CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ NỢ XẤU TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về nợ xấu trong ngân hàng thương mại 1. Khái quát về ngân hàng thương mại và rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại 1.1 Khái niệm ngân hàng thương mại Ở Việt Nam, theo Khoản 2, Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng của Việt Nam năm 2010 có nêu: Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định. Theo tính chất và mục đích hoạt động, các loại ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách và ngân hàng hợp tác xã.
Theo đó, Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định nhằm mục tiêu lợi nhuận [24]. Như vậy, có thể nói Ngân hàng thương mại là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh về tiền tệ với hoạt động thường xuyên là huy động vốn, cho vay, chiết khấu, bảo lãnh, cung cấp các dịch vụ tài chính và các hoạt động khác có liên quan, trong đó cho vay (hay cấp tín dụng) được xem là hoạt động sinh lợi chủ yếu của ngân hàng. Qua những khái niệm trên, ta có thể rút ra một số điểm đặc trưng của NHTM như sau: Tổ chức NHTM được ủy quyền sử dụng nguồn tài chính từ công chúng và phải đảm bảo trách nhiệm trả lại số lượng tài sản tương ứng; Lĩnh vực hoạt động của NHTM bao gồm tài chính tiền tệ và tín dụng, thuộc danh mục có nhiều yếu tố rủi ro, vì vậy, tổ chức này luôn phải tuân thủ sự quản lý nghiêm ngặt từ các cơ quan giám sát. Hiện nay, NHTM có vai trò vô cùng quan trọng khi duy trì sự lưu thông của dòng vốn trong nền kinh tế, góp phần xây dựng sự ổn định và thúc đẩy sự phát triển kinh tế.2 Tín dụng ngân hàng thương mại Tín dụng ngân hàng là một giao dịch tài chính giữa hai bên đối tác, trong đó một bên chủ thể là ngân hàng và chủ thể còn lại có thể là cá nhân, các tổ chức doanh nghiệp hoặc tổ chức khác.
Thực tế, đây là quá trình chuyển nhượng quyền sử dụng vốn từ người cung cấp tín dụng (ngân hàng) đến người nhận tín dụng, trong một khoảng thời gian được thỏa thuận trước. Khi đến hạn, người nhận tín dụng phải hoàn trả số tiền gốc ban đầu và số tiền lãi được tính thêm. Tín dụng NHTM có một số đặc điểm sau: - Việc xác định một khoản tí n d ụng dựa trên sự tin tưởng của ng ân hàn g về kh ả năng củ a khá ch hàn g sử dụng số tiền va y theo đúng mục đích và kh ả năng của họ để trả nợ đúng hạn. Trong khi đó, người vay tin tưởng vào khả năng của họ kiếm tiền trong tương lai để trả cả gốc và lãi của khoản vay; - Tí n d ụng là quá trình chuyển gi ao quyền s ử dụng một số tiền (hoặc tài sản) từ một bên sang bên khác mà không thay đổi quyền sở hữu.
Ngân hàng cung cấp tín dụng cho khách hàng dựa trên nguồn vốn mà họ đã huy động, chủ yếu là từ tiền gửi của cá nhân và tổ chức trong và ngoài nước. Vì vậy, khoản vay mà khách hàng nhận được thực tế chỉ là quyền sử dụng tạm thời và phải tuân thủ các cam kết đã thống nhất ra với ngân hàng.; - Mỗi khoản tín dụng đều phải có thời hạn và phải được hoàn trả vô điều kiện. Ngân hàng thực hiện vai trò "đi vay để cho vay," nghĩa là ngân hàng sử dụng tiền gửi của khách hàng để cung cấp vốn cho khách hàng khác mượn. Vì vậy, việc đặt thời hạn cho các khoản vay là cần thiết để đảm bảo rằng ngân hàng có thể trả lại tiền gửi khi khách hàng muốn rút tiền hoặc để sử dụng nguồn vốn đó vào việc cho vay đối với khách hàng khác.
Do khách hàng không phải là chủ sở hữu thực sự của số tiền vay, nên họ cam kết phải hoàn trả khoản vay đó cho ngân hàng vô điều kiện; - Giá trị tín dụng không chỉ được duy trì mà còn được nâng cao thông qua lợi tức tín dụng. Số tiền trả lại phải lớn hơn số tiền ban đầu được vay, vì khách hàng phải trả tiền cho việc sử dụng vốn vay từ ngân hàng. Lợi tức này luôn dương để đền bù cho chi phí hoạt động và tạo ra lợi nhuận cho ngân hàng; 12 - Tính chất cốt lõi của tín dụng là tiềm ẩn rủi ro cao. Ngay cả khi khách hàng có ý định trả nợ đúng hẹn, nhưng nếu gặp phải môi trường kinh doanh bất lợi, biến động trong các chỉ số kinh tế, hoặc các sự cố không thể kiểm soát được, có thể dẫn đến khó khăn trong việc trả nợ của khách hàng và dẫn đến tình trạng Rủi Ro Tín Dụng (RRTD) cho ngân hàng.3 Rủi ro tín dụng ngân hàng thương mại Rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng là khả năng xảy ra tổn thất đối với nợ của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài do khách hàng không có khả năng trả được một phần hoặc toàn bộ nợ của mình theo hợp đồng hoặc thỏa thuận với tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài [17].
