chương 1. Phương pháp so sánh, đánh giá, phân tích các QĐÐ CVTD. Phân tích các QĐ, bản án để giúp tìm ra những sự tích cực hay những bắt cập. Phương pháp quy nạp, tổng hợp giúp đưa ra nhận định chung sau khi phân tích và làm rõ một số vấn đề được đặt ra.
Các phương pháp này giúp nhận thấy rõ hơn việc áp dụng ở thực tiễn QÐ CVTD tại các NHTM Việt Nam ở chương 2. Tác giả còn dùng phương pháp diễn giải, tổng hợp để có các đề xuất, giải pháp góp phần hoàn thiện PL về CVTD tại các NHTM Việt Nam ở chương 3. Việc sử dụng kết hợp nhiều phương pháp trên giúp luận văn được xem xét, nhìn nhận ở nhiều góc độ, nhiều mặt khác nhau, để trình bày một cách toàn diện các vấn đề đang nghiên cứu. NỘI DUNG NGHIÊN CỨU Luận văn nghiên cứu về các cơ sở lý luận, các quy phạm pháp luật của Việt Nam về CVTD và thực tiễn áp dụng tại các NHTM Việt Nam.
Tiếp đến, luận văn phân tích, đánh giá việc áp dụng các QÐ nảy vào thực tế tại các NHTM trong thời gian qua ở Việt Nam. Từ đó, luận văn đề xuất một vài kiến nghị, giải pháp đề hoàn thiện pháp luật, tránh hay hạn chế được những vướng mắc bắt cập, trong hoạt động CVTD trong thời gian tới tại các NHTM Việt Nam. ĐÓNG GÓP CỦA ĐÈ TÀI Về mặt Ly luận: Luận văn tổng hợp, hệ thống hóa các cơ sở lý luận liên quan đến CVTD và pháp luật về CVTD tại các NHTM. Đồng thời, luận văn cũng góp phần phát triển và bổ sung thêm các cơ sở lý luận liên quan đến CVTD tại các NHTM.
Về mặt thực tiễn: Luận văn có thể được sử dụng như tài liệu tham khảo cho các học viên cao học, sinh viên ở các khoá sau khi nghiên cứu tìm hiểu về hoạt động CVTD tại các NHTM. Bên cạnh đó, các NHTM, các nhà làm luật cũng có thê tham khảo các kiến nghị, giải pháp để có sự điều chỉnh pháp luật về CVTD giúp tránh được hay hạn chế các bất cập, vướng mắc đăng gặp phải trong hoạt động CVTD hiện nay. TONG QUAN VE LĨNH VỰC NGHIÊN CỨU Trong phạm vi được tiếp cận với một số bài viết đã được các tác giải khác thực hiện, tác giả nhận thấy chỉ có một số ít luật gia thực hiện nghiên cứu hoạt động CVTD dưới dạng các bài viết về hoạt động CVTD với các góc độ nội dung khác nhau, chưa thể hiện các vấn đề như bất cap trong QD về lãi suất, lãi quá hạn, hạn mức CVTD, nghĩa vụ cung cấp thông tin trong HĐ CVTD. Tác giả có nghiên cứu một số đề tài đáng chú ý sau: (1) Lương Khải Ân (2019), Pháp luật Việt Nam vé hop dong cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng, Luận án tiến sĩ luật học, Trường Đại học Luật TP.Hồ Chí Minh.
Mục đích của đề tài là làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn của pháp luật về hợp đồng cho vay, đưa ra những giải pháp, kiến nghị có cơ sở khoa học và giá trị thực tiễn để bổ sung, nâng cao hiệu quả áp dụng và hoàn thiện pháp luật về hợp đồng cho vay. (2) Nguyễn Công Đại (2017), Bảo vệ quyên lợi người tiêu dùng trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu ở Việt Nam hiện nay, Luan an tiễn sĩ luật học, Học viện Khoa học Xã hội. Đề tài làm sáng tỏ những vấn đề lý luận về bảo vệ quyền lợi của người tiêu đùng trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu, phân tích, đánh giá thực trạng về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong các giao dịch có sử dụng hợp đồng theo mẫu ở Việt Nam hiện nay, từ đó đề xuất các phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật. (3) Liên Đăng Phước Hải, Đoàn Thị Kiều Nga, "Lãi suất trần trong hoạt động cho vay tiêu dùng - Kinh nghiệm quốc tế và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam", Tạp chí Pháp luật và thực tiễn, Số 51/2022.
