Chương I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VÀ PHÁP LUẬT VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN 1. Khái niệm, đặc điểm, vai trò và nguyên tắc của Bảo hiểm xã hội tự nguyện 1. Khái niệm Bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXHTN được hiểu là một phương tiện đảm bảo tối ưu để người lao động tiếp tục và phục hồi khả năng lao động mà không cần chi trả trực tiếp cho việc chữa bệnh, tai nạn. [2] BHXHTN là một cách thức BHXH do Nhà nước tổ chức và quản lý, với sự tham gia tự nguyện của các thành viên nhằm mục đích đảm bảo thu nhập cho lao động và gia đình khi gặp rủi ro, làm giảm hoặc mất thu nhập, góp phần bảo đảm an toàn xã hội.
[2] Theo Từ điển: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình bảo hiểm xã hội hình thành trên cơ sở kết hợp giữa tổ chức, bảo trợ của Nhà nước với sