phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, bố cục nội dung nghiên cứu của luận án chia làm bốn chƣơng, cụ thể nhƣ sau: hƣơng 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý thuyết nghiên cứu hƣơng 2: Những vấn đề lý luận về dịch vụ giao nhận vận tải đƣờng bộ và pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đƣờng bộ hƣơng 3: Thực trạng quy định pháp luật và thực tiễn thực thi pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đƣờng bộ ở Việt Nam hiện nay hƣơng 4: ác yêu cầu cơ bản và giải pháp hoàn thiện pháp luật, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đƣờng bộ ở Việt Nam hiện nay. TỔNG QU N TÌN ÌN NG ÊN ỨU VÀ Ơ SỞ LÝ T UYẾT NG ÊN ỨU 1. Tổng quan tình hình nghiên cứu Dịch vụ GNVT và logistics có mối liên hệ mật thiết với nhau. Trên thế giới và ở Việt Nam đã có nhiều công trình nghiên cứu về GNVT và logistics dƣới nhiều góc độ nhƣng chủ yếu dƣới góc độ kinh tế.
Nhóm các công trình nghiên cứu về lý luận pháp luật có liên quan đến dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ 1. Các nghiên cứu về lý luận liên quan đến dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ Qua thu thập tài liệu, N S nhận thấy rằng trên thế giới và ở Việt Nam, các nghiên cứu về dịch vụ GNVT đƣờng bộ nói riêng và dịch vụ GNVT nói chung không nhiều, trong khi ngƣợc lại, số lƣợng công trình nghiên cứu về dịch vụ logistics lại áp đảo. Và cũng qua đánh giá sơ bộ các công trình nghiên cứu thu thập đƣợc, có thể thấy rằng GNVT và logistics có mối liên hệ với nhau và các nhà nghiên cứu thƣờng chỉ tập trung hơn vào logistics với một cách tiếp cận theo nghĩa rộng. Vì vậy, N S sẽ không phân loại thành các nhóm nghiên cứu liên quan đến dịch vụ GNVT đƣờng bộ hay liên quan đến các khái niệm có liên quan nhƣ logistics.
Đầu tiên, là Giáo trình “Vận tải và giao nhận trong ngoại thương” của Trƣờng đại học Ngoại thƣơng, do PGS. Nguyễn Nhƣ Tiến chủ biên, [97]. Đây là công trình nghiên cứu mang lại những kiến thức cơ bản về hoạt động vận tải và giao nhận, phục vụ cho công tác đào tạo của các sinh viên chuyên ngành ngoại thƣơng. ông trình đã trình bày đƣợc những kiến thức cơ bản và cô đọng về hoạt động vận tải với từng phƣơng thức và đặc biệt là về hoạt động giao nhận với các nội dung nhƣ khái niệm, các tổ chức giao nhận trên thế giới và ở Việt Nam, phân loại và vai trò của ngƣời giao nhận cũng nhƣ trình bày đƣợc cơ sở pháp lý, nguyên tắc và tổ chức hoạt động giao nhận hàng hóa xuất nhập khẩu.
Đây sẽ là những kiến thức cần thiết mà N S kế thừa trong phần hệ thống hóa lý luận về hoạt động GNVT và GNVT đƣờng bộ. Giáo trình này cũng chỉ ra các đặc điểm cơ bản của giao nhận cũng nhƣ đặc thù của hoạt động vận chuyển hàng hóa bằng đƣờng bộ. Theo đó, “tuy phƣơng thức vận chuyển bằng đƣờng bộ không bị lệ thuộc nhiều vào điều kiện tự nhiên so với các phƣơng thức vận tải khác, nhƣng nhìn chung vẫn bị lệ thuộc vào địa hình, tuyến đƣờng bộ, không thể hoạt động trong điều kiện mƣa hay gió bão ở mức trung bình, trong khi đƣờng sắt, đƣờng 8 biển vẫn có thể hoạt động bình thƣờng”. Tuy nhiên, công trình nghiên cứu này mới chỉ ở phạm vi giáo trình, các nội dung đƣợc trình bày khái quát, cô đọng.
