lý, xử lý nợ xấu dựa trên kết quả hồi quy.
- Câu hỏi nghiên cứu:
- Nhân tố nào ảnh hưởng đến nợ xấu của NHTM?
- Mức độ tác động của các nhân tố đến NHTM như thế nào?
- Giải pháp nào để hạn chế tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM Việt Nam?
- Đối tượng nghiên cứu: Nợ xấu và các nhân tố kinh tế vĩ mô, vi mô tác động đến tỷ lệ nợ xấu tại các NHTM Việt Nam.
- Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: 15 NHTM Việt Nam thuộc nhóm các tổ chức tín dụng có tầm quan trọng hệ thống, hoạt động liên tục và công bố đầy đủ số liệu báo cáo tài chính (bao gồm: ACB, LienVietPostBank, VietinBank, BIDV, SeABank, MSB, Techcombank, Vietcombank, HDBank, MBBank, VIB, SHB, Sacombank, TPBank, VPBank).
- Thời gian: Dữ liệu chuỗi thời gian 10 năm từ năm 2011 đến năm 2020. Định hướng ứng dụng các đề xuất giải pháp từ năm 2021.
Cơ sở lý thuyết và phương pháp
Khóa luận tiếp cận khái niệm nợ xấu dựa trên thông lệ quốc tế và quy định pháp luật Việt Nam. Về mặt quốc tế, tác giả trích dẫn quan điểm của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ủy ban Giám sát Ngân hàng Basel (BCBS), Nhóm chuyên gia tư vấn (AEG) và Chuẩn mực Kế toán quốc tế IAS 39 (tiếp cận theo nợ bị giảm giá trị - impaired loans). Điểm chung của các định chế này là xác định khoản nợ có thời gian quá hạn gốc hoặc lãi từ 90 ngày trở lên, hoặc các khoản nợ chưa quá 90 ngày nhưng có dấu hiệu suy giảm nghiêm trọng khả năng thanh toán. Tại Việt Nam, nợ xấu được phân loại theo Văn bản hợp nhất số 01/VBHN-NHNN (2014) của Ngân hàng Nhà nước (NHNN), bao gồm nợ nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn).
Nghiên cứu vận dụng các lý thuyết kinh tế và tài chính làm nền tảng: lý thuyết chu kỳ kinh tế (chu kỳ biến động GDP), giả thuyết "quản lý kém" (Berger & DeYoung, 1997), giả thuyết "quá lớn để thất bại" (Stern & Feldman, 2004), lý thuyết lựa chọn đối nghịch và rủi ro đạo đức trong quan hệ cấp tín dụng.
Phương pháp nghiên cứu kết hợp giữa thống kê mô tả thực trạng và mô hình kinh tế lượng hồi quy dữ liệu bảng (panel data) với cỡ mẫu 150 quan sát (15 ngân hàng trong 10 năm). Mô hình tổng quát được xây dựng:
$$\text{NPL}{i,t} = \alpha_0 + \alpha_1 \text{ROE}{i,t} + \alpha_2 \text{ROA}{i,t} + \alpha_3 \text{SIZE}{i,t} + \alpha_4 \text{LOAN}{i,t} + \alpha_5 \text{NPL}{i,t-1} + \alpha_6 \text{GDP}_t + \alpha_7 \text{IN}_t + \alpha_8 \text{UE}t + \varepsilon{i,t}$$
Nhằm tránh hiện tượng đa cộng tuyến giữa hai biến đo lường khả năng sinh lời (hệ số tương quan vượt 0,8), tác giả tách thành hai mô hình hồi quy độc lập:
- Mô hình (2): Giữ biến ROA (tỷ lệ lợi nhuận trên tổng tài sản), loại bỏ biến ROE.
- Mô hình (3): Giữ biến ROE (tỷ lệ lợi nhuận trên vốn chủ sở hữu), loại bỏ biến ROA.
Quy trình xử lý dữ liệu bảng được thực hiện qua phần mềm Stata với các bước kiểm định kỹ thuật:
- Ước lượng ban đầu bằng mô hình bình phương nhỏ nhất gộp (Pooled OLS), mô hình tác động cố định (FEM) và mô hình tác động ngẫu nhiên (REM).
