Bối cảnh và vấn đề nghiên cứu

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hạ Thị Phương Thảo (Chuyên ngành Luật Đầu tư – Kinh doanh, Ngành Luật kinh tế, Học viện Chính sách và Phát triển, năm 2026) được xây dựng trong bối cảnh nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt, nơi các doanh nghiệp hoạt động kém hiệu quả tất yếu phải rời khỏi thị trường. Khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán, quyền lợi của người lao động (NLĐ) – đối tượng yếu thế nhất trong quan hệ lao động – bị đe dọa nghiêm trọng. Thực tiễn giải quyết các khoản nợ lương, bảo hiểm xã hội (BHXH) bắt buộc, bảo hiểm thất nghiệp (BHTN), bảo hiểm y tế (BHYT), bảo hiểm tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp (BHTNLĐ), cùng trợ cấp thôi việc thường kéo dài và gặp nhiều vướng mắc. Dù Điều 46 Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 (có hiệu lực từ ngày 01/3/2026) kế thừa nguyên tắc ưu tiên thanh toán cho NLĐ sau chi phí phá sản, thực tế ghi nhận nhiều trường hợp tài sản thanh lý của doanh nghiệp không đủ để thanh toán ngay cả chi phí phá sản, khiến quyền ưu tiên của NLĐ khó thực thi. Bên cạnh đó, thủ tục pháp lý phức tạp và sự thiếu hụt kiến thức pháp luật của công nhân tạo rào cản lớn trong việc bảo vệ quyền lợi hợp pháp.

Mục tiêu nghiên cứu tổng quát của đề tài là đánh giá toàn diện các quy định của pháp luật hiện hành về bảo vệ quyền và lợi ích của NLĐ với tư cách chủ nợ ưu tiên đặc biệt trong thủ tục phá sản doanh nghiệp, phân tích thực trạng áp dụng và đề xuất các giải pháp hoàn thiện. Để hiện thực hóa mục tiêu này, tác giả xác lập 04 nhiệm vụ nghiên cứu cụ thể:

  1. Làm rõ cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi người lao động trong thủ tục phá sản dưới góc độ chủ nợ đặc biệt, gắn với lý thuyết công bằng xã hội và kinh nghiệm quốc tế;
  2. Phân tích thực trạng quy định pháp luật hiện hành thông qua việc rà soát Luật Phục hồi, phá sản 2025, Luật Phá sản 2014, Bộ luật Lao động 2019 và các văn bản liên quan;
  3. Đánh giá thực tiễn áp dụng thông qua số liệu, tài liệu tổng kết của cơ quan tài phán và các vụ việc cụ thể nhằm chỉ ra vướng mắc trong việc thực hiện quyền nộp đơn, lập danh sách nợ, tham gia Hội nghị chủ nợ và thanh toán nợ cho người lao động;
  4. Đề xuất các quan điểm, tiêu chí và hệ thống giải pháp sửa đổi luật cùng cơ chế bảo đảm tài chính bổ trợ (như Quỹ bảo lãnh tiền lương) để bảo vệ quyền lợi thực chất cho người lao động.

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là hệ thống các quy định pháp luật Việt Nam về địa vị pháp lý của NLĐ trong thủ tục phá sản doanh nghiệp (trọng tâm là quyền ưu tiên thanh toán lương, bảo hiểm, trợ cấp) và thực tiễn thi hành tại Tòa án nhân dân, tổ chức Công đoàn và Quản tài viên.

Phạm vi nghiên cứu được giới hạn cụ thể:

  • Về nội dung: Tập trung vào địa vị pháp lý của NLĐ với tư cách chủ nợ ưu tiên đặc biệt, bao gồm cơ chế xác lập nợ, thứ tự thanh toán và vai trò đại diện tại Hội nghị chủ nợ; đối tượng doanh nghiệp giới hạn trong 04 loại hình: doanh nghiệp tư nhân, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần (không nghiên cứu hợp tác xã).
  • Về không gian: Nghiên cứu thực tiễn pháp luật tại Việt Nam, kết hợp khảo cứu đối chiếu kinh nghiệm lập pháp của Hoa Kỳ, Pháp, Đức, Nhật Bản và chuẩn mực của Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO).
  • Về thời gian: Khảo sát các quy định pháp luật và số liệu thực tiễn chủ yếu trong giai đoạn từ năm 2015 (khi Luật Phá sản 2014 có hiệu lực) đến thời điểm ban hành và thực thi Luật Phục hồi, phá sản 2025 (năm 2026).

Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu

Về mặt lý luận, khóa luận vận dụng lý thuyết về công bằng xã hội ("Justice as Fairness") của John Rawls và nguyên tắc nhân đạo bảo vệ nhóm yếu thế. Tác giả lập luận rằng NLĐ là bên phụ thuộc hoàn toàn vào tiền lương để sinh tồn, không nắm thông tin tài chính và không có công cụ bảo đảm như chủ nợ ngân hàng hay trái chủ, do đó việc chậm trả lương cấu thành sự xâm phạm nghiêm trọng đến quyền con người theo Điều 23 và Điều 25 Tuyên ngôn Quốc tế Nhân quyền năm 1948. Về khung chuẩn mực quốc tế, nghiên cứu viện dẫn Công ước số 173 năm 1992 của ILO về bảo vệ yêu sách của NLĐ khi người sử dụng lao động mất khả năng thanh toán, phân tích hai trụ cột bảo hộ: cơ chế ưu tiên thanh toán nội tại và thể chế bảo đảm qua quỹ bên ngoài.

Hệ thống văn bản pháp lý được sử dụng làm nền tảng gồm: Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, Luật Phá sản số 51/2014/QH13, Bộ luật Lao động số 45/2019/QH14, Luật Doanh nghiệp số 59/2020/QH14, cùng Nghị định số 64/2026/NĐ-CP ngày 28/02/2026 của Chính phủ. Đồng thời, văn bản đối chiếu luật nước ngoài gồm: Bộ luật Phá sản Hoa Kỳ (U.S. Bankruptcy Code, Mục 507a4), Bộ luật Lao động Pháp (Code du travail, Điều L3253-2), Luật Phá sản Đức (InsO, Điều 142), Bộ luật An sinh Xã hội Đức (SGB III, Điều 358) và Luật Đảm bảo trả lương Nhật Bản (Đạo luật số 34 năm 1976, Điều 7).

Tác giả sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu chuyên ngành luật học:

  • Phương pháp nghiên cứu tài liệu: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thu thập các công trình nghiên cứu, bài báo khoa học và báo cáo chuyên đề.
  • Phương pháp phân tích - tổng hợp: Làm rõ các khái niệm về thủ tục phá sản, địa vị chủ nợ đặc biệt, vai trò của Công đoàn và Quản tài viên trong Chương 1 và Chương 2.
  • Phương pháp so sánh luật học: Đối chiếu quy định của Luật Phục hồi, phá sản 2025 với Luật Phá sản 2014, Luật BHXH, Luật Việc làm, đồng thời so sánh mô hình bảo vệ tiền lương của Việt Nam với Hoa Kỳ, Pháp, Đức và Nhật Bản.
  • Phương pháp thống kê, mô tả: Phân tích số liệu giải quyết phá sản của Tòa án nhân dân và các vụ việc đình công, trốn đóng bảo hiểm thực tế.
  • Phương pháp logic và dự báo: Xây dựng hệ thống giải pháp hoàn thiện khung pháp lý và đề xuất mô hình Quỹ bảo lãnh tiền lương tại Chương 3.

Nguồn dữ liệu thực tiễn của khóa luận được trích xuất từ Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành Luật Phá sản 2014 của Tòa án nhân dân tối cao, Báo cáo rà soát của Viện Nghiên cứu Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp với Tổ chức Tài chính Quốc tế (IFC), dữ liệu công bố bản án của Tòa án nhân dân tối cao (điển hình là Quyết định tuyên bố phá sản số 02/2018/QĐ-TBPS của TAND quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng), phản ánh từ Liên đoàn Lao động TP.HCM và các cơ quan truyền thông (Báo Lao động, Báo Tiền phong).

Nội dung chính theo từng chương

Chương 1. Cơ sở lý luận về pháp luật bảo vệ quyền lợi của người lao động trong thủ tục phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam

Chương 1 tập trung thiết lập hệ thống khái niệm nền tảng và cơ sở pháp lý về bảo vệ quyền lợi NLĐ. Thủ tục phá sản doanh nghiệp được xác định là một thủ tục tư pháp đặc thù do TAND duy nhất tiến hành, bản chất là một phương thức đòi nợ và thanh toán nợ tập thể mang tính cưỡng chế. Quy trình này giúp giải quyết bế tắc tài chính, ngăn ngừa tình trạng các chủ nợ đua nhau đòi nợ riêng lẻ làm suy sụp giá trị doanh nghiệp, đồng thời mở ra khả năng phục hồi sản xuất trước khi tính đến biện pháp thanh lý tài sản.

Về phân loại chủ nợ, tác giả phân tích theo ba tiêu chí:

  1. Theo biện pháp bảo đảm: Chủ nợ có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần và chủ nợ không có bảo đảm. Điểm a khoản 1 Điều 38 Luật Phục hồi, phá sản 2025 quy định chỉ chủ nợ không có bảo đảm và có bảo đảm một phần mới có quyền nộp đơn mở thủ tục phá sản.
  2. Theo chủ thể: Ngân hàng thương mại (chiếm tỷ trọng nợ lớn nhất), Nhà nước (chủ nợ thuế, tiền thuê đất), Người lao động (chủ nợ không có bảo đảm đặc biệt), và các tổ chức, cá nhân khác.
  3. Theo thời điểm phát sinh nghĩa vụ: Chủ nợ cũ (trước mở thủ tục) và chủ nợ mới (phát sinh từ hoạt động duy trì kinh doanh sau khi mở thủ tục).

Về kinh nghiệm quốc tế, nghiên cứu chỉ ra hai cách tiếp cận:

  • Cơ chế ưu tiên: Hoa Kỳ ưu tiên nợ lương phát sinh trong 180 ngày trước khi nộp đơn với mức trần 10.000 USD/người; Pháp trao "siêu quyền ưu tiên" cho khoản lương trong 60 ngày làm việc cuối cùng, được chi trả trước bất kỳ quyền ưu tiên nào khác.
  • Cơ chế quỹ bảo lãnh: Đức áp dụng chế độ thu phí bảo hiểm phá sản từ người sử dụng lao động theo tỷ lệ phần trăm quỹ lương để chi trả trợ cấp phá sản trong thời hạn tối đa 3 tháng; Nhật Bản vận hành hệ thống Chính phủ ứng vốn thanh toán tiền lương chưa trả cho công nhân nghỉ hưu khi chủ sử dụng lao động bị mở thủ tục phá sản.

Về địa vị pháp lý tại Việt Nam, NLĐ được trao quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản (Điểm b khoản 1 Điều 38 Luật 2025) khi bị nợ lương, BHXH quá 06 tháng; có quyền tham gia Hội nghị chủ nợ thông qua đại diện (Điều 33) với cơ chế biểu quyết tập thể yêu cầu 65% tổng số nợ không bảo đảm (khoản 5 Điều 61); và được xếp ở thứ tự ưu tiên thanh toán thứ hai tại Điều 46 (ngay sau chi phí phá sản, trước nợ thuế và nợ thương mại).

Chương 2. Thực trạng pháp luật và thực tiễn áp dụng việc bảo vệ quyền lợi người lao động trong thủ tục phá sản doanh nghiệp

Chương 2 đi sâu phân tích sự chuyển dịch từ Luật Phá sản 2014 sang Luật Phục hồi, phá sản 2025, đánh giá vai trò các chủ thể tố tụng và chỉ ra những bất cập trong thực tiễn thực thi.