Giáo trình “Giao nhận, vận tải và bảo hiểm” do TS. Đỗ Quốc Dũng chủ biên, [62] là công trình nghiên cứu cung cấp các vấn đề lý luận cơ bản và cần thiết về hoạt động giao nhận, vận tải và bảo hiểm cho học viên trƣờng đào tạo cán bộ ngoại thƣơng. ông trình này đã trình bày những kiến thức cơ bản về hoạt động vận tải, giao nhận, chỉ rõ các đặc điểm gắn với cơ sở vật chất kỹ thuật của phƣơng thức vận chuyển bằng đƣờng bộ. Bên cạnh đó, công trình đã có một số nhận định làm rõ mối quan hệ giữa logistics với dịch vụ vận tải giao nhận, “logistics là sự phát triển cao, hoàn chỉnh của dịch vụ vận tải giao nhận, vận tải giao nhận gắn liền và nằm trong logistics” [62; tr.
Tuy nhiên, cũng giống với công trình ở trên, các nội dung mới chỉ dừng lại ở phạm vi giáo trình, cô đọng và cách tiếp cận đơn ngành kinh tế. Sách chuyên khảo “Logistics – khả năng ứng dụng và phát triển trong kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận Việt Nam” của PGS. Nguyễn Nhƣ Tiến, [83]. Trong công trình này, tác giả đã trình bày những vấn đề cơ bản về logistics với ý nghĩa nhƣ một phƣơng thức kinh doanh mới, tiên tiến nhằm áp dụng và phát triển trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam.
Bên cạnh đó, công trình đã đánh giá chung về thực trạng áp dụng logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh vận tải giao nhận của Việt Nam và đƣa ra các giải pháp phát triển. Tuy nhiên, đây là công trình nghiên cứu đơn ngành, dƣới góc độ tiếp cận kinh tế. Tiếp theo là công trình nghiên cứu đƣợc coi nhƣ là sách giáo khoa về logistics hiện đại, cuốn “Logistics (Cơ bản - Thực hành - Các tình huống)” của Harald Gleissner, J. Đây đƣợc xem là cuốn sách giáo khoa cho sinh viên ngành logistics.
Tác phẩm đã trình bày và làm rõ những vấn đề cơ bản nhất của logistics hiện đại nhƣ: khái niệm, nguyên tắc, hệ thống, quản lý, lập kế hoạch, công nghệ thông tin trong logistics, cơ sở hạ tầng và đầu tƣ tài chính trong logistics. Tuy nhiên, cũng giống với đa phần công trình nghiên cứu khác, các vấn đề đƣợc đề cập chủ yếu dƣới góc độ kinh tế học. Sách chuyên khảo “Logistics những vấn đề lý luận và thực tiễn ở Việt Nam” của Viện Nghiên cứu kinh tế và phát triển, đại học Kinh tế quốc dân do GS. Đặng Đình Đào chủ biên [105] là công trình nghiên cứu tập hợp nhiều bài nghiên cứu của các tác giả về logistics và giao nhận.
ác bài nghiên cứu này đã làm rõ nhiều vấn đề lý luận chủ yếu về logistics, 9 một số ít về dịch vụ giao nhận cũng nhƣ chỉ ra các thách thức, triển vọng của ngành dịch vụ này ở Việt Nam. Tuy nhiên, công trình cũng mới chỉ chủ yếu tiếp cận ngành dịch vụ này theo góc độ kinh tế. Báo cáo “Nâng cao hiệu quả ngành logistics nhằm cải thiện môi trường kinh doanh” năm 2018, [100] của ơ quan phát triển quốc tế Hoa Kỳ (US ID) và Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ƣơng ( IEM) đã trình bày một số vấn đề lý luận về khái niệm và phân loại dịch vụ logistics. Theo đó, báo cáo đã chỉ ra có nhiều khái niệm về logistics nhƣng nhìn chung đƣợc chia thành 02 loại theo phạm vi rộng và phạm vi hẹp, một lần nữa khẳng định cách tiếp cận của LTM Việt Nam 2005 về logistics là theo nghĩa hẹp và gần nhƣ tƣơng tự với hoạt động giao nhận hàng hóa [100; tr.