- Kiểm định nhân tử Lagrange (Breusch-Pagan LM test) để chọn giữa Pooled OLS và REM.
- Kiểm định Hausman để chọn giữa FEM và REM.
- Kiểm tra các khuyết tật: kiểm định hệ số phóng đại phương sai (VIF) phát hiện đa cộng tuyến; kiểm định Modified Wald kiểm tra phương sai sai số thay đổi; kiểm định Wooldridge kiểm tra hiện tượng tự tương quan.
- Khắc phục khuyết tật: Sử dụng phương pháp bình phương nhỏ nhất tổng quát khả thi (FGLS) để kiểm soát đồng thời hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan.
Nguồn dữ liệu vi mô được thu thập từ báo cáo tài chính đã kiểm toán và báo cáo thường niên của 15 NHTM; dữ liệu vĩ mô (tăng trưởng GDP, lạm phát IN, thất nghiệp UE) được trích xuất từ cơ sở dữ liệu của World Bank và IMF.
Nội dung chính theo từng chương
Chương 1: Cơ sở lý thuyết về nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu của NHTM
Chương này trình bày tổng quan lý luận về nợ xấu, phân tích các tác động tiêu cực của nợ xấu trên ba giác độ:
- Đối với NHTM: Làm suy giảm khả năng thanh khoản, giảm khả năng sinh lời do chi phí trích lập dự phòng rủi ro tín dụng tăng cao, giảm uy tín thương hiệu, suy yếu năng lực cạnh tranh và tiềm ẩn nguy cơ đổ vỡ dây chuyền.
- Đối với nền kinh tế: Kìm hãm luân chuyển vốn, làm giảm hiệu quả chính sách tiền tệ và tạo gánh nặng xử lý nợ cho ngân sách nhà nước (chiếm từ 10% đến 20% GDP theo nghiên cứu của Galindo và Tamayo, 2000).
- Đối với khách hàng: Khách hàng vay bị mất cơ hội tiếp cận nguồn vốn mới khi có lịch sử nợ xấu; người gửi tiền chịu rủi ro mất an toàn vốn nếu ngân hàng gặp khủng hoảng.
Tác giả phân nhóm các nhân tố tác động gồm: nhân tố vĩ mô (tăng trưởng GDP, lãi suất cho vay, tỷ lệ thất nghiệp, lạm phát); nhân tố vi mô (quy mô ngân hàng, tăng trưởng tín dụng, nợ xấu năm trước, hiệu quả sinh lời ROA/ROE, chi phí hoạt động); nhân tố từ khách hàng vay vốn (năng lực quản lý kinh doanh, năng lực tài chính, đạo đức người vay); và các yếu tố ngoại cảnh (dịch bệnh, thiên tai, biến động thị trường bất động sản, hành lang pháp lý). Chương này tổng thuật 20 công trình nghiên cứu thực nghiệm trong và ngoài nước để thiết lập giả thuyết và kỳ vọng dấu của các biến.
Chương 2: Thực trạng nợ xấu và các nhân tố ảnh hưởng đến nợ xấu tại các NHTM Việt Nam
Chương 2 phân tích bức tranh hoạt động và nợ xấu của ngành ngân hàng Việt Nam giai đoạn 2011-2020:
- Cơ cấu hệ thống NHTM: Diễn biến tái cơ cấu và các thương vụ mua bán, sáp nhập (M&A) đã làm thay đổi số lượng ngân hàng. Khối NHTM Cổ phần giảm từ 37 ngân hàng (năm 2011) xuống 31 ngân hàng (năm 2016-2020) sau các vụ hợp nhất SCB - Ficombank - Việt Nam Tín Nghĩa, Habubank sáp nhập SHB (2012), DaiABank vào HDBank, Western Bank vào PVFC (2013), MDBank vào Maritime Bank, MHBank vào BIDV, Southern Bank vào Sacombank (2015). Năm 2015, NHNN mua lại bắt buộc 0 đồng 3 ngân hàng (VNCB, Ocean Bank, GP Bank), làm số NHTM Nhà nước tạm tăng lên 7, sau đó ổn định ở mức 4 ngân hàng.
| Phân loại ngân hàng |
2011 |
2012 |
2013 |
2014 |
2015 |
2016 |
2017 |
2018 |
2019 |
2020 |
| NHTM Nhà nước |
5 |
5 |
5 |
5 |
7 |
4 |
4 |
4 |
4 |
4 |
| NHTM Cổ phần |
37 |
34 |
33 |
33 |
28 |
31 |
31 |
31 |
31 |
31 |
| Ngân hàng 100% vốn nước ngoài |
5 |
5 |
5 |
5 |
5 |
8 |
9 |
9 |
9 |
9 |
| Ngân hàng liên doanh |
4 |
4 |
4 |
4 |
3 |
2 |
2 |
2 |
2 |
2 |
- Diễn biến nợ xấu và khung chính sách: Năm 2011, nợ xấu toàn hệ thống ước tính 85 nghìn tỷ đồng (3,3% tổng dư nợ) và tăng lên 4,86% vào cuối năm 2012 (Fitch Ratings từng ước tính 13%). Giai đoạn 2012-2019 ghi nhận xu hướng giảm liên tục xuống 1,89% vào các năm 2018-2019 nhờ triển khai Đề án 254 (Quyết định 254/QĐ-TTg), thành lập VAMC (Nghị định 53/2013/NĐ-CP, Thông tư 19/2013/TT-NHNN, sửa đổi bởi Nghị định 34/2015/NĐ-CP và Thông tư 14/2015/TT-NHNN), Thông tư 02/2013/TT-NHNN, Thông tư 09/2014/TT-NHNN, Nghị quyết 42/2017/QH14, Quyết định 1058/QĐ-TTg và Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi Luật các TCTD. Năm 2020, dịch Covid-19 bùng phát khiến tỷ lệ nợ xấu tăng trở lại mức 3,0%, dẫn đến sự ra đời của Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN về cơ cấu lại thời hạn trả nợ.
- Thống kê mô tả dữ liệu bảng (150 quan sát):
| Biến số |
Ký hiệu |
Giá trị trung bình |
Độ lệch chuẩn |
Giá trị nhỏ nhất |
Giá trị lớn nhất |
| Tỷ lệ nợ xấu (%) |
NPL |
1,9887 |
1,1379 |
0,5000 |
8,8100 |
| Tỷ suất sinh lời trên VCSH (%) |
ROE |
12,2716 |
9,1253 |
-56,3300 |
29,5700 |
| Tỷ suất sinh lời trên tài sản (%) |
ROA |
0,9383 |
0,8664 |
-5,9900 |
3,1000 |
| Tăng trưởng quy mô tài sản (%) |
SIZE |
17,0181 |
17,9553 |
-39,2400 |
112,2200 |
| Tăng trưởng tín dụng (%) |
LOAN |
22,2510 |
19,2363 |
-30,8600 |
108,2000 |
| Tỷ lệ nợ xấu năm trước (%) |
NPLt-1 |
1,9933 |
1,1543 |
0,0200 |
8,8100 |
| Tăng trưởng kinh tế GDP (%) |
GDP |
5,9510 |
1,1848 |
2,9100 |
7,1000 |
| Tỷ lệ lạm phát (%) |
IN |
5,6750 |
4,8788 |
0,6000 |
18,7000 |
| Tỷ lệ thất nghiệp (%) |
UE |
2,2200 |
0,1759 |
1,9600 |
2,4800 |
- Kết quả kiểm định kinh tế lượng:
- Hệ số VIF của tất cả các biến đều dưới 2 (cao nhất là 1,51), khẳng định không xảy ra đa cộng tuyến nghiêm trọng.
- Kiểm định Breusch-Pagan LM cho kết quả $\text{Chibar2}(01) = 0,0003$ ($p < 0,05$), bác bỏ $H_0$, chọn REM thay vì Pooled OLS.
- Kiểm định Hausman cho $\text{Chi2}(7) = 24,0008$ (Mô hình 2) và $\text{Chi2}(7) = 22,0019$ (Mô hình 3) với $p < 0,05$, khẳng định mô hình tác động cố định (FEM) phù hợp hơn REM.
