CHƯƠNG 1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ PHÁP LUẬT ĐẦU TƯ RA NƯỚC NGOÀI 1. Tổng quan về đầu tư ra nước ngoài 1. Khái niệm về đầu tư và đầu tư ra nước ngoài Những năm 90, Nhà đầu tư Việt Nam chưa dám nghĩ, dám làm, chưa dám đầu tư ra nước ngoài để mang ngoại tệ về nước, mặc dù chính sách đầu tư ra nước ngoài đã có từ rất sớm, nhưng có thể do khó khăn về nguồn vốn, nhân sự, rào cản về tư duy. Nhưng đến đầu những năm 2000 các nhà đầu tư trong nước đã thực hiện nhiều hoạt động ĐTRNN, ban đầu là các nước gần, sau đó đã sang các nước tại châu Phi, châu Mĩ, châu Âu ….
Vai trò của ĐTRNN ngày càng quan trọng. Khái niệm về đầu tư và đầu tư ra nước ngoài được quy định như sau: Luật đầu tư năm 2005 định nghĩa: Đầu tư là việc nhà đầu tư bỏ vốn bằng các loại tài sản hữu hình hoặc vô hình để hình thành tài sản tiến hành các hoạt động đầu tư theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật có liên quan (Điều 3 khoản 1). Luật đầu tư 2014 định nghĩa: Đầu tư kinh doanh là việc nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư để thực hiện hoạt động kinh doanh thông qua việc thành lập tổ chức kinh tế; đầu tư góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp của tổ chức kinh tế; đầu tư theo hình thức hợp đồng hoặc thực hiện dự án đầu tư” (Điều 3 khoản 1). Về bản chất đầu tư hay đầu tư kinh doanh là việc bỏ vốn để tiến hành các hoạt động kinh doanh nhằm thu về cho nhà đầu tư các kết quả nhất định lớn hơn nguồn vốn đã bỏ ra.
Những kết quả thu về đó có thể là tài sản tài chính (vốn bằng tiền), tài sản vật chất (nhà máy, hạ tầng, các của cải vật chất khác, …), kết quả này có thể làm tăng thêm lợi nhuận cho nhà đầu tư, đồng thời làm tăng thêm của cải vật chất cho xã hội [1, tr. Với luật đầu tư năm 2005, thời kỳ đầu hoàn thiện khung pháp lý về ĐTRNN 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com đã định nghĩa và xác định đầu tư theo hình thức góp vốn và tính chất quản lý của nhà đầu tư đối với vốn đầu tư, theo đó đã chia thành đầu tư trực tiếp và đầu tư gián tiếp. Đầu tư trực tiếp là hình thức đầu tư do nhà đầu tư bỏ vốn đầu tư và tham gia quản lý hoạt động đầu tư (Điều 3 khoản 2 Luật đầu tư 2005). ĐTTT là nhà đầu tư trực tiếp tham gia quản lý hoạt động và chịu trách nhiệm về kết quả sản xuất kinh doanh, nhà đầu tư cần phải có nghề trong lĩnh vực mình đầu tư.
Trong hoạt động đầu tư không tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý của nhà đầu tư với vốn đầu tư [1, tr. Đến năm 2015, khi hoạt động ĐTRNN đã thực hiện được hơn 15 năm, Luật đầu tư 2015 chỉ đưa ra một định nghĩa chung là Đầu tư kinh doanh, không phân biệt đầu tư trực tiếp và gián tiếp nữa, tương tự thì hoạt động Đầu tư ra nước ngoài cũng được ghi nhận chung là “Hoạt động đầu tư ra nước ngoài” mà không phân biệt đầu tư trực tiếp hay gián tiếp ra nước ngoài, nhưng các nội dung quy định tại Chương V Luật đầu tư 2014 thì ghi nhận Hoạt động đầu tư ra nước ngoài chính là hoạt động trực tiếp ra nước ngoài khi điều 52 khoản 1 điểm d ghi nhận hoạt động “Mua, bán chứng khoán, giấy tờ có giá khác hoặc đầu tư thông qua các quỹ đầu tư chứng khoán, các định chế tài chính trung gian khác ở nước ngoài” sẽ được Chính phủ quy định chi tiết hình thức đầu tư này [14, tr. Khái niệm Đầu tư ra nước ngoài được giải thích cụ thể tại Nghị định 83/2015/NĐ-CP ngày 25/9/2015 quy định về đầu tư ra nước ngoài (Nghị định 83/2015): Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó (Điều 3 khoản 1 Nghị định 83/2015). Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài Đầu tư ra nước ngoài là việc nhà đầu tư chuyển vốn; hoặc thanh toán mua một phần hoặc toàn bộ cơ sở kinh doanh; hoặc xác lập quyền sở hữu để thực hiện 7 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com hoạt động đầu tư kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam; đồng thời trực tiếp tham gia quản lý hoạt động đầu tư đó.
Về thực chất ĐTTTRNN là loại hình đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư quốc tế để xây dựng hoạt mua một cổ phần, thậm chí toàn bộ cơ sở kinh doanh ở nước ngoài để làm chủ sở hữu toàn bộ hay một phần cơ sở đó. Trực tiếp quản lý điều hành hoặc tham gia quản lý điều hành hoạt động đối với đối tượng mà họ bỏ vốn đầu tư. Chịu trách nhiệm theo mức sở hữu về kết quản sản xuất kinh doanh của cơ sở đó. Đầu tư ra nước ngoài có các đặc điểm sau: - Chủ đầu tư nước ngoài phải góp một số vốn tối thiểu vào vốn pháp định, tùy theo luật đầu tư nước ngoài của nước tiếp nhận vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài quy định, quyền sở hữu vốn và quyền sử dụng vốn gắn liền với chủ đầu tư.
