PHÁP LUẬT BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG HOẠT ĐỘNG NHẬP KHẨU TÀU BIỂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG ĐỂ PHÁ DỠ

Nghiên cứu pháp luật về bảo vệ môi trường trong nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ. Phân tích thực trạng, kiến nghị giải pháp hoàn thiện pháp luật.

Trường đại học

Đại học kinh tế - luật

Chuyên ngành

Luật kinh tế

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sỹ

2020

81
1
0

Phí lưu trữ

30 Point

Tóm tắt

I. Tổng Quan Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Nhập Khẩu Tàu Cũ

Bảo vệ môi trường không còn là vấn đề riêng của một quốc gia mà là trách nhiệm chung của toàn nhân loại. Các biến động môi trường diễn ra liên tục như hồi chuông cảnh tỉnh cho sự vô tâm của con người. Kinh tế phát triển phải đi liền với bảo vệ môi trường, đây là quan niệm phát triển bền vững. Việt Nam đã tham gia nhiều điều ước quốc tế, là thành viên của các tổ chức bảo vệ môi trường và nội luật hóa nhiều vấn đề môi trường. Tuy nhiên, hiệu quả thực tế vẫn còn nhiều hạn chế. Việc cho phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ đang gây nhiều tranh cãi. Giới kinh doanh xem đây là ngành siêu lợi nhuận, trong khi người dân lo ngại về những nguy hại môi trường tiềm ẩn. Nghiên cứu về pháp luật bảo vệ môi trường trong lĩnh vực này là rất cần thiết để đảm bảo tính khả thi và hiệu quả.

1.1. Khái Niệm Môi Trường và Vai Trò Trong Đời Sống

Môi trường được hiểu là tất cả những gì bao quanh con người, có tác động đến đời sống. Theo Luật Bảo vệ Môi trường 2014, môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đến sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật. Hoạt động của con người diễn ra trong môi trường và nhờ vào môi trường, môi trường vừa là cơ sở thực hiện hoạt động, vừa là nơi chịu tác động bởi các hành động đó. Môi trường đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì sự sống và phát triển kinh tế xã hội, cần được bảo vệ và sử dụng bền vững.

1.2. Thực Trạng Ô Nhiễm Môi Trường Từ Phá Dỡ Tàu Biển

Bất kỳ hoạt động nào của con người đều có thể gây ảnh hưởng đến môi trường, hoặc tốt hoặc xấu. Thiếu sự tính toán có thể làm xấu đi tình trạng môi trường, ô nhiễm môi trường là một trong những điều gây quan ngại sâu sắc. Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường, gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật. Hoạt động kinh tế thường gây ô nhiễm môi trường nặng nề. Bên cạnh lợi ích kinh tế, hoạt động phá dỡ tàu biển cũ mang nhiều nguy cơ gây tổn thất cực kỳ lớn cho môi trường.

II. Vấn Đề Nhập Khẩu Tàu Biển Cũ Đánh Giá Rủi Ro Môi Trường

Quy định cho phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ đã từng được bàn luận trong Luật Bảo vệ môi trường 2005, nhưng đến Luật Bảo vệ môi trường 2014 lại gây xôn xao khi khẳng định việc nhập khẩu là khả dĩ. Sự thay đổi này đặt ra nhiều câu hỏi về tính hiệu quả và tác động đến môi trường. Trước khi thực hiện một dự thảo kinh tế, cần cân nhắc, đo lường và dự đoán được những mặt lợi hại của vấn đề, đặc biệt là khả năng ảnh hưởng đến môi trường. Cần có một hệ thống pháp luật chỉnh chu và hiệu quả về các phương án bảo vệ môi trường.

2.1. Lợi Ích Kinh Tế và Nguy Cơ Môi Trường Song Hành

Việc cho phép nhập khẩu tàu biển cũ đã qua sử dụng để phá dỡ có mang lại những lợi ích kinh tế vĩ mô mà ngoài phương án đó, không còn cách nào khác? Liệu Việt Nam đã giải quyết triệt để bài toán bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh này? Nhập khẩu tàu biển cũ đã qua sử dụng về phá dỡ, có nên hay không? Cần xem xét vấn đề môi trường khi chấp nhận hoạt động phá dỡ tàu biển cũ, bên cạnh lợi ích kinh tế, hoạt động này thực sự mang nhiều nguy cơ gây tổn thất cho môi trường.