- Kiểm định Modified Wald xác nhận FEM mắc hiện tượng phương sai sai số thay đổi ($\text{Chi2} = 4632,00$ và $6692,00$; $p = 0,0000$).
- Kiểm định Wooldridge xác nhận hiện tượng tự tương quan ($F = 12,0032$ và $12,0029$; $p < 0,05$). Tác giả chuyển sang ước lượng FGLS để thu được kết quả vững.
Chương 3: Giải pháp và kiến nghị về quản lý nợ xấu tại các NHTM Việt Nam
Chương 3 xây dựng các giải pháp dựa trên định hướng quản lý nợ xấu gắn với chuẩn mực an toàn vốn Basel II và giữ nợ xấu nội bảng dưới 3%:
- Giải pháp đối với các NHTM: Nâng cao năng lực thẩm định tín dụng và giám sát chặt chẽ mục đích sử dụng vốn sau giải ngân; kiểm soát tốc độ tăng trưởng tín dụng nóng; cải thiện hiệu quả sinh lời và kiểm soát chi phí hoạt động; chủ động xử lý nợ xấu tồn đọng qua việc trích lập dự phòng đầy đủ, bán nợ cho VAMC và xử lý dứt điểm tài sản bảo đảm.
- Kiến nghị đối với Nhà nước và Chính phủ: Hoàn thiện thể chế pháp lý xử lý tài sản bảo đảm, bảo đảm tính thống nhất giữa Bộ luật Dân sự 2015 và Nghị định 21/2021/NĐ-CP; xây dựng thị trường mua bán nợ tập trung minh bạch; điều hành kinh tế vĩ mô ổn định, kiểm soát lạm phát nhằm trợ lực cho doanh nghiệp vay vốn.
- Kiến nghị đối với Ngân hàng Nhà nước: Tăng cường thanh tra, giám sát chất lượng tín dụng; giao chỉ tiêu tăng trưởng tín dụng gắn với năng lực quản trị rủi ro của từng ngân hàng; nâng cao vai trò và năng lực tài chính của VAMC; hướng dẫn triển khai Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN tháo gỡ khó khăn cho khách hàng bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19.
Kết quả và đóng góp
Kết quả ước lượng mô hình hồi quy FGLS cho thấy giá trị $p\text{-value} = 0,0000$ (có ý nghĩa thống kê tổng thể ở mức 1%). Tác động cụ thể của từng biến độc lập đến tỷ lệ nợ xấu như sau:
| Biến độc lập |
Chiều tác động |
Mức ý nghĩa thống kê |
Hệ số hồi quy / Mức độ tác động cụ thể theo văn bản |
| ROA |
Ngược chiều (-) |
5% |
Hệ số hồi quy là -0,1611; khi ROA tăng 1% thì nợ xấu giảm 16,11%. |
| ROE |
Ngược chiều (-) |
1% |
Hệ số hồi quy là -0,0189; khi ROE tăng 1% thì nợ xấu giảm 1,89%. |
| LOAN |
Cùng chiều (+) |
1% |
Khi tăng trưởng tín dụng tăng 1% thì nợ xấu tăng 1,3%. |
| NPLt-1 |
Cùng chiều (+) |
1% |
Khi nợ xấu năm trước tăng 1% thì nợ xấu năm hiện tại tăng gần 6%. |
| GDP |
Ngược chiều (-) |
5% |
Khi tăng trưởng GDP tăng 1% thì nợ xấu giảm hơn 9%. |
| IN |
Cùng chiều (+) |
1% |
Khi lạm phát tăng 1% thì nợ xấu tăng hơn 5%. |
| UE |
Cùng chiều (+) |
1% hoặc 5% |
Có ý nghĩa thống kê, tác động cùng chiều đến tỷ lệ nợ xấu. |
| SIZE |
Không xác định |
Không có ý nghĩa |
$p\text{-value}$ ở hai mô hình là 19,x% và 20,8% (> 10%), không có ý nghĩa thống kê. |
- Đóng góp về mặt lý luận và thực nghiệm: Khóa luận củng cố giả thuyết "quản lý kém" của Berger & DeYoung (1997), chứng minh các ngân hàng có hiệu quả sinh lời cao (ROA, ROE) ít tham gia vào các danh mục rủi ro, từ đó hạn chế phát sinh nợ xấu. Kết quả thực nghiệm khẳng định tăng trưởng tín dụng nóng tích tụ rủi ro nợ xấu có độ trễ, và nợ xấu trong quá khứ là nhân tố tạo áp lực gia tăng nợ xấu hiện tại do thời gian xử lý kéo dài. Về mặt vĩ mô, nghiên cứu chứng minh tính chất nghịch chu kỳ của nợ xấu đối với tăng trưởng kinh tế và tác động tiêu cực của lạm phát đến nghĩa vụ trả nợ của khách hàng.
- Đóng góp về mặt chính sách: Khóa luận hệ thống hóa toàn bộ các mốc chính sách tái cơ cấu hệ thống tổ chức tín dụng tại Việt Nam suốt một thập kỷ (từ Quyết định 254 năm 2011 đến Nghị quyết 42 năm 2017 và Thông tư 03 năm 2021), làm rõ tác động thực tế của công cụ pháp lý đối với việc hạ thấp tỷ lệ nợ xấu toàn ngành từ đỉnh 4,86% xuống dưới 2% trước khi đại dịch bùng phát.
Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp
- Hạn chế được nêu trong văn bản:
- Mẫu nghiên cứu mới giới hạn ở 15 NHTM lớn có tầm quan trọng hệ thống, chưa đại diện cho toàn bộ các TCTD (chưa bao gồm khối ngân hàng quy mô nhỏ, ngân hàng liên doanh và chi nhánh ngân hàng nước ngoài).
- Biến quy mô ngân hàng (SIZE) chưa tìm thấy ý nghĩa thống kê trong mô hình hồi quy.
- Chưa lượng hóa trực tiếp các yếu tố định tính từ phía khách hàng (đạo đức, rủi ro thông tin bất đối xứng) và biến cố bất khả kháng kéo dài (tác động toàn diện của dịch bệnh Covid-19 sau năm 2020).
- Hướng nghiên cứu tiếp: Mở rộng mẫu nghiên cứu cho toàn bộ các NHTM đang hoạt động; kéo dài chuỗi dữ liệu sau năm 2020 nhằm đo lường trọn vẹn độ trễ của các khoản nợ được cơ cấu theo Thông tư 01/2020 và Thông tư 03/2021; bổ sung các biến giải thích vi mô đặc thù khác như tỷ lệ an toàn vốn (CAR), tỷ lệ cấp dư nợ trên vốn huy động (LDR) và tỷ lệ dự phòng bao nợ xấu.
Giá trị tham khảo
Khóa luận có giá trị tham khảo chuyên môn đối với:
- Sinh viên và học viên cao học chuyên ngành Tài chính - Ngân hàng, Kinh tế học: Tham khảo quy trình xây dựng mô hình hồi quy dữ liệu bảng, phương pháp thực hiện các kiểm định chẩn đoán khuyết tật (Breusch-Pagan, Hausman, Modified Wald, Wooldridge) và kỹ thuật ước lượng FGLS trên Stata.
- Cán bộ quản trị rủi ro và phân tích tín dụng tại các NHTM: Vận dụng bằng chứng về độ trễ của tăng trưởng tín dụng và sự tích tụ của nợ xấu năm trước để thiết lập các ngưỡng cảnh báo sớm trong quy trình cấp tín dụng.
- Người nghiên cứu chính sách tài chính: Sử dụng hệ thống tổng hợp các văn bản pháp quy từ năm 2011 đến năm 2021 như tài liệu đối chiếu thực tiễn quản lý nợ xấu tại Việt Nam.
Câu hỏi thường gặp
1. Mẫu nghiên cứu định lượng của khóa luận gồm những ngân hàng nào và giai đoạn thu thập dữ liệu là bao lâu?
Mẫu nghiên cứu gồm 15 NHTM Việt Nam thuộc nhóm các tổ chức tín dụng có tầm quan trọng hệ thống (ACB, LienVietPostBank, VietinBank, BIDV, SeABank, MSB, Techcombank, Vietcombank, HDBank, MBBank, VIB, SHB, Sacombank, TPBank, VPBank) với dữ liệu được thu thập liên tục trong 10 năm từ 2011 đến 2020, tạo thành bộ dữ liệu bảng gồm 150 quan sát.
