Tổng quan nghiên cứu

Tính đến hết năm 2018, Việt Nam đã ghi nhận 1.469 dự án đầu tư trực tiếp ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký đạt 22,1 tỷ USD, trong đó có 1.172 giấy chứng nhận còn hiệu lực với tổng quy mô vốn 20,2 tỷ USD. Hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài đóng vai trò như một đòn bẩy chiến lược giúp nền kinh tế mở rộng không gian phát triển, tiếp cận nguồn nguyên liệu, mở rộng thị trường và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế. Tuy nhiên, thực tiễn triển khai cho thấy hiệu quả kinh doanh của nhiều dự án còn hạn chế, tỷ lệ chuyển lợi nhuận về nước chưa tương xứng với quy mô vốn đăng ký và tiềm ẩn nhiều rủi ro pháp lý xuyên biên giới.

Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là tính tương thích, đồng bộ của hệ thống pháp luật Việt Nam điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài, tập trung vào đối tượng đặc thù là các doanh nghiệp có nguồn vốn Nhà nước. Mục tiêu cụ thể của đề tài nhằm làm rõ cơ sở lý luận, đánh giá toàn diện thực trạng áp dụng pháp luật và thực tiễn giải ngân dòng vốn đầu tư trong giai đoạn 2005 - 2018. Phạm vi nghiên cứu tập trung vào các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước hoạt động tại các địa bàn chiến lược như Lào, Campuchia, Liên bang Nga và các dự án khai khoáng, viễn thông quy mô lớn.

Ý nghĩa thực tiễn của công trình nghiên cứu được đo lường thông qua việc đề xuất hệ thống giải pháp nâng cao hiệu quả quản trị cho 187 dự án của khối doanh nghiệp có vốn Nhà nước với tổng vốn 15,22 tỷ USD. Đồng thời, nghiên cứu góp phần hoàn thiện cơ chế kiểm soát dòng tiền 8,1 tỷ USD đã thực chuyển ra nước ngoài, bảo toàn tài sản công và tạo hành lang pháp lý thông thoáng cho doanh nghiệp hội nhập quốc tế.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu được xây dựng trên nền tảng lý thuyết lợi thế so sánh và mô hình chiết trung OLI của John Dunning về động lực đầu tư trực tiếp quốc tế, kết hợp lý thuyết quản trị tài sản công và trách nhiệm giải trình trong khu vực doanh nghiệp Nhà nước. Bên cạnh đó, tác giả vận dụng các khái niệm pháp lý then chốt bao gồm: đầu tư trực tiếp ra nước ngoài theo quy định tại Điều 3 và Điều 52 Luật Đầu tư 2014, doanh nghiệp có nguồn vốn Nhà nước theo Điều 3 Luật số 69/2014/QH13, và cơ chế chuyển quyền sở hữu vốn ngoài lãnh thổ theo Nghị định 83/2015/NĐ-CP. Khung phân tích cũng tích hợp các cam kết quốc tế từ 67 Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư song phương cùng 75 Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mà Việt Nam đã ký kết tính đến năm 2016.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu sử dụng nguồn dữ liệu thứ cấp toàn diện từ hệ thống báo cáo giám sát của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, Bộ Tài chính trong giai đoạn 13 năm từ 2005 đến 2018.

Cỡ mẫu nghiên cứu bao trùm toàn bộ 1.469 dự án đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam, trong đó áp dụng phương pháp chọn mẫu mục đích để đi sâu phân tích 187 dự án trọng điểm thuộc các doanh nghiệp có nguồn vốn Nhà nước. Tiêu chí chọn mẫu tập trung vào 6 tập đoàn, tổng công ty nắm giữ quy mô vốn đăng ký trên 1 tỷ USD, điển hình như Tập đoàn Dầu khí Việt Nam và Tập đoàn Công nghiệp - Viễn thông Quân đội.