Bài viết tập trung phân tích nội dung liên quan đến lãi suất CVTD, thông qua việc tiếp cận các quy định về lãi suất trần của một số quốc gia đối với hoạt động CVTD, cũng như những chính sách quản lý hoạt động CVTD ở một số quốc gia trên thế giới, từ đó đưa ra các kiến nghị hoàn thiện khung pháp lý tại Việt Nam. (4) Đinh Thị Thanh Nhàn, Trần Thu Hà, “Pháp luật về cho vay tiêu dùng tại Việt Nam hiện nay”, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, Số 10/2016. Bài viết đã phân tích thực trạng và chỉ ra những bất cập trong các QÐ PL điều chỉnh hoạt động CVTD tại Việt Nam. Trên cơ sở đó, tác giả đưa ra một số đề xuất hoàn thiện PL hiện hành về vẫn đề này.
(5) Nguyễn Thị Quỳnh Châu, Nguyễn Ngọc Chánh (2020), Hoat déng cho vay tiêu dùng tại các tổ chức tín dụng hiện nay, Tạp chí Tài chính, sỐ 7221723 năm 2020. Bài viết phân tích tình hình hoạt động CVTD tại các TCTD thông qua phương pháp thống kê phân tích và tổng hợp; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao hoạt động CVTD trong giai đoạn hiện nay tại các TCTD. (6) Trần Thị Kim Ánh (2018), “Pháp luật Việt Nam về tín dụng cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại, qua thực tiễn tại Đà Nẵng”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường Đại học Luật - Đại học Huế. Ở phần lý luận, luận văn trình bày khái quát về tín dụng CVTD và PL về CVTD tại các NHTM.
Tiếp theo, luận văn nêu thực trạng PL và thực tiễn thực hiện PL về CVTD tại NHTM ở Đà Nẵng. Từ đó, luận văn đưa ra giải pháp và định hướng hoàn thiện PL về tín dụng CVTD. (7) Trần Văn Tuấn (2020), “Báo vệ quyên lợi bên vay trong hoạt động tín dụng tiêu dùng tại tổ chức tin dụng”, Luận văn thạc sĩ luật học, Trường ĐH Luật TP. Hồ Chí Minh.
Luận văn đã tập trung phân tích để làm rõ thực trạng các QÐ PL về bảo vệ quyền lợi bên vay trong hoạt động CVTD của TCTD bao gồm PL NH và PL về bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng. Dựa vào việc phân tích, đánh giá văn bản PL và việc áp dụng PL trong thực tiễn hoạt động CVTD để tìm ra những vướng mắc khó khăn trong việc áp dụng PL về hoạt động CVTD và đề xuất giải pháp hoàn thiện PL. CHUONG 1: NHUNG VAN DE LY LUAN VA PHAP LUAT VE CHO VAY TIEU DUNG TAI CAC NGAN THUONG MAI TAI VIET NAM 1. Những vấn đề lý luận về cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại 1.
Khái niệm về cho vay tiêu dùng tại các ngân hàng thương mại Khi nền kinh tế phát triển với quy luật tự nhiên tiêu dùng tăng thì việc xu thế người dân đi vay phục vụ tiêu dùng cũng tăng, điều này rất phù hợp với tình hình thực trạng xu hướng hiện nay là chuyên dịch từ tăng trưởng dựa vào chỉ tiêu chính phủ sang đầu tư dựa vào chỉ tiêu tư nhân. Đến nay, cho vay là một trong những lĩnh vực hoạt động tại các NHTM nhằm đáp ứng phục vụ cho người dân với nhu cầu về vốn nhằm ổn định cuộc sống cũng như hỗ trợ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Dưới góc độ pháp luật thì tác giả Lương Khải Ân (2021) cho rằng: Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, mà NHTM cam kết giao cho KH khoản tiền vốn để KH sử dụng vào một mục đích xác định khi đề xuất vay, trong khoảng thời gian được thỏa thuận theo nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi. Hiện nay với sự phát triển không ngừng của xã hội và đa dạng hóa nhiều hoạt động cho vay tại các ngân hàng mỗi một NHTM đã tự xây dựng nên một quy chế cho vay từ đó có rất nhiều hình thức cho vay khác nhau.
