CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG NHẬP KHẨU TÀU BIỂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG ĐỂ PHÁ DỠ 1. Bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ 1. Quan niệm, khái niệm về môi trường Môi trường từ lâu được hiểu là tất cả những gì bao quanh, phục vụ, và có tác động đến đời sống con người. Đi sâu hơn một chút, về quan niệm khoa học, chúng ta nhìn thấy rằng “Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế.
Nói về môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 có định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”2 Như vậy, hoạt động của con người được diễn ra trong môi trường và nhờ vào môi trường mà những hoạt động ấy mang lại hiệu quả. Một cách nói khác là để thực hiện những hoạt động mong muốn của mình, môi trường đóng một vai trọng – vừa là cơ sở để thực hiện hoạt động và là nơi chịu tác động bởi những hành động và kết quả của hành động đó. Ô nhiễm môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng Như đã đề cập trước đó, bất kỳ hoạt động nào của con người đều có thể gây ảnh hưởng nhất định đến môi trường, hoặc là tốt hoặc là xấu. Từ những hoạt động 1 Theo Bách khoa toàn thư mở (https://vi.org) 2 Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2014 2 thiếu sự tính toán cẩn thận và trách nhiệm của con người có thể làm xấu đi tình trạng của môi trường, và việc ô nhiễm môi trường là một trong những điều gây quan ngại sâu sắc từ nhiều thập niên trở lại đây.
Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.3 Như vậy, xuất phát từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hay từ những hoạt động đời thường đều có thể gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên cường độ tác động dẫn đến ô nhiễm môi trường từ hoạt động thường nhật phục vụ sinh hoạt thì không cao, và điều làm cho môi trường bị thay đổi xấu nhanh chóng và nặng nề chính là hậu quả từ các hoạt động kinh tế. Đứng trước những cuộc cách mạng công nghiệp, những ngọn cờ đề cao khẩu hiệu phát triển kinh tế, mọi công dân của các quốc gia đều hăng hái ghi tên mình vào những thành tích, con số đáng nể. Tuy nhiên, sức khỏe của môi trường trong một vài giai đoạn lịch sử đã bị bỏ quên, dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng.
Trước tình hình đó, yêu cầu nghiêm ngặt về việc bảo vệ môi trường bên cạnh phát triển kinh tế là điều hết sức cần thiết. Với những hoạt động có tác động mạnh đến môi trường, cần tiên lượng những vấn đề xấu nhất và đưa ra những phương án tầm soát, phục dựng hiện trạng môi trường một cách hiệu quả nhất. Làm sao để đảm bảo được mục tiêu phát triển bền vững. Một vấn đề tạo được nhiều sự quan tâm rất nhiều hiện nay chính là việc quy định của pháp luật cho phép nhập khẩu tàu biển cũ đã qua sử dụng để phá dỡ.
Vấn đề trên tuy mới nhưng không mới. Bởi quy định này đã từng được bàn luận trong Luật Bảo vệ môi trường 2005, cũng đã được thảo luận ở nhiều diễn đàn luật, và sôi nổi kể cả đời sống thường nhật. Câu chuyện tưởng chừng như đã được giải quyết khi văn 3 Khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2014 3 bản luật 2005 không cho phép nhập khẩu để phá dỡ những chiếc tàu biển cũ, thì đến Luật Bảo vệ môi trường 2014 lại gây xôn xao khi như khẳng định việc nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ là khả dĩ, quy định nay không cấm nữa. Giữa 02 văn bản dường như có sự đối nghịch, câu hỏi đặt ra là “vì sao lại có sự thay đổi này?”, “đây là một tín hiệu tốt hay xấu?” và “tốt hay xấu cho điều gì” ? Chắc hẳn là, khi muốn bắt đầu một dự thảo kinh tế, thay đổi một chương trình pháp luật, chúng ta đã có sự cân nhắc, đo lường, dự đoán được những mặt lợi hại của vấn đề, và cả tiên tri được khả năng ảnh hưởng đến môi trường của đề án.
Một điều tối quan trọng là nếu đã tiên lượng được những mặt tiêu cực có thể xảy ra đó, việc mà chúng ta cần chuẩn bị ngay bây giờ chính là một hệ thống pháp luật chỉnh chu và hiệu quả về các phương án bảo vệ môi trường trong vấn đề này. Khi đứng trên quan điểm cần đầu tư và phát triển hơn nữa ngành công nghiệp đóng tàu, sau khi đã cân nhắc những lợi – hại, thiệt – hơn, bài học giá trị nhất mà chúng ta cần khắc ghi chính là không nên và cũng đừng bao giờ để môi trường rơi vào trạng thái bị đánh cược. Vì như một điều đã được kiểm chứng từ xa xưa, riêng với môi trường nếu chúng ta chấp nhận đánh đổi thì sẽ không thể nào phục hồi được tính chất ban đầu. Nếu thẳng thắn nhìn về hiện trạng môi trường hiện tại so với thuở sơ khai, chúng ta thừa luận cứ cho quan điểm này.