2.2. Phân Tích Chất Thải Từ Tàu Biển Cũ và Ảnh Hưởng

Hoạt động phá dỡ tàu biển cũ tiềm ẩn nhiều rủi ro về môi trường, đặc biệt là vấn đề chất thải từ tàu lan vào biển, lòng đất và không khí. Các chất thải này bao gồm dầu mỡ, amiăng, PCB, kim loại nặng và nhiều hóa chất độc hại khác. Việc xử lý các chất thải này đòi hỏi công nghệ hiện đại và quy trình nghiêm ngặt để tránh gây ô nhiễm. Nếu không được quản lý và xử lý đúng cách, các chất thải này có thể gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến hệ sinh thái biển, sức khỏe cộng đồng và chất lượng nguồn nước.

2.3. Thực tiễn Các quốc gia Châu Á chọn công nghiệp phá dỡ tàu cũ

Việt Nam là số ít các quốc gia Châu Á chọn cho mình công nghiệp phá dỡ tàu cũ để tạo cơ hội phát triển kinh tế. Điều gì khiến cho các quốc gia tư bản không tận dụng tiềm lực của mình cho “món hời” này mà nhường cho các nước châu Á, trong khi ngành công nghiệp tàu biển của họ đi đầu và vẫn luôn là cường quốc trên thế giới? Nhà nước ta cơ bản đã có những động thái tích cực, những bước đệm cho chế định này.

III. Hướng Dẫn Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Nhập Khẩu Tàu Cũ

Tiếp nối quy định cho phép nhập khẩu, phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng, nhà nước ta cơ bản đã có những động thái tích cực, những bước đệm cho chế định này. Cụ thể là xây dựng, triển khai Đề án phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng; đưa vào thực thi các quy định về hoạt động của cơ sở phá dỡ tàu biển, kiểm soát bảo vệ môi trường cho dự án, hoạt động phá dỡ tàu biển qua nhiều văn bản quy phạm pháp luật.

3.1. Các Văn Bản Pháp Luật Điều Chỉnh Nhập Khẩu Tàu Biển Cũ

Công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật liên quan đến hoạt động phá dỡ tàu đã xây dựng được 02 luật và bộ luật: Bộ luật Hàng hải Việt Nam 2015 và Luật Bảo vệ môi trường 2014; 03 Nghị định, số 19/2015/NĐ-CP, 18/2015/NĐ-CP quy định về đánh giá tác động môi trường và bảo vệ môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu; số 114/2014/NĐ-CP quy định về điều kiện hoạt động của cơ sở phá dỡ và nhập khẩu tàu biển để phá dỡ; 02 Thông tư, số: 27/2015/TT-BTNMT hướng dẫn bảo vệ môi trường, đánh giá tác động môi trường chiến lược, đánh giá tác động môi trường và kế hoạch bảo vệ môi trường; 37/2015/TT-BGTVT Quy định thủ tục cấp Giấy phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ. Tuy nhiên đến nay vẫn còn 2 Thông tư và một số văn bản liên quan đến môi trường và hướng dẫn các loại thuế liên quan chưa được ban hành.

3.2. Điều kiện và Thủ Tục Nhập Khẩu Tàu Biển Cũ Hợp Pháp

Để nhập khẩu tàu biển cũ hợp pháp, doanh nghiệp cần đáp ứng các điều kiện về cơ sở vật chất, công nghệ xử lý chất thải và năng lực tài chính. Thủ tục nhập khẩu bao gồm việc xin giấy phép từ cơ quan quản lý nhà nước, thực hiện đánh giá tác động môi trường và lập kế hoạch bảo vệ môi trường. Doanh nghiệp cũng phải tuân thủ các quy định về kiểm tra, giám sát và báo cáo về hoạt động phá dỡ tàu biển. Việc tuân thủ đầy đủ các điều kiện và thủ tục này là bắt buộc để đảm bảo hoạt động nhập khẩu và phá dỡ tàu biển diễn ra an toàn và bền vững.