2. Tại sao tác giả phải sử dụng phương pháp FGLS thay vì mô hình FEM hay REM?
Sau khi kiểm định Hausman khẳng định mô hình tác động cố định (FEM) phù hợp hơn mô hình tác động ngẫu nhiên (REM), tác giả tiến hành kiểm tra khuyết tật của mô hình FEM. Kết quả kiểm định Modified Wald ($p = 0,0000$) và kiểm định Wooldridge ($p < 0,05$) chỉ ra mô hình FEM đồng thời mắc hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan. Do đó, phương pháp FGLS được lựa chọn để kiểm soát các khuyết tật này, bảo đảm ước lượng thu được là vững và tin cậy.
3. Biến số nào trong mô hình không có ý nghĩa thống kê đối với tỷ lệ nợ xấu?
Biến tốc độ tăng trưởng quy mô tài sản của ngân hàng (SIZE) là biến duy nhất không có ý nghĩa thống kê trong kết quả hồi quy FGLS, với giá trị $p\text{-value}$ lần lượt ở Mô hình (2) và Mô hình (3) là 19,x% và 20,8% (đều lớn hơn 10%).
4. Tỷ lệ nợ xấu toàn hệ thống ngân hàng Việt Nam biến động ra sao trong giai đoạn 2011-2020?
Năm 2011, nợ xấu toàn hệ thống được công bố ở mức 3,3% và tăng lên đỉnh điểm 4,86% vào cuối năm 2012. Giai đoạn 2012-2019, tỷ lệ này giảm đều đặn xuống mức 1,89% vào các năm 2018-2019. Năm 2020, do ảnh hưởng của đại dịch Covid-19, tỷ lệ nợ xấu tăng 1,11% so với năm 2019, chạm ngưỡng 3,0%.
5. Nghiên cứu đề cập đến những văn bản pháp lý chủ chốt nào của Nhà nước và NHNN về xử lý nợ xấu?
Khóa luận phân tích các văn bản: Quyết định 254/QĐ-TTg (Đề án cơ cấu lại TCTD 2011-2015), Nghị định 53/2013/NĐ-CP và Nghị định 34/2015/NĐ-CP về thành lập và hoạt động của VAMC, Thông tư 02/2013/TT-NHNN và Thông tư 09/2014/TT-NHNN về phân loại nợ và trích lập dự phòng, Nghị quyết 42/2017/QH14 về thí điểm xử lý nợ xấu, Quyết định 1058/QĐ-TTg (Đề án cơ cấu lại TCTD 2016-2020), Luật số 17/2017/QH14 sửa đổi Luật các TCTD, Nghị định 21/2021/NĐ-CP về bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, Thông tư 01/2020/TT-NHNN và Thông tư 03/2021/TT-NHNN về cơ cấu nợ hỗ trợ dịch Covid-19.
Kết luận
Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Phạm Diệu Linh cung cấp một nghiên cứu thực nghiệm chặt chẽ về các nhân tố tác động đến nợ xấu tại 15 NHTM Việt Nam trong giai đoạn 2011-2020. Dựa trên phương pháp ước lượng FGLS xử lý triệt để hiện tượng phương sai sai số thay đổi và tự tương quan, công trình đã định lượng rõ tác động ngược chiều của khả năng sinh lời (ROA, ROE) và tăng trưởng kinh tế (GDP), cùng tác động thuận chiều của tăng trưởng tín dụng (LOAN), nợ xấu năm trước (NPLt-1) và lạm phát (IN) đối với tỷ lệ nợ xấu. Bên cạnh việc hệ thống hóa quá trình tái cơ cấu và các mốc chính sách tiền tệ suốt một thập kỷ, tác giả đã đề xuất hệ thống giải pháp khả thi cho các ngân hàng và kiến nghị hoàn thiện thể chế pháp lý xử lý tài sản bảo đảm. Đây là tài liệu học thuật có giá trị tư liệu cao đối với nghiên cứu kinh tế lượng ứng dụng và công tác quản trị rủi ro tín dụng tại Việt Nam.