Tiêu chí pháp lý Luật Phá sản năm 2014 Luật Phục hồi, phá sản năm 2025
Thời hạn xác định mất khả năng thanh toán Không thực hiện nghĩa vụ thanh toán trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn (Khoản 1 Điều 4). Không thực hiện nghĩa vụ thanh toán sau thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn (Khoản 2 Điều 5).
Quyền nộp đơn của NLĐ/Công đoàn Phát sinh khi bị nợ lương, khoản nợ khác quá 03 tháng (Khoản 2 Điều 5). Phát sinh khi hết thời hạn 06 tháng kể từ ngày đến hạn trả lương, BHXH, trợ cấp thôi việc (Điểm b Khoản 1 Điều 38).
Thời hạn gửi giấy đòi nợ của chủ nợ 30 ngày kể từ ngày có quyết định mở thủ tục phá sản (Khoản 1 Điều 66). 15 ngày kể từ ngày có quyết định mở thủ tục phá sản (Khoản 1 Điều 55).
Thời hạn Tòa án ra quyết định mở thủ tục Quy định rải rác, thủ tục thụ lý kéo dài. Tối đa 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn; gửi quyết định trong 03 ngày làm việc (Điều 41).

Về vai trò của tổ chức Công đoàn, tác giả phân tích ba chức năng trụ cột: đại diện nộp đơn phá sản tập thể nhằm tránh việc công nhân bị trù dập hoặc tốn kém chi phí; tham gia giám sát việc kiểm kê, bảo toàn quỹ lương tại Hội nghị chủ nợ; và tuyên truyền, vận động NLĐ ổn định trật tự xã hội, tránh đình công tự phát. Bên cạnh đó, các chủ thể tố tụng gồm TAND (Thẩm phán điều hành, ra quyết định khẩn cấp tạm thời để ngăn tẩu tán tài sản theo Điều 7), Cơ quan Thi hành án dân sự (thi hành quyết định phân chia tài sản theo Điều 12) và Quản tài viên (quản lý, thanh lý tài sản theo Điều 10).

Thực tiễn áp dụng bộc lộ nhiều điểm nghẽn nghiêm trọng:

  1. Rào cản nộp đơn: Theo khoản 1 Điều 39 Luật Phục hồi, phá sản 2025, người nộp đơn phải cung cấp danh sách chủ nợ và tài liệu chứng minh yêu cầu có căn cứ. Điều này gây khó khăn lớn cho NLĐ do họ không được tiếp cận hồ sơ tài chính nội bộ. Điển hình tại Công ty TNHH Bumjin Vina (KCN Vĩnh Lộc, Bình Tân), Giám đốc người nước ngoài bỏ trốn dịp Tết 2018 nợ BHXH hơn 2,9 tỷ đồng và nợ lương hàng trăm công nhân; hoặc vụ tranh chấp tại Công ty Chí Hùng (Bình Dương) tháng 5/2020 khiến hơn 8.000 công nhân đình công khi công ty cho nghỉ không lương 2 tháng. NLĐ hầu như chỉ dừng lại ở khiếu nại tập thể chứ không thể chủ động nộp đơn phá sản do thiếu chứng cứ.
  2. Bất cập trong lập danh sách nợ: Thời hạn 15 ngày theo Điều 67 Luật Phá sản 2014 quá ngắn đối với các vụ việc lớn. Quản tài viên và Thẩm phán thiếu cơ chế đối soát độc lập, hồ sơ kế toán bị thất lạc hoặc chủ doanh nghiệp bỏ trốn. Điển hình như trường hợp Công ty TNHH SX - TM - DV Vinh Thông (KCN Tân Bình) trốn đóng BHXH kéo dài cho 126 lao động nhưng không được số hóa kiểm tra kịp thời.
  3. Xung đột lợi ích của Quản tài viên: Căn cứ Điều 24 Luật Phá sản 2014, thù lao Quản tài viên được trích trực tiếp từ khối tài sản thanh lý của doanh nghiệp (tính theo giờ, khoán hoặc tỷ lệ phần trăm). Khi tài sản doanh nghiệp cạn kiệt, chi phí thù lao làm thâm hụt trực tiếp số tiền chi trả cho NLĐ. Ngược lại, ở những vụ việc doanh nghiệp không còn tiền, Quản tài viên thiếu động lực tiến hành thủ tục, khiến vụ việc bị đình trệ kéo dài.