IV. Giải Pháp Hoàn Thiện Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Nhập Tàu Cũ

Để đảm bảo phát triển bền vững, cần hoàn thiện pháp luật về bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ. Các giải pháp cần tập trung vào việc tăng cường kiểm soát, giám sát, nâng cao năng lực xử lý chất thải và khuyến khích áp dụng công nghệ thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần nâng cao nhận thức và trách nhiệm của doanh nghiệp và cộng đồng về vấn đề này.

4.1. Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Nhập Khẩu Tàu Biển Cũ

Cần rà soát và sửa đổi các quy định hiện hành về nhập khẩu tàu biển cũ để đảm bảo tính chặt chẽ, minh bạch và phù hợp với thực tế. Nên quy định rõ hơn về tiêu chuẩn môi trường đối với tàu biển cũ được phép nhập khẩu, quy trình đánh giá tác động môi trường và trách nhiệm của các bên liên quan. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế để chia sẻ kinh nghiệm và áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế về bảo vệ môi trường trong hoạt động này.

4.2. Phương Pháp Nâng Cao Hiệu Quả Kiểm Soát Môi Trường

Để nâng cao hiệu quả kiểm soát môi trường, cần tăng cường năng lực của các cơ quan quản lý nhà nước về môi trường, đầu tư vào trang thiết bị và công nghệ kiểm tra, giám sát hiện đại. Nên xây dựng hệ thống thông tin về môi trường liên quan đến hoạt động phá dỡ tàu biển để theo dõi và đánh giá tác động môi trường. Đồng thời, cần khuyến khích sự tham gia của cộng đồng vào việc giám sát và phản biện về các hoạt động phá dỡ tàu biển có nguy cơ gây ô nhiễm môi trường.

V. Ứng Dụng Nghiên Cứu Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Tàu Biển Cũ

Các nghiên cứu về pháp luật bảo vệ môi trường trong nhập khẩu tàu biển cũ cần được ứng dụng vào thực tiễn để nâng cao hiệu quả quản lý và bảo vệ môi trường. Các kết quả nghiên cứu có thể cung cấp cơ sở khoa học cho việc xây dựng chính sách, quy định và các biện pháp kỹ thuật nhằm giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường.

5.1. Đề Xuất Chính Sách Dựa Trên Nghiên Cứu Pháp Luật Môi Trường

Các nghiên cứu pháp luật môi trường cần được sử dụng để đề xuất các chính sách khuyến khích doanh nghiệp áp dụng công nghệ xanh, sử dụng năng lượng tái tạo và giảm thiểu chất thải trong hoạt động phá dỡ tàu biển. Cần có các chính sách hỗ trợ tài chính, ưu đãi thuế và các biện pháp khác để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào công nghệ và quy trình thân thiện với môi trường. Đồng thời, cần có các chính sách trừng phạt nghiêm khắc đối với các hành vi vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường.

5.2. Chia Sẻ Kinh Nghiệm Thực Tiễn và Bài Học Rút Ra

Cần tổ chức các hội thảo, hội nghị và các hoạt động khác để chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn và bài học rút ra từ các hoạt động phá dỡ tàu biển. Các doanh nghiệp và chuyên gia cần chia sẻ các giải pháp kỹ thuật, quy trình quản lý và các biện pháp khác để giảm thiểu tác động tiêu cực đến môi trường. Đồng thời, cần chia sẻ thông tin về các vụ việc vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường và các biện pháp xử lý để nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cộng đồng.

VI. Tương Lai Pháp Luật Bảo Vệ Môi Trường Nhập Khẩu Tàu Biển Cũ

Tương lai của pháp luật bảo vệ môi trường trong nhập khẩu tàu biển cũ hướng đến việc phát triển một hệ thống pháp luật hoàn thiện, hiệu quả và bền vững. Cần tiếp tục nghiên cứu, đánh giá và sửa đổi các quy định hiện hành để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường. Đồng thời, cần tăng cường hợp tác quốc tế để đối phó với các thách thức toàn cầu về ô nhiễm môi trường.