Lý do lựa chọn phương pháp phân tích luật học so sánh kết hợp quy nạp, diễn dịch và phân tích định lượng dòng tiền là nhằm đối chiếu chính xác giữa quy định pháp luật trên văn bản với thực tế xử lý hồ sơ hành chính, chuyển giao vốn đầu tư và mức độ thu hồi lợi nhuận của từng dự án.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, giai đoạn 2009 - 2017 chứng kiến sự bùng nổ mạnh mẽ nhất về quy mô khi có 895 dự án được cấp phép với 17,4 tỷ USD vốn đăng ký, chiếm tới 69,9% tổng số dự án và 81,3% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của cả nước. Trong bức tranh chung này, khối doanh nghiệp có nguồn vốn Nhà nước đóng vai trò chủ đạo với 187 dự án, đạt tổng vốn đăng ký cấp mới và tăng thêm là 15,22 tỷ USD, chiếm gần 70% tổng vốn đầu tư của toàn quốc.

Thứ hai, cơ cấu ngành và địa bàn đầu tư của khối doanh nghiệp có vốn Nhà nước có sự tập trung rất cao. Ngành khai khoáng, dầu khí dẫn đầu tuyệt đối với 52 dự án có tổng vốn 9,16 tỷ USD, chiếm 60,20% tổng vốn đầu tư; lĩnh vực thông tin truyền thông đứng thứ hai với 28 dự án đạt 2,70 tỷ USD, chiếm 17,77%. Về địa bàn, 5 quốc gia dẫn đầu chiếm trên 61% tổng vốn của khối này, gồm Lào với 61 dự án trị giá 2,42 tỷ USD, Liên bang Nga với 6 dự án trị giá 2,28 tỷ USD, Venezuela đạt 1,82 tỷ USD, Campuchia đạt 1,53 tỷ USD và Peru đạt 1,33 tỷ USD.

Thứ ba, hiệu quả thực chuyển vốn và thu hồi lợi nhuận còn thấp. Lũy kế đến hết năm 2018, tổng vốn thực chuyển ra nước ngoài đạt 8,1 tỷ USD, trong khi tổng lợi nhuận chuyển về nước mới đạt 1,23 tỷ USD và số tiền nộp ngân sách Nhà nước đạt 39 triệu USD. Đã có 298 dự án phải chấm dứt hiệu lực giấy chứng nhận đầu tư do không thể triển khai hoặc kinh doanh thua lỗ. Điển hình trong lĩnh vực dầu khí, có 18 trên tổng số 31 dự án đã và đang phải làm thủ tục chấm dứt hoạt động do không phát hiện thương mại hoặc rủi ro địa chất.

Thứ tư, tỷ trọng vốn chuyển ra nước ngoài của khối doanh nghiệp Nhà nước sụt giảm rõ rệt từ mức khoảng 80% giai đoạn trước năm 2015 xuống còn 40% đến 45% sau khi Luật Đầu tư 2014 và Luật 69/2014/QH13 có hiệu lực, nhường không gian cho sự vươn lên của khối doanh nghiệp tư nhân.

Thảo luận kết quả

Khi tổng hợp số liệu trên biểu đồ cột so sánh giữa vốn đăng ký 22,1 tỷ USD và vốn thực chuyển 8,1 tỷ USD, kết hợp bảng cơ cấu ngành, có thể thấy rõ độ trễ lớn trong quá trình giải ngân và hiện thực hóa dự án. Nguyên nhân chủ quan xuất phát từ năng lực quản trị rủi ro quốc tế của doanh nghiệp còn hạn chế, công tác thẩm định thị trường chưa sâu sát, dẫn đến tình trạng mắc kẹt dòng vốn tại các thị trường xa xôi.

Về mặt khách quan, hệ thống văn bản pháp luật còn nhiều khoảng trống và rào cản. Quy trình thẩm định phê duyệt chủ trương đầu tư phải qua nhiều tầng nấc trung gian giữa cơ quan chủ quản, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính và Ngân hàng Nhà nước, thường vượt quá thời hạn 15 ngày làm việc theo quy định. Hơn nữa, việc thiếu hướng dẫn cụ thể về chuyển tiền khảo sát dự án trước khi có giấy chứng nhận đầu tư và thiếu cơ chế chuyển tiền xử lý nghĩa vụ hoàn trả môi trường sau khi kết thúc dự án đã đẩy doanh nghiệp vào thế vi phạm hành chính hoặc đánh mất cơ hội đầu tư kinh doanh.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, đơn giản hóa và chuẩn hóa quy trình cấp phép đầu tư ra nước ngoài. Bộ Kế hoạch và Đầu tư cần nâng cấp Hệ thống thông tin quốc gia về đầu tư để thực hiện 100% thủ tục đăng ký qua môi trường điện tử, giảm thời gian lấy ý kiến liên bộ từ 15 ngày xuống còn tối đa 7 ngày làm việc. Cần phân định rõ ràng giữa quy trình áp dụng cho dự án sử dụng 100% vốn Nhà nước và dự án của doanh nghiệp chỉ có một phần vốn góp Nhà nước, nhằm xóa bỏ cơ chế xin cho và hoàn thành chuyển đổi sang cơ chế hậu kiểm trong giai đoạn 2021 - 2023.