Chương 3. Kiến nghị hoàn thiện pháp luật nhằm bảo vệ quyền và lợi ích của người lao động trong thủ tục phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam

Dựa trên chủ trương cải cách tư pháp của Đảng, Chương 3 đề xuất hệ thống tiêu chí hoàn thiện (tính thực tiễn, tính đồng bộ và tương thích với chuẩn mực Công ước 173 ILO) cùng hai nhóm giải pháp:

  • Nhóm kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật:

    • Bổ sung quy định bắt buộc Tòa án nhân dân và các cơ quan nhà nước có trách nhiệm hỗ trợ NLĐ, Công đoàn xác minh, thu thập chứng cứ chứng minh nợ lương, nợ bảo hiểm khi thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, loại bỏ rào cản tài liệu tại Điều 39.
    • Hoàn thiện trình tự Hội nghị chủ nợ, tăng cường quyền biểu quyết thực chất của đại diện NLĐ đối với phương án phục hồi doanh nghiệp.
    • Tăng cường chế tài hình sự và hành chính đối với người quản lý doanh nghiệp có hành vi tẩu tán tài sản, trốn đóng bảo hiểm hoặc tuyên bố phá sản gian dối trước khi mở thủ tục.
  • Nhóm giải pháp thực thi và cơ chế bảo đảm:

    • Thành lập Quỹ bảo lãnh tiền lương quốc gia (học tập mô hình của Đức và Nhật Bản) vận hành dựa trên nguồn đóng góp định kỳ từ người sử dụng lao động, có chức năng ứng trả ngay nợ lương và trợ cấp cho công nhân khi Tòa án thụ lý vụ việc, sau đó Quỹ thay thế NLĐ trở thành chủ nợ để thu hồi tài sản trong quá trình thanh lý.
    • Tăng cường cơ chế giám sát tài sản ngay khi có dấu hiệu mất khả năng thanh toán, áp dụng triệt để biện pháp khẩn cấp tạm thời phong tỏa tài khoản (điểm d khoản 1 Điều 58 Luật 2025).
    • Đổi mới cơ chế tài chính chi trả thù lao Quản tài viên, giảm thiểu xung đột lợi ích tài sản với quỹ lương NLĐ.
    • Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ số, tích hợp cơ sở dữ liệu quốc gia về bảo hiểm xã hội, đăng ký kinh doanh và lao động để tự động đối soát, niêm yết danh sách nợ công khai, minh bạch.

Kết quả và đóng góp

Khóa luận đã tổng hợp số liệu thực tế về giải quyết phá sản tại Tòa án nhân dân các cấp giai đoạn 2015 - 2023, đồng thời phân tích chi tiết dữ liệu thực tiễn từ Quyết định tuyên bố phá sản số 02/2018/QĐ-TBPS ngày 11/05/2018 của Tòa án nhân dân quận Sơn Trà, TP Đà Nẵng đối với Công ty Cổ phần Xây dựng G. Số liệu phân chia tài sản trong quyết định này minh họa rõ nét cơ chế phân phối tài sản theo thứ tự luật định:

Hạng mục thanh toán Số tiền phân bổ theo quyết định Ghi chú theo bản án
Tạm ứng chi phí phá sản 120.000.000 đồng Đã thanh toán chi phí phá sản thực tế 115.000.000 đồng (phần còn lại hoàn trả doanh nghiệp).
Nợ lương, trợ cấp thôi việc của NLĐ 578.082.000 đồng Bao gồm nợ gốc và tiền lãi phát sinh tính đến ngày 31/12/2015.
Nợ BHXH, BHYT, BHTN 802.000.000 đồng Chi trả cho Bảo hiểm xã hội TP Đà Nẵng (gồm lãi chậm đóng tính đến 31/3/2018).
Nợ thuế Nhà nước 3.000.000.000 đồng Chi trả cho Cục thuế TP Đà Nẵng (tính đến 30/11/2016).
Nợ Thanh tra tỉnh Q 208.000.000 đồng Nghĩa vụ tài chính công quyền.
Nợ không bảo đảm của các chủ nợ khác 13.000.000.000 đồng Thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng nếu tài sản còn lại không đủ.
Thanh toán tiền góp vốn của Cổ đông 5.000.000.000 đồng Tính đến ngày 31/12/2015, xử lý cuối cùng sau khi hoàn tất các nghĩa vụ nợ.