6.1. Xu Hướng Phát Triển Pháp Luật Môi Trường Toàn Cầu

Xu hướng phát triển pháp luật môi trường toàn cầu hướng đến việc áp dụng các nguyên tắc phòng ngừa, tiếp cận dựa trên hệ sinh thái và trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất. Các quốc gia đang ngày càng chú trọng đến việc xây dựng các tiêu chuẩn môi trường cao hơn, áp dụng các biện pháp kiểm soát ô nhiễm chặt chẽ hơn và tăng cường hợp tác quốc tế trong việc giải quyết các vấn đề môi trường xuyên biên giới. Việt Nam cần chủ động tham gia vào quá trình này để đảm bảo tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế và bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu tàu biển.

6.2. Cam Kết Bảo Vệ Môi Trường và Phát Triển Bền Vững

Việt Nam cần cam kết mạnh mẽ hơn nữa trong việc bảo vệ môi trường và phát triển bền vững trong hoạt động nhập khẩu tàu biển cũ. Cần xây dựng một tầm nhìn dài hạn về phát triển ngành công nghiệp phá dỡ tàu biển gắn liền với bảo vệ môi trường và sức khỏe cộng đồng. Đồng thời, cần tăng cường đầu tư vào nghiên cứu khoa học, phát triển công nghệ và đào tạo nguồn nhân lực để đáp ứng yêu cầu ngày càng cao về bảo vệ môi trường.

23/04/2025

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG 1: NHỮNG VẤN ĐỀ CHUNG VỀ BẢO VỆ MÔI TRƯỜNG TRONG NHẬP KHẨU TÀU BIỂN ĐÃ QUA SỬ DỤNG ĐỂ PHÁ DỠ 1. Bảo vệ môi trường trong hoạt động nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ 1. Quan niệm, khái niệm về môi trường Môi trường từ lâu được hiểu là tất cả những gì bao quanh, phục vụ, và có tác động đến đời sống con người. Đi sâu hơn một chút, về quan niệm khoa học, chúng ta nhìn thấy rằng “Môi trường là tập hợp tất cả các yếu tố tự nhiên và xã hội bao quanh con người, ảnh hưởng tới con người và tác động đến các hoạt động sống của con người như: không khí, nước, độ ẩm, sinh vật, xã hội loài người và các thể chế.

Nói về môi trường, Luật Bảo vệ Môi trường 2014 có định nghĩa như sau: “Môi trường là hệ thống các yếu tố vật chất tự nhiên và nhân tạo có tác động đối với sự tồn tại và phát triển của con người và sinh vật.”2 Như vậy, hoạt động của con người được diễn ra trong môi trường và nhờ vào môi trường mà những hoạt động ấy mang lại hiệu quả. Một cách nói khác là để thực hiện những hoạt động mong muốn của mình, môi trường đóng một vai trọng – vừa là cơ sở để thực hiện hoạt động và là nơi chịu tác động bởi những hành động và kết quả của hành động đó. Ô nhiễm môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng Như đã đề cập trước đó, bất kỳ hoạt động nào của con người đều có thể gây ảnh hưởng nhất định đến môi trường, hoặc là tốt hoặc là xấu. Từ những hoạt động 1 Theo Bách khoa toàn thư mở (https://vi.org) 2 Khoản 1 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2014 2 thiếu sự tính toán cẩn thận và trách nhiệm của con người có thể làm xấu đi tình trạng của môi trường, và việc ô nhiễm môi trường là một trong những điều gây quan ngại sâu sắc từ nhiều thập niên trở lại đây.

Ô nhiễm môi trường là sự biến đổi của các thành phần môi trường không phù hợp với quy chuẩn kỹ thuật môi trường và tiêu chuẩn môi trường gây ảnh hưởng xấu đến con người và sinh vật.3 Như vậy, xuất phát từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hay từ những hoạt động đời thường đều có thể gây ô nhiễm môi trường. Tuy nhiên cường độ tác động dẫn đến ô nhiễm môi trường từ hoạt động thường nhật phục vụ sinh hoạt thì không cao, và điều làm cho môi trường bị thay đổi xấu nhanh chóng và nặng nề chính là hậu quả từ các hoạt động kinh tế. Đứng trước những cuộc cách mạng công nghiệp, những ngọn cờ đề cao khẩu hiệu phát triển kinh tế, mọi công dân của các quốc gia đều hăng hái ghi tên mình vào những thành tích, con số đáng nể. Tuy nhiên, sức khỏe của môi trường trong một vài giai đoạn lịch sử đã bị bỏ quên, dẫn đến những hệ lụy nghiêm trọng.

Trước tình hình đó, yêu cầu nghiêm ngặt về việc bảo vệ môi trường bên cạnh phát triển kinh tế là điều hết sức cần thiết. Với những hoạt động có tác động mạnh đến môi trường, cần tiên lượng những vấn đề xấu nhất và đưa ra những phương án tầm soát, phục dựng hiện trạng môi trường một cách hiệu quả nhất. Làm sao để đảm bảo được mục tiêu phát triển bền vững. Một vấn đề tạo được nhiều sự quan tâm rất nhiều hiện nay chính là việc quy định của pháp luật cho phép nhập khẩu tàu biển cũ đã qua sử dụng để phá dỡ.

Vấn đề trên tuy mới nhưng không mới. Bởi quy định này đã từng được bàn luận trong Luật Bảo vệ môi trường 2005, cũng đã được thảo luận ở nhiều diễn đàn luật, và sôi nổi kể cả đời sống thường nhật. Câu chuyện tưởng chừng như đã được giải quyết khi văn 3 Khoản 8 Điều 3 Luật Bảo vệ Môi trường 2014 3 bản luật 2005 không cho phép nhập khẩu để phá dỡ những chiếc tàu biển cũ, thì đến Luật Bảo vệ môi trường 2014 lại gây xôn xao khi như khẳng định việc nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ là khả dĩ, quy định nay không cấm nữa. Giữa 02 văn bản dường như có sự đối nghịch, câu hỏi đặt ra là “vì sao lại có sự thay đổi này?”, “đây là một tín hiệu tốt hay xấu?” và “tốt hay xấu cho điều gì” ? Chắc hẳn là, khi muốn bắt đầu một dự thảo kinh tế, thay đổi một chương trình pháp luật, chúng ta đã có sự cân nhắc, đo lường, dự đoán được những mặt lợi hại của vấn đề, và cả tiên tri được khả năng ảnh hưởng đến môi trường của đề án.

Một điều tối quan trọng là nếu đã tiên lượng được những mặt tiêu cực có thể xảy ra đó, việc mà chúng ta cần chuẩn bị ngay bây giờ chính là một hệ thống pháp luật chỉnh chu và hiệu quả về các phương án bảo vệ môi trường trong vấn đề này. Khi đứng trên quan điểm cần đầu tư và phát triển hơn nữa ngành công nghiệp đóng tàu, sau khi đã cân nhắc những lợi – hại, thiệt – hơn, bài học giá trị nhất mà chúng ta cần khắc ghi chính là không nên và cũng đừng bao giờ để môi trường rơi vào trạng thái bị đánh cược. Vì như một điều đã được kiểm chứng từ xa xưa, riêng với môi trường nếu chúng ta chấp nhận đánh đổi thì sẽ không thể nào phục hồi được tính chất ban đầu. Nếu thẳng thắn nhìn về hiện trạng môi trường hiện tại so với thuở sơ khai, chúng ta thừa luận cứ cho quan điểm này.

Trở lại câu chuyện về phá dỡ tàu biển cũ đã qua sử dụng được nhập về từ nước ngoài, cần làm rõ những băn khoăn: Liệu rằng việc cho phép nhập khẩu tàu biển cũ đã qua sử dụng để phá dỡ có mang lại những lợi ích kinh tế vĩ mô mà chúng ta ngoài phương án đó, không còn cách nào khác? Và câu hỏi bất di bất dịch rằng: liệu chúng ta đã giải quyết triệt để bài toán bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh này? Sau khi trả lời được hai câu hỏi trên, chúng ta cần đi đến kết luận sau cùng – nhập khẩu tàu biển cũ đã qua sử dụng về phá dỡ, có nên hay không? Vì sao lại đặt ra câu hỏi về môi trường khi chấp nhận hoạt động phá dỡ tàu biển cũ? Bởi bên cạnh lợi ích không thể bàn cãi về kinh tế, hoạt động phá dỡ tàu biển cũ thực sự mang nhiều nguy cơ gây tổn thất cực kỳ lớn cho môi trường. Vấn đề về 4 chất thải từ tàu lan vào biển, lòng đất, không khí, và quan ngại hơn còn là sự ảnh hưởng đến sức khỏe cho những người trực tiếp thực hiện hoạt động phá dỡ. Một con tàu biển có tuổi thọ trung bình từ khoảng từ 25-30 năm. Tuy nhiên qua quá trình sử dụng, do hao mòn tự nhiên cũng như ảnh hưởng từ bên ngoài, những con tàu dần già đi và nảy sinh nhiều bệnh, những chất liệu tốt trong tàu có khi trở thành nguồn nguy hiểm.

Nếu không kiểm soát tốt sự thay đổi của các thành phần cấu tạo đó, thì nguy cơ khi phá vỡ, những thành phần này trở thành kẻ thù của môi trường, và đe dọa cả sức khỏe, tính mạng con người. Mặt khác, việc ảnh hưởng của con tàu đến xung quanh còn bị phụ thuộc vào quá trình sử dụng, bảo quản con tàu đó ra sao, một giả thiết hợp lý được đặt ra là, nếu chiếc tàu ấy từng chở dầu, từng bị loang dầu, các chất hóa học thì tỷ lệ rất cao là còn tồn tại nhiều tạp chất hóa học trên tàu. Khi phá hủy tàu, những hóa chất này len vào đất, hòa vào nước và không khí cũng gây triệu chứng cho sức khỏe môi trường vốn đã yếu dần sức đề kháng của chúng ta. Tất cả những lập luận trên nhằm minh chứng một điều rằng, nguy cơ gây ô nhiễm môi trường của hoạt động phá dỡ tàu biển không đúng quy trình, quy chuẩn sẽ là tất yếu, không thể chối cãi.

Và điều chúng ta cần làm tiếp theo đó là tìm ra phương hướng khắc phục, bảo vệ môi trường trong hoạt động kinh doanh đầy tiềm năng và cũng lắm những nguy cơ này. Nói về quy định cho phép nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ được quy định trong Luật Bảo vệ môi trường 2014 đã được thông qua và đang được vận hành; quan điểm này khi được khẳng định trong pháp luật bảo vệ môi trường đã tạo ra nhiều nghi vấn về vấn đề sức khỏe môi trường. Sợ rằng với hoài bão thịnh hóa ngành công nghiệp đóng tàu đang dần bế tắc của quốc gia, chúng ta sẽ hi sinh lợi ích của môi trường. Quan ngại với việc cho phép phá dỡ tàu biển cũ từ nhiều quốc gia khác nếu không tỉnh táo thì việc cứu vãn kinh tế đóng tàu quốc gia là xa vời và cũng khiến chúng ta trở thành bãi rác công nghiệp của những nước lớn.

Thực tế cho thấy, chỉ riêng với những con tàu lênh đênh trên biển khi có sự cố tràn dầu hay đắm tàu xảy ra, ngoài những thiệt hại vật chất, về con người, cũng cần kể đến sự nguy hại của các chất loang ra từ đó đến môi trường. Những chất hóa học 5 độc hại chưa kịp qua xử lý đã tràn vào môi trường biển, làm thay đổi tính chất môi trưởng, ảnh hưởng đến sức khỏe hệ sinh thái biển và quan trọng hơn chính là việc có những hậu quả về môi trường không thể khắc phục được. Đại dương của chúng ta vốn mênh mông, việc khắc phục sự cố đắm chìm tàu chỉ là giải pháp tình thế khi có sự cố xảy ra, và giải pháp đó không hoàn toàn hứa hẹn sẽ trả cho chúng ta tình trạng như ban đầu trước khi có sự cố. Còn đối với phá dỡ những con tàu biển thì sao? Điều gì khiến giới chuyên môn cũng như người dân quan ngại về việc sẽ phải đánh đổi sức khỏe môi trường? 1.

Bảo vệ môi trường trong hoạt động phá dỡ tàu biển đã qua sử dụng Điều được cân nhắc nhiều nhất khi thống nhất cho phép nhập khẩu tàu biển cũ để phá dỡ chính là về môi trường. Có thể nói, theo thời gian mức độ quan tâm về tình hình môi trường ngày càng nghiêm túc và sâu sắc hơn. Và việc cho phép nhập khẩu tàu biển đã qua sử dụng để phá dỡ cũng cần những biện pháp hiệu quả để bảo vệ môi trường và kiểm soát tốt hoạt động này.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