Thứ hai, hoàn thiện quy định quản lý ngoại hối và chuyển vốn đầu tư. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phối hợp cùng Bộ Tài chính ban hành thông tư hướng dẫn chi tiết việc chuyển kinh phí khảo sát thị trường trước cấp phép và kinh phí phục hồi môi trường sau kết thúc dự án với định mức cho phép từ 1% đến 5% tổng vốn dự kiến. Giải pháp này cần triển khai ngay trong vòng 12 tháng tới để tháo gỡ tắc nghẽn cho các dự án khai khoáng và năng lượng.

Thứ ba, nâng cao quyền chủ động và trách nhiệm giải trình của Người đại diện phần vốn Nhà nước. Các bộ, ngành chủ quản cần rà soát quy chế đại diện vốn theo Luật số 69/2014/QH13, lượng hóa chỉ tiêu bảo toàn vốn gắn với hiệu quả kinh doanh, đồng thời phân cấp quyền biểu quyết các vấn đề vận hành thông thường tại đại hội đồng cổ đông nhằm rút ngắn thời gian xin ý kiến chỉ đạo từ 30 ngày xuống dưới 5 ngày làm việc.

Thứ tư, đẩy mạnh ngoại giao kinh tế và ký kết hiệp định bảo hộ đầu tư. Bộ Ngoại giao và Bộ Công Thương cần chủ động đàm phán, tiến tới ký kết mới Hiệp định Khuyến khích và Bảo hộ Đầu tư cùng Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với các thị trường đang có dòng vốn lớn của Việt Nam như Tanzania và Cameroon, phấn đấu nâng tỷ lệ dòng vốn đầu tư ra nước ngoài được bảo hộ bằng điều ước quốc tế lên trên 95% trước năm 2025.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nhóm thứ nhất là hội đồng quản trị, ban điều hành và người đại diện vốn tại các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước. Nhóm này có thể ứng dụng trực tiếp các bài học kinh nghiệm từ 187 dự án thực tế để xây dựng ma trận quản trị rủi ro tỷ giá, lựa chọn cấu trúc dự án và thiết lập quy trình chuyển lợi nhuận về nước an toàn.

Nhóm thứ hai là các chuyên viên hoạch định chính sách tại Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Ngân hàng Nhà nước và Bộ Tài chính. Luận văn cung cấp luận cứ thực tiễn sắc bén phục vụ công tác sửa đổi Luật Đầu tư, hoàn thiện Nghị định 83/2015/NĐ-CP và xây dựng các thông tư hướng dẫn giám sát dòng tiền ngoại tệ.

Nhóm thứ ba là đội ngũ luật sư, chuyên gia tư vấn đầu tư quốc tế và phòng pháp chế doanh nghiệp. Đây là tài liệu tham khảo giá trị để tra cứu thủ tục đầu tư, đánh giá mức độ tương thích của các hiệp ước song phương và hỗ trợ giải quyết tranh chấp kinh doanh ngoài lãnh thổ Việt Nam.

Nhóm thứ tư là các giảng viên, nhà nghiên cứu và học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Kinh doanh quốc tế. Công trình đóng vai trò như một nguồn tài liệu học thuật hệ thống hóa toàn diện quá trình tiến hóa của khung pháp lý đầu tư ra nước ngoài tại Việt Nam qua các thời kỳ 1999, 2005 và 2014.

Câu hỏi thường gặp

  1. Doanh nghiệp có vốn Nhà nước khi đầu tư ra nước ngoài phải đáp ứng những điều kiện pháp lý cốt lõi nào? Doanh nghiệp phải có dự án đầu tư được phê duyệt theo thẩm quyền, hoàn thành đầy đủ nghĩa vụ tài chính với ngân sách Nhà nước, chứng minh nguồn vốn hợp pháp và được cơ quan quản lý cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư ra nước ngoài. Ngoài ra, dự án cần văn bản chấp thuận sử dụng vốn của cơ quan đại diện chủ sở hữu theo Luật số 69/2014/QH13.