Đặc biệt, hoạt động cho vay tiêu dùng hiện nay đang điễn ra sự cạnh tranh quyết liệt, sôi động giữa các ngân, các công ty tài chính. Đây là hình thức cấp nhằm hỗ trợ vốn cho cá nhân, hộ gia đình nhằm mục đích tiêu dùng sinh hoạt cá nhân và gia đình cá nhân đó, phục vụ nhu cầu thiết yếu trong cuộc sống hàng ngày; nâng cao mức sống trong khi thu nhập bình quân hàng ngày chưa có khả năng chỉ trả trong hiện 1 Lương Khải Ân (2021), Hợp đồng cho vay trong lĩnh vực tín dụng ngân hàng lý luận và thực tiễn áp dụng, Nxb. Chính trị Quốc gia, tr. tại như: nhu cầu mua sắm nhà ở, đồ dùng trong gia đình, xe cộ, chi phí học hành, giai tri’.
Khái niệm tiêu dùng theo từ điển tiếng Việt thông dụng có nghĩa là dùng của cải để phục vụ các nhu cầu sinh hoạt, sản xuất. đây mạnh sản xuất để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng; sản xuất hàng tiêu dùng: tiêu dùng cho sản xuất. Còn trong từ điển tiếng Việt phổ thông nghĩa là việc sử dụng của cải vật chất vào mục đích sản xuất hoặc phục vụ đời sống. Do vậy, mục đích vay mượn rất đa dạng, như mua nhà xây dựng hay sửa chữa nhà ở, mua xe, du học, du lịch, cưới hoi,.
Hoạt động CVTD cũng đã hình thành phát triển sớm ở các nước phát triển và vãn đang phát triển mạnh. Việt Nam hiện nay, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thị trường với nhu cầu tiêu dùng của người dân thì CVTD đã phát triển cùng với nhu cầu đó, khoảng thời gian gần đây thị trường Việt Nam, hệ thống NHTM được cơ cấu lại, khái niệm CVTD đã có sự thay đổi và mở rộng. CVTD đã cho vay đối với gia đình có người thân đi xuất khâu lao động, ra nước ngoài du học, khám chữa bệnh ở nước ngoài, đồng thời còn cho vay mua, sửa chữa nhà ở; phương tiện đi chuyển, mua phương tiện sinh hoạt,.” Thực tế cho thấy hiện nay xã hội phát triển không dừng với nhiều sản phẩm cho vay tại các TCTD, hoạt động CVTD đang có sự cạnh tranh mạnh mẽ, quyết liệt ở các TCTD bao gồm NH và các CTTC. Đây là một hình thức cho người dân vay vốn đề tiêu dùng, mua sắm thiết yêu phục vụ nhu cầu đời sống của họ; nâng cấp đời sống gia đình khi người dân có nguồn tải chính, mức thu nhập, chưa đủ dé chi tra một số các sản phẩm muốn mua như: đồ dùng gia đình, du lịch, giáo dục, y tế,.
? Nguyễn Tuyến (1996) Các hình thức pháp lí của quan hệ cho vay để mua hàng tiêu dùng trả góp ở Việt Nam, Tạp chí Luật học. 3 Trần Trọng Triết (2021), Tín dụng tiêu dùng phản ánh “sức khỏe” nền kinh tế; xem tại: hthị trườngps://thiruongtaichinhtiente.vn/tin-dung-tieu-dung-phan-anh-suc-khoe-nen-kinh-te-35568.