Rủi ro tín dụng luôn là một yếu tố mà các ngân hàng thương mại đặc biệt quan tâm, bởi vì hoạt động tín dụng là nguồn thu lớn và nguồn lợi nhuận quan trọng (chiếm khoảng 80% tổng thu nhập) và cũng là hoạt động chính của ngân hàng. Hoạt động tín dụng liên quan mật thiết đến mọi lĩnh vực trong nền kinh tế và mọi rủi ro phát sinh trong các lĩnh vực này có thể tác động và mang theo tiềm ẩn bất ổn cho cả hệ thống ngân hàng thương mại nói riêng và nền kinh tế nói chung. Trong hoạt động của các ngân hàng, rủi ro tín dụng là một yếu tố khó thể né tránh và nó luôn tồn tại song song với sự phát triển của các tổ chức tài chính này. Các quan điểm về nợ xấu trong ngân hàng thương mại Có rất nhiều quan điểm khác nhau về nợ xấu.
Quan điểm nợ xấu khác nhau ở các tổ chức, các quốc gia và trong một nền kinh tế dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau thì quan điểm về nợ xấu cũng có sự khác biệt. a) Quan điểm về nợ xấu của Liên Hiệp quốc 13 nợ xấu được xác định dựa trên hai yếu tố: -) quá hạn trên 90 ngày; và -) nghi ngờ về khả năng trả nợ [1]. Thực t ế, khá i ni ệm n ợ x ấu khô ng ho àn to àn đồ ng nh ất tại các qu ốc gia khác nha u. Thực tế hiện nay, ngo ài qu an ni ệm n ợ x ấu của các qu ốc gia, nhiều t ổ chức quốc tế cũng đề cập đến khái niệm này thay đổi mạnh về công nghệ thông tin, có thể dẫn đến việc xếp khoản vay vào diện không được cộng dồn.
Ngoài ra, trong định nghĩa của IMF, phần thứ hai của nợ xấu không được tính là nợ tốt ngay cả khi nó được thay thế bằng một khoản nợ mới. Điều này ám chỉ rằng, việc chuyển đổi một khoản nợ xấu thành một khoản nợ mới vẫn có thể tạo ra rủi ro và không đảm bảo sự cải thiện hoàn toàn về tình hình tài chính. b) Quan điểm về nợ xấu của Quỹ tiền tệ quốc tế Khái niệm nợ xấu, theo quan điểm của IMF, không nhất thiết phải tương đồng với khái niệm nợ bị giảm giá trị trong chuẩn mực kế toán quốc tế IAS 39 và hướng dẫn của Ủy ban Basel về giám sát ngân hàng. Khi một khoản vay bị giảm giá trị, nó thường sẽ được xem xét để xác định liệu nó có thể được tính vào diện không được cộng dồn hay không.
Cụ thể, thu nhập từ lãi cho vay của các khoản vay này có thể không được tính vào tổng thu nhập trong báo cáo tài chính của ngân hàng. Tuy nhiên, điều quan trọng cần lưu ý là có những tình huống kinh tế đặc biệt, như suy thoái kinh tế hoặc sự thay đổi mạnh về công nghệ thông tin, có thể dẫn đến việc xếp khoản vay vào diện không được cộng dồn. 14 Ngoài ra, trong định nghĩa của IMF, phần thứ hai của nợ xấu không được tính là nợ tốt ngay cả khi nó được thay thế bằng một khoản nợ mới. Điều này ám chỉ rằng, việc chuyển đổi một khoản nợ xấu thành một khoản nợ mới vẫn có thể tạo ra rủi ro và không đảm bảo sự cải thiện hoàn toàn về tình hình tài chính.
c) Quan điểm về nợ xấu của Viện Tài chính quốc tế Nợ xấu bao gồm nợ dưới tiêu chuẩn, nợ nghi ngờ, nợ mất vốn [1]. *) Quan điểm của Ngân hàng Trung ương Châu Âu (ECB): Nợ xấu là những khoản cho vay không có khả năng thu hồi như: - Những khoản nợ đã hết hiệu lực hoặc những khoản nợ không có căn cứ đòi bồi thường từ người mắc nợ; - Người mắc nợ trốn hoặc bị mất tích, không còn tài sản để thanh toán nợ; - Những khoản nợ mà ngân hàng không thể liên lạc được với người mắc nợ hoặc không thể tìm được người mắc nợ; 15 - Những khoản nợ mà tòa án tuyên bố người mắc nợ phá sản nhưng phần bồi hoàn ít hơn dư nợ [1]. Theo quan điểm của ECB, thì nợ xấu được định nghĩa qua hai yếu tố: Khoản cho vay không có khả năng được thu hồi và Khoản cho vay được thu hồi nhưng giá trị thu hồi không đầy đủ. Do đó, quan điểm của ECB về nợ xấu tập trung vào kết quả thu hồi nợ của ngân hàng, và nó đánh giá xem mức độ thu hồi và giá trị thu hồi có đủ hay không để đảm bảo rằng khoản vay không gây thiệt hại đáng kể cho ngân hàng.
Điều này giúp ngân hàng xác định và quản lý rủi ro tín dụng trong danh mục tín dụng của họ. *) Quan điểm của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Theo khoản 8. Điều 3 Thông tư số 11/2021/TT-NHNN ngày 30/7/2021 thông tư về phân loại tài sản có, mức trích, phương pháp trích lập dự phòng rủi ro 16 và việc sử dụng để xử lý rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài thì nợ xấu (NPL) là nợ xấu nội bảng, gồm nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nhóm 4 (nợ nghi ngờ), nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn) [17].