  2. Vì sao tỷ trọng vốn đầu tư ra nước ngoài của khối doanh nghiệp Nhà nước giảm mạnh từ 80% xuống 40% sau năm 2015? Sự sụt giảm này phản ánh hiệu lực của Luật Đầu tư 2014 và Nghị định 83/2015/NĐ-CP khi siết chặt quy trình thẩm định vốn Nhà nước, kiểm soát rủi ro các dự án quy mô lớn. Đồng thời, chủ trương tái cơ cấu và cổ phần hóa doanh nghiệp Nhà nước giai đoạn này đã định hướng tập trung nguồn lực công vào các ngành kinh tế nội địa trọng yếu.

  3. Doanh nghiệp Việt Nam gặp phải những vướng mắc lớn nhất nào về dòng tiền khi đầu tư ra nước ngoài? Vướng mắc phổ biến là thủ tục chuyển ngoại tệ trước cấp phép để đặt cọc hoặc khảo sát dự án chưa có hành lang rõ ràng. Nhiều dự án kinh doanh tại châu Phi và Nam Mỹ có doanh thu tốt bằng đồng nội tệ nhưng gặp rủi ro mất giá tiền tệ cục bộ và không thể quy đổi sang USD để chuyển 1,23 tỷ USD lợi nhuận về nước đúng tiến độ.

  4. Hiệp định tránh đánh thuế hai lần mang lại lợi ích cụ thể gì cho doanh nghiệp đầu tư ra nước ngoài? Hiệp định giúp miễn, giảm hoặc khấu trừ số thuế thu nhập doanh nghiệp đã nộp tại nước tiếp nhận đầu tư vào số thuế phải nộp tại Việt Nam. Quy định này bảo đảm doanh nghiệp không bị đánh thuế trùng, giúp tiết kiệm chi phí vận hành và bảo toàn lợi nhuận lũy kế chuyển về nước cho hơn 1.000 dự án đang hoạt động.

  5. Luận văn đưa ra giải pháp gì để nâng cao tính linh hoạt cho Người đại diện phần vốn Nhà nước? Luận văn kiến nghị xây dựng quy chế phân quyền rõ ràng, cho phép Người đại diện tự quyết các vấn đề kinh doanh thông thường theo thẩm quyền quản trị công ty tại nước sở tại. Đồng thời, thiết lập cơ chế xin ý kiến khẩn cấp qua hệ thống số để nhận phản hồi từ cơ quan chủ quản trong vòng 5 ngày làm việc thay vì kéo dài hàng tháng.

Kết luận

  • Luận văn đã hệ thống hóa toàn diện khung pháp lý điều chỉnh hoạt động đầu tư trực tiếp ra nước ngoài của Việt Nam qua 4 giai đoạn phát triển từ năm 1989 đến năm 2018.
  • Công trình đã phân tích sâu sắc bức tranh thực tiễn của 1.469 dự án toàn quốc và 187 dự án sử dụng vốn Nhà nước với quy mô 15,22 tỷ USD, chỉ rõ những điểm nghẽn trong khâu phê duyệt và hồi hương dòng vốn.
  • Đề tài đóng góp hệ thống 4 nhóm giải pháp thực tiễn từ cải cách thủ tục đăng ký điện tử, khơi thông cơ chế quản lý ngoại hối đến nâng cao quyền hạn đại diện vốn và mở rộng bảo hộ ngoại giao.
  • Lộ trình hoàn thiện khung pháp lý cần tập trung sửa đổi, bổ sung đồng bộ các văn bản hướng dẫn Luật Đầu tư và Luật số 69/2014/QH13 trong giai đoạn 2021 - 2025.
  • Các nhà quản lý chính sách và lãnh đạo doanh nghiệp cần nhanh chóng ứng dụng các khuyến nghị của nghiên cứu để nâng cao hiệu quả dòng vốn đầu tư quốc tế và thúc đẩy doanh nghiệp Việt Nam hội nhập vững chắc.