Về đóng góp học thuật, công trình là một trong những nghiên cứu đầu tiên tiếp cận và đối sánh trực tiếp các quy định mới của Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15 (vừa có hiệu lực từ tháng 3/2026) với Luật Phá sản 2014 dưới góc độ bảo vệ quyền lợi người lao động. Đề tài luận giải rõ tính hai mặt của việc kéo dài thời hạn xác định mất khả năng thanh toán từ 03 tháng lên 06 tháng (theo góp ý của VCCI) đối với sự an toàn việc làm và rủi ro thất thu nợ lương. Về mặt thực tiễn, việc đề xuất khung kỹ thuật thành lập Quỹ bảo lãnh tiền lương và cơ chế bắt buộc Tòa án hỗ trợ thu thập chứng cứ nợ lương mang lại giá trị ứng dụng cao cho công tác lập pháp và hoạt động đại diện của Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam.

Hạn chế và hướng nghiên cứu tiếp

Khóa luận còn một số điểm hạn chế xuất phát từ phạm vi nghiên cứu và bối cảnh thời gian:

  • Do Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 mới có hiệu lực thi hành từ ngày 01/3/2026, các số liệu thực tiễn trong công trình chủ yếu được tổng kết dựa trên quá trình áp dụng Luật Phá sản 2014; nghiên cứu chưa thể đo lường và đánh giá toàn diện tác động thực tế của Luật mới trong đời sống tố tụng.
  • Đề tài chỉ tập trung khảo cứu 04 loại hình doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp 2020, chưa mở rộng phân tích các chủ thể kinh tế tập thể khác như hợp tác xã và liên hiệp hợp tác xã – những mô hình cũng sử dụng lực lượng lao động nhưng có cơ chế sở hữu và giải thể tài sản đặc thù.
  • Hướng nghiên cứu tiếp theo cần tập trung theo dõi thực tiễn áp dụng Luật Phục hồi, phá sản 2025 sau giai đoạn vận hành ban đầu, đặc biệt là khi quy định tại khoản 3 Điều 38 chính thức có hiệu lực từ ngày 01/7/2026, đồng thời xây dựng đề án chi tiết về mô hình tài chính và mức đóng góp cụ thể cho Quỹ bảo lãnh tiền lương tại Việt Nam.

Giá trị tham khảo

Khóa luận là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho nhiều nhóm đối tượng:

  • Đối với sinh viên, học viên cao học chuyên ngành Luật Kinh tế, Luật Lao động: Cung cấp khung lý luận chặt chẽ về tư cách chủ nợ đặc biệt và kỹ năng so sánh văn bản quy phạm pháp luật qua các thời kỳ.
  • Đối với cán bộ Công đoàn các cấp: Là cẩm nang pháp lý về quy trình nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tập thể, kỹ năng kiểm tra, đối soát danh sách nợ lương và cơ chế giám sát tài sản bảo vệ công nhân.
  • Đối với Thẩm phán, Thư ký Tòa án và Quản tài viên: Cung cấp góc nhìn thực tiễn về giải quyết xung đột lợi ích thù lao, kinh nghiệm xử lý tài sản qua các vụ việc cụ thể và kỹ năng áp dụng thứ tự ưu tiên thanh toán Điều 46 Luật 2025.
  • Các phần có giá trị tham khảo chuyên sâu nhất gồm: Tiểu mục so sánh Luật Phá sản 2014 với Luật Phục hồi, phá sản 2025; Tiểu mục kinh nghiệm quốc tế về Quỹ bảo lãnh tiền lương; và Án lệ phân chia tài sản theo Quyết định số 02/2018/QĐ-TBPS của TAND quận Sơn Trà.

Câu hỏi thường gặp

1. Luật Phục hồi, phá sản năm 2025 thay đổi mốc thời gian xác định doanh nghiệp mất khả năng thanh toán và quyền nộp đơn của NLĐ như thế nào so với Luật Phá sản năm 2014?
Luật Phá sản 2014 quy định tình trạng mất khả năng thanh toán và quyền nộp đơn của NLĐ phát sinh khi doanh nghiệp không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ lương trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn (Điều 4, Điều 5). Luật Phục hồi, phá sản 2025 kéo dài thời hạn này lên sau 06 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán (Khoản 2 Điều 5, Điểm b khoản 1 Điều 38).

2. Đại diện NLĐ cần tỷ lệ biểu quyết bao nhiêu để thông qua Nghị quyết Hội nghị chủ nợ theo Luật Phục hồi, phá sản năm 2025?
Căn cứ khoản 5 Điều 61 Luật Phục hồi, phá sản 2025, Nghị quyết của Hội nghị chủ nợ chỉ được thông qua khi có sự đồng thuận của nhóm chủ nợ đại diện cho ít nhất 65% tổng số nợ không có bảo đảm tham gia biểu quyết tán thành. Nghị quyết này có hiệu lực bắt buộc thi hành đối với toàn bộ các chủ nợ của doanh nghiệp.

3. Vì sao cơ chế trả thù lao cho Quản tài viên theo quy định hiện hành lại tạo ra xung đột lợi ích với người lao động?
Theo khoản 1 Điều 24 Luật Phá sản 2014, thù lao của Quản tài viên được trích trực tiếp từ khối tài sản thanh lý của doanh nghiệp phá sản. Khi tài sản của doanh nghiệp đã cạn kiệt, việc trích trả thù lao quản lý đắt đỏ sẽ làm thâm hụt trực tiếp vào nguồn tài sản dùng để chi trả nợ lương và trợ cấp của NLĐ. Ngược lại, nếu doanh nghiệp hoàn toàn không còn tài sản, Quản tài viên sẽ thiếu động lực giải quyết vụ việc, làm thủ tục kéo dài.

4. Trong Quyết định số 02/2018/QĐ-TBPS của TAND quận Sơn Trà, các khoản nợ của NLĐ và BHXH tại Công ty Cổ phần Xây dựng G được giải quyết với số tiền là bao nhiêu?
TAND quận Sơn Trà tuyên bố chi trả tiền lương và trợ cấp thôi việc cho NLĐ số tiền là 578.082.000 đồng (bao gồm gốc và lãi tính đến ngày 31/12/2015). Tiền nợ BHXH, BHYT và BHTN chi trả cho cơ quan Bảo hiểm xã hội TP Đà Nẵng là 802.000.000 đồng (bao gồm lãi chậm đóng tính đến ngày 31/3/2018).

5. Bản chất pháp lý của Quỹ bảo lãnh tiền lương mà khóa luận đề xuất học tập từ Đức và Nhật Bản là gì?
Đây là thiết chế tài chính an sinh xã hội ngoài tố tụng phá sản, hình thành từ sự đóng góp định kỳ của người sử dụng lao động (tính trên tỷ lệ phần trăm quỹ lương). Khi doanh nghiệp bị mở thủ tục phá sản, quỹ sẽ đứng ra ứng chi trả kịp thời các khoản nợ lương và trợ cấp thiết yếu cho công nhân, sau đó quỹ thay mặt NLĐ tiếp nhận tư cách chủ nợ để thu hồi lại tiền từ khối tài sản thanh lý của doanh nghiệp.

Kết luận

Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Hạ Thị Phương Thảo đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của pháp luật về bảo vệ quyền lợi người lao động trong thủ tục phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam. Công trình đã phân tích sâu sắc các điểm mới của Luật Phục hồi, phá sản số 142/2025/QH15, đồng thời chỉ ra những vướng mắc cố hữu về rào cản nộp đơn, thời hạn lập danh sách nợ và xung đột lợi ích của Quản tài viên qua các án lệ thực tế. Các kiến nghị hoàn thiện pháp luật, đặc biệt là đề xuất xây dựng Quỹ bảo lãnh tiền lương theo chuẩn mực quốc tế, cung cấp luận cứ khoa học có giá trị ứng dụng cao nhằm bảo đảm an sinh xã hội và sự công bằng cho bên yếu thế trong quan hệ lao động.