- Quyền quản lý xí nghiệp phụ thuộc vào mức độ góp vốn của mỗi bên. Với doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài thì chủ đầu tư toàn quyền quản lý doanh nghiệp. - Lợi nhuận của nhà đầu tư nước ngoài phụ thuộc vào kết quả hoạt động kinh doanh và được phân chia theo tỷ lệ góp vốn. - Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài được thực hiện thông qua việc thành lập doanh nghiệp mới, mua lại toàn bộ hoặc một phần doanh nghiệp đang hoạt động hoặc sát nhập các doanh nghiệp với nhau.
- Đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không chỉ gắn liền với di chuyển vốn mà còn gắn với chuyển giao công nghệ, chuyển giao kiến thức và kinh nghiệm quản lý, tạo ra thị trường mới cho cả phía đầu tư và phía tiếp nhận đầu tư. Vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài không chỉ bao gồm vốn đầu tư ban đầu của chủ đầu tư dưới hình thức vốn pháp định mà nó còn bao gồm cả vốn vay của doanh nghiệp để triển khai và mở rộng dự án cũng như vốn đầu tư trích từ lợi nhuận thu được trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp. - Vốn đầu tư trực tiếp ra nước ngoài tạo ra một nguồn vốn dài hạn cho nước chủ nhà và ít chịu sự chi phối của chính phủ cũng như các quan hệ chính trị giữa chủ đầu tư với chính phủ nước tiếp nhận đầu tư. Trên thực tế, đầu tư ra nước ngoài được thực hiện dưới rất nhiều dạng, một số 8 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com dạng cơ bản, phổ biến ở nước ta bao gồm: (i).
Hợp đồng hợp tác kinh doanh; (ii). Doanh nghiệp liên doanh; Doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài; (iii). Các hình thức đầu tư thông qua Hợp đồng như Hợp hợp đồng BOT, BTP, BT [14, tr. Vai trò của đầu tư ra nước ngoài Năm 2009, sau 10 năm đầu tư ra nước ngoài kể từ khi có cơ chế mang tính pháp lý đầu tiên cho hoạt động đầu tư ra nước ngoài, mặc dù trước đó đã có nhiều doanh nghiệp thực hiện đầu tư ra và có hiệu quả.
Nhưng đến hiện nay, hoạt động đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam còn mang tính tự phát của doanh nghiệp, phát triển chưa tương xứng với tiềm năng: Số lượng và quy mô các dự án còn nhỏ so với các nước có điều kiện tương tự; nhiều doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài gặp nhiều khó khăn mà không có sự hỗ trợ từ các cấp có thẩm quyền. Ngoài nguyên nhân nội tại của nhà đầu tư thì nguyên nhân quan trọng nhất tác động toàn diện đến chiến lược, thể chế chính sách, thủ tục hành chính đối với các hoạt động đầu tư ra nước ngoài, đó là các cấp quản lý nhà nước có thẩm quyền, xã hội chưa coi trọng vai trò của đầu tư ra nước ngoài đối với sự phát triển kinh tế đất nước trong điều kiện trong nước còn thiếu nguồn lực tài chính, phải tăng cường kêu gọi vốn FDI để tham gia xây dựng đất nước. Việc kêu gọi đầu tư vào đang gặp nhiều khó khăn, trong khi việc đầu tư ra nước ngoài lại mang ngoại tệ từ trong nước ra nước ngoài. Chính điều đó đã làm giảm lợi thế trong việc đàm phán song phương khi ký hiệp định khuyến khích và bảo hộ đầu tư.
Thường chúng ta sẽ chỉ ký và đàm phán tốt được với các nước không có đầu tư vào Việt Nam, còn các nước chúng ta không đầu tư, chỉ có họ đầu tư đến chúng ta sẽ bỏ qua mất lợi thế đàm phán [14, tr.25] Qua nghiên cứu các tài liệu và tình hình thực tế có thể thấy việc nhận định về vai trò của hoạt động ĐTRNN như trên là chưa thỏa đáng, khiến cho việc hoàn thiện cơ chế chính sách cho loại hình đầu tư này diễn ra chậm. Nhiều nước trên thế giới, kể cả các nước đang phát triển vẫn khuyến khích hoạt động đầu tư ra nước ngoài vì vai trò tích cực đối với nước xuất khẩu vốn và nhà đầu tư ở nước ngoài, cụ thể như: (i). Đối với quốc gia: Giúp củng cố vai trò chính trị và vị thế kinh tế của VN trong khu vực và trên thế giới. Hoạt động đầu tư ra nước ngoài luôn đi kèm với hoạt động kinh tế đối ngoại của Việt Nam; Khi thanh công hoạt động đầu tư nước ngoài 9 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com góp phàn tác động ngược lại nền kinh tế trong nước theo hướng thúc đẩy công cuộc cải tổ nền kinh tế, cải cách về thể chế chính sách, về thuế, thủ tục hành chính, hệ thống thông tin đối ngoại, chính sách điều hành vĩ mô.
Góp phần tạo ra đội ngũ thương nhân năng động, có kinh nghiệm kinh doanh quốc tế, góp phần làm tăng năng lực quốc gia. góp phần thúc đẩy hoạt động thương mại quốc tế của VN theo hướng ổn định và có hiệu quả hơn vì chính cơ sở sản xuất và dịch vụ ở nước ngoài là điểm đến của hàng hóa, thiết bị, bí quyết công nghệ (y khoa, chế biến thực phẩm…), nhân công của Việt Nam [14, tr.