Trở lại câu chuyện về phá dỡ tàu biển cũ đã qua sử dụng được nhập về từ nước ngoài, cần làm rõ những băn khoăn: Liệu rằng việc cho phép nhập khẩu tàu biển cũ đã qua sử dụng để phá dỡ có mang lại những lợi ích kinh tế vĩ mô mà chúng ta ngoài phương án đó, không còn cách nào khác? Và câu hỏi bất di bất dịch rằng: liệu chúng ta đã giải quyết triệt để bài toán bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh này? Sau khi trả lời được hai câu hỏi trên, chúng ta cần đi đến kết luận sau cùng – nhập khẩu tàu biển cũ đã qua sử dụng về phá dỡ, có nên hay không? Vì sao lại đặt ra câu hỏi về môi trường khi chấp nhận hoạt động phá dỡ tàu biển cũ? Bởi bên cạnh lợi ích không thể bàn cãi về kinh tế, hoạt động phá dỡ tàu biển cũ thực sự mang nhiều nguy cơ gây tổn thất cực kỳ lớn cho môi trường. Vấn đề về 4 chất thải từ tàu lan vào biển, lòng đất, không khí, và quan ngại hơn còn là sự ảnh hưởng đến sức khỏe cho những người trực tiếp thực hiện hoạt động phá dỡ. Một con tàu biển có tuổi thọ trung bình từ khoảng từ 25-30 năm. Tuy nhiên qua quá trình sử dụng, do hao mòn tự nhiên cũng như ảnh hưởng từ bên ngoài, những con tàu dần già đi và nảy sinh nhiều bệnh, những chất liệu tốt trong tàu có khi trở thành nguồn nguy hiểm.
Nếu không kiểm soát tốt sự thay đổi của các thành phần cấu tạo đó, thì nguy cơ khi phá vỡ, những thành phần này trở thành kẻ thù của môi trường, và đe dọa cả sức khỏe, tính mạng con người. Mặt khác, việc ảnh hưởng của con tàu đến xung quanh còn bị phụ thuộc vào quá trình sử dụng, bảo quản con tàu đó ra sao, một giả thiết hợp lý được đặt ra là, nếu chiếc tàu ấy từng chở dầu, từng bị loang dầu, các chất hóa học thì tỷ lệ rất cao là còn tồn tại nhiều tạp chất hóa học trên tàu. Khi phá hủy tàu, những hóa chất này len vào đất, hòa vào nước và không khí cũng gây triệu chứng cho sức khỏe môi trường vốn đã yếu dần sức đề kháng của chúng ta. Tất cả những lập luận trên nhằm minh chứng một điều rằng, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của hoạt động phá dỡ tàu biển không đúng quy trình, quy chuẩn sẽ là tất yếu, không thể chối cãi.
Và điều chúng ta cần làm tiếp theo đó là tìm ra phương hướng khắc phục, bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh đầy tiềm năng và cũng lắm những nguy cơ này. Nói về quy định cho phép nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã được thông qua và đang được vận hành; quan điểm này khi được khẳng định trong pháp luật bảo vệ môi trường đã tạo ra nhiều nghi vấn về vấn đề sức khỏe môi trường. Sợ rằng với hoài bão thịnh hóa ngành công nghiệp đóng tàu đang dần bế tắc của quốc gia, chúng ta sẽ hi sinh lợi ích của môi trường. Quan ngại với việc cho phép phá dỡ tàu biển cũ từ nhiều quốc gia khác nếu không tỉnh táo thì việc cứu vãn kinh tế đóng tàu quốc gia là xa vời và cũng khiến chúng ta trở thành bãi rác công nghiệp của những nước lớn.
Thực tế cho thấy, chỉ riêng với những con tàu lênh đênh trên biển khi có sự cố tràn dầu hay đắm tàu xảy ra, ngoài những thiệt hại vật chất, về con người, cũng cần kể đến sự nguy hại của các chất loang ra từ đó đến môi trường. Những chất hóa học 5 độc hại chưa kịp qua xử lý đã tràn vào môi trường biển, làm thay đổi tính chất môi trưởng, ảnh hưởng đến sức khỏe hệ sinh thái biển và quan trọng hơn chính là việc có những hậu quả về môi trường không thể khắc phục được. Đại dương của chúng ta vốn mênh mông, việc khắc phục sự cố đắm chìm tàu chỉ là giải pháp tình thế khi có sự cố xảy ra, và giải pháp đó không hoàn toàn hứa hẹn sẽ trả cho chúng ta tình trạng như ban đầu trước khi có sự cố. Còn đối với phá dỡ những con tàu biển thì sao? Điều gì khiến giới chuyên môn cũng như người dân quan ngại về việc sẽ phải đánh đổi sức khỏe môi trường? 1.
Bảo vệ môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng Điều được cân nhắc nhiều nhất khi thống nhất cho phép nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ chính là về môi trường. Có thể nói, theo thời gian mức độ quan tâm về tình hình môi trường ngày càng nghiêm túc và sâu sắc hơn. Và việc cho phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ cũng cần những biện pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường và kiểm soát tốt hoạt động này.