Bài báo “What is the difference between 3PL & frieght fowarding” của tác giả Jake Rheude, [121] trên tạp chí giao nhận đã trình bày khái quát về dịch vụ giao nhận hàng hóa, dịch vụ logistics 3PL và chỉ rõ sự khác biệt giữa 2 dịch vụ này. Theo đó, “về cốt lõi, giao nhận hàng hóa là một dịch vụ đƣa hàng hóa của bạn từ điểm đến điểm B. Vì vậy, các nhà giao nhận hàng hóa là nhà cung cấp dịch vụ thực hiện điều này bằng cách sắp xếp toàn bộ quy trình. Ngay cả khi sản phẩm của bạn di chuyển qua các phƣơng thức khác nhau, chẳng hạn nhƣ từ tàu thủy sang xe tải hoặc tàu hỏa, thì nhân viên giao nhận hàng hóa sẽ quản lý việc này cho bạn”.
Và sự khác biệt với 3PL là: “các nhà cung cấp dịch vụ logistics bên thứ ba thƣờng cung cấp nhiều dịch vụ hơn là một nhà giao nhận hàng hóa. 3PL sẽ bảo vệ và hỗ trợ các sản phẩm từ việc lƣu trữ và hoàn thành đơn đặt hàng cho đến khi đƣợc vận chuyển bởi các nhà vận chuyển và cuối cùng là đến tay ngƣời tiêu dùng cuối cùng, có khả năng làm lại điều tƣơng tự nếu khách hàng trả lại sản phẩm” [121]. Dịch vụ logistics có mối liên hệ với dịch vụ GNVT. Đây vừa là một ngành dịch vụ có sức hấp dẫn nhƣng đồng thời cũng là một môn khoa học và trở thành đối tƣợng đƣợc quan tâm nghiên cứu của nhiều ngành khoa học.
Hiện nay, logistics đã đƣợc khai thác nghiên cứu nhiều dƣới góc độ kinh tế và quản trị và đã có một số các công trình nghiên cứu khoa học công phu nhƣ: Sách chuyên khảo “Logistics – Những vấn đề cơ bản và Quản trị logistics” do GS. Đoàn Thị Hồng Vân chủ biên; đề tài N KH: “Logistics và khả năng áp dụng, phát triển logistics trong các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vận tải giao nhận ở Việt Nam” do PGS.TS Nguyễn Nhƣ Tiến chủ nhiệm (2004); Đinh Lê Hải Hà, “Phát triển logistics ở Việt Nam hiện nay”, luận án tiến sỹ kinh tế, 2012; Sách chuyên khảo “Dịch vụ 10 logistics ở Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế” của GS.TS Đặng Đình Đào chủ biên năm 2011; Trần Sĩ Lâm, “Phát triển trung tâm logistics cho Việt Nam, tham khảo thành công một số nước châu Âu và châu Á”, sách chuyên khảo; Nguyễn Huyền nh, “Kinh nghiệm phát triển dịch vụ Logistics của một số nước trên thế giới và bài học đối với Việt Nam”, luận văn thạc sỹ kinh tế, 2011, Vũ Thị Quế nh, “Phát triển dịch vụ logistics ở Đông Nam Á và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, luận văn thạc sỹ kinh tế” …v. ác công trình nghiên cứu trên đã trình bày và làm rõ các vấn đề cơ bản của dịch vụ logistics và ít nhiều có sự liên quan với dịch vụ giao nhận vận tải đƣờng bộ. Luận án sẽ kế thừa các nội dung này để làm rõ hơn về bản chất cũng nhƣ mối liên hệ của dịch vụ giao nhận vận tải đƣờng bộ.
Các nghiên cứu về pháp luật về dịch vụ giao nhận vận tải đường bộ Tác giả Simone Lamont Black và D. Rhidian Thomas trong tác phẩm “Current Issues in Freight Forwarding: law and logistics”, [127] đã xác định các khái niệm cơ bản, phân loại các nhà giao nhận hàng hóa và nhiệm vụ của họ, khẳng định hoạt động kinh doanh giao nhận hàng hóa thƣờng liên quan đến việc vận chuyển hoặc tổ chức vận chuyển hàng hóa.