Chương 1. Khái quát quy định pháp luật về đăng ký doanh nghiệp. Thực tiễn áp dụng pháp luật về đăng ký doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh Long An và giải pháp hoàn thiện. KHÁI QUÁT QUY ĐỊNH PHÁP LUẬT VỀ ĐĂNG KÝ DOANH NGHIỆP 1.
Khái niệm đăng ký doanh nghiệp Hiện nay, hầu hết các quốc gia trên thế giới đều muốn xây dựng một nền kinh tế phát triển hùng mạnh, hội nhập với nền kinh tế quốc tế, mở rộng kinh doanh, không ngừng tìm tòi sáng tạo trong hoạt động sản xuất, kinh doanh. Tuy nhiên, để đảm bảo tính hợp pháp cho hoạt động kinh doanh của mình, tránh sự can thiệp trái pháp luật của các tổ chức, cá nhân nhằm cản trở hoạt động kinh doanh; đồng thời cũng để đảm bảo cho hoạt động quản lý Nhà nước, lợi ích chung của cộng đồng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác trong các quan hệ dân sự, kinh tế, thương mại, hợp tác quốc tế thì các chủ thể kinh doanh cần phải tiến hành thủ tục đăng ký với các cơ quan Nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, việc thực hiện thủ tục đăng ký doanh nghiệp của chủ thể kinh doanh với cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cũng là một trong những phương thức thể hiện sự tự do trong kinh doanh, ghi nhận về mặt pháp lý sự ra đời của một chủ thể kinh doanh. Kể từ thời điểm đăng ký kinh doanh, chủ thể kinh doanh có đầy đủ các năng lực pháp lý để tiến hành hoạt động kinh doanh theo quy định của pháp luật.
Nhà nước cung cấp những đảm bảo đầy đủ về mặt chính trị - pháp lý để chủ thể kinh doanh có điều kiện thực hiện hoạt động kinh doanh của mình. Về góc độ kinh tế: đăng ký doanh nghiệp là việc chuẩn bị đầy đủ các điều kiện như vốn, dây chuyền sản xuất, đội ngũ nhân viên, nhà xưởng, thiết bị kỹ thuật… để thực hiện việc đầu tư, kinh doanh, sản xuất tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời. Về góc độ pháp lý: Đăng ký doanh nghiệp4 là việc người thành lập doanh nghiệp đăng ký thông tin về doanh nghiệp dự kiến thành lập, doanh nghiệp đăng ký những thay đổi hoặc dự kiến thay đổi trong thông tin về đăng ký doanh nghiệp với 4 Khoản 1 Điều 3 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14 tháng 09 năm 2015 của Chính phủ về đăng ký doanh nghiệp 6 cơ quan đăng ký kinh doanh và được lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập doanh nghiệp, đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp và các nghĩa vụ đăng ký, thông báo khác theo quy định.
Ngoài ra, theo Từ điển Luật học định nghĩa đăng ký kinh doanh5 là: “Sự ghi nhận bằng văn bản của cơ quan Nhà nước có thẩm quyền về mặt pháp lý sự ra đời của chủ thể kinh doanh”. Như vậy, chúng ta có thể hiểu đăng ký doanh nghiệp là thực hiện một TTHC theo quy định của pháp luật; trong đó, các chủ thể kinh doanh bắt buộc phải thực hiện theo đúng trình tự, thủ tục quản lý của cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong lĩnh vực đăng ký kinh doanh để tiến hành đăng ký hoạt động; đồng thời, công khai sự ra đời của mình đối với các tổ chức, cá nhân hoạt động kinh doanh khác, với cộng đồng xã hội nói chung. Ngược lại, cơ quan Nhà nước có thẩm quyền có nghĩa vụ xem xét và Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo đúng trình tự quy định của pháp luật. Điều kiện đăng ký doanh nghiệp 1.
Chủ thể đăng ký doanh nghiệp Hiện nay Luật Doanh nghiệp 2020 vừa mới được công bố quy định các chủ thể tiến hành đăng ký doanh nghiệp, góp vốn đăng ký doanh nghiệp là cá nhân, tổ chức thỏa mãn các điều kiện theo quy định của pháp luật như: năng lực pháp lý, quốc tịch, khả năng tài chính, ngành nghề kinh doanh. * Đối với chủ thể đăng ký doanh nghiệp là cá nhân: Tự do kinh doanh là một trong những quyền cơ bản của con người; tuy nhiên, không phải mọi cá nhân nào cũng được quyền tự do kinh doanh mà phải đáp ứng các điều kiện cơ bản như : 5 Từ điển Luật học của Viện Khoa học pháp lý, Nhà xuất bản Tư pháp thuộc Bộ Tư pháp phối hợp với Nhà xuất bản Từ điển bách khoa xuất bản năm 2006. 7 - Độ tuổi: hiện nay, pháp luật Việt Nam quy định cá nhân có quyền góp vốn đăng ký doanh nghiệp khi đủ 18 tuổi… - Có năng lực hành vi dân sự: có khả năng hành động của chính chủ thể để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình (gồm cả năng lực tự chịu trách nhiệm dân sự khi vi phạm nghĩa vụ dân sự). Có nghĩa là cá nhân có khả năng nhận biết được hành vi của mình và chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo quy định pháp luật hiện hạn, người từ 18 tuổi trở lên và không mắc bệnh tâm thần và các bệnh khác không thể nhận thức được hoặc làm chủ được hành vi của mình là người có năng lực hành vi.
Do đó, người chưa thành niên chưa đạt điều kiện năng lực hành vi như bị hạn chế năng lực hành vi hoặc mất năng lực hành vi dân sự không thể trở thành chủ thể đăng ký doanh nghiệp. * Đối với chủ thể đăng ký doanh nghiệp là tổ chức: - Một tổ chức muốn đăng ký doanh nghiệp phải đảm bảo các điều kiện như: phải được thành lập hợp pháp, phải có tài sản riêng, có thẩm quyền kinh doanh. - Một tổ chức được xem là thành lập hợp pháp khi tổ chức này được thành lập theo đúng trình tự, thủ tục pháp luật quy định. - Tổ chức muốn đăng ký doanh nghiệp có tài sản riêng để thực hiện các hoạt động kinh doanh độc lập, tài sản riêng là cơ sở vật chất không thể thiếu được để các tổ chức thực hiện được quyền và nghĩa vụ tài sản đối với bên cùng quan hệ.
Đây là còn là dấu hiệu cơ bản của pháp nhân theo quy định của Bộ Luật Dân sự. Một tổ chức được coi là có tài sản riêng khi tổ chức đó có khối tài sản nhất định, phân biệt với tài sản của cá nhân, tổ chức khác, đồng thời, có quyền định đoạt khối tài sản đó. - Thẩm quyền kinh doanh là tổng hợp các quyền và nghĩa vụ trong kinh doanh mà pháp luật ghi nhận. Thẩm quyền này tương ứng với chức năng, nhiệm vụ, lĩnh vực hoạt động của chủ thể.
Đó chính là những giới hạn pháp lý mà trong đó các chủ thể kinh doanh được hoạt động hoặc không được phép hoạt động 8 Ngoài ra, một số tổ chức, cá nhân có đầy đủ các điều kiện theo phân tích nêu trên; tuy nhiên vẫn bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam theo quy định tại khoản 2 Điều 18 Luật Doanh nghiệp 2014, gồm: các Cơ quan nhà nước, đơn vị vũ trang nhân dân sử dụng tài sản nhà nước để thành lập doanh nghiệp kinh doanh thu lợi riêng cho cơ quan, đơn vị mình; Cán bộ, công chức, viên chức theo quy định của pháp luật về cán bộ, công chức, viên chức; Sĩ quan, hạ sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân, viên chức quốc phòng trong các cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan chuyên nghiệp trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp; Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong doanh nghiệp nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tạo doanh nghiệp khác; Người chưa thành niên; người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc bị mất năng lực hành vi dân sư; tổ chức không có tư cách pháp nhân; Người đang bị truy cứu trách nhiệm hình sự; chấp hành hình phạt tù, quyết định xử lý hành chính tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, cơ sở giáo dục bắt buộc hoặc đang bị cấm hành nghề kinh doanh, đảm nhiệm chức vụ hoặc làm công việc nhất định, liên quan đến kinh doanh theo quyết định của Tòa án; các trường hợp khác theo quy định của pháp luật về phá sản, phòng, chống tham nhũng. Bên cạnh đó, Luật Doanh nghiệp năm 2020 cũng bổ sung thêm nhiều đối tượng không được phép thành lập, quản lý doanh nghiệp, gồm: - Người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi; - Công nhân, công an trong các cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân Việt Nam (trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp); - Tổ chức là pháp nhân thương mại bị cấm kinh doanh, cấm hoạt động trong một số lĩnh vực nhất định theo quy định của Bộ luật Hình sự. 9 Hầu hết các chủ thể đăng ký doanh nghiệp bị cấm tham gia vào quá trình thành lập và quản lý doanh nghiệp là những tổ chức, cá nhân thuộc cơ quan nhà nước. Việc quy định như vậy nhằm hạn chế tình trạng lợi dụng chức quyền của một bộ phận cán bộ, công chức, viên chức tham gia đăng ký doanh nghiệp trên chính lĩnh vực mình quản lý để trục lợi bất hợp pháp gây ảnh hưởng đến uy tín của cơ quan nhà nước; tuy nhiên, việc quy định cấm một số chủ thể tham gia vào quá trình đăng ký doanh nghiệp đã vô tình làm hạn chế quyền tự do kinh doanh của con người.
Đây cũng là vấn đề được rất nhiều nhà làm luật tranh luận trong thời gian vừa qua. Với những quy định nêu trên, pháp luật Việt Nam đã quy định những điều kiện về chủ thể đăng ký doanh nghiệp nhằm đảm bảo chủ thể khi tham gia vào thương trường hoàn toàn có khả năng thực hiện được ý tưởng của mình, đạt được hiệu quả cao, góp phần tăng trưởng, phát triển kinh tế của đất nước, đồng thời, gánh chịu được hậu quả pháp lý mà mình gây ra. Ngành nghề kinh doanh Hiện nay, theo quy định của pháp luật Việt Nam thì doanh nghiệp có quyền tự do kinh doanh những ngành nghề mà pháp luật không cấm. Tuy nhiên, trên thực tế các doanh nghiệp chỉ được kinh doanh những ngành nghề đã được đăng ký kinh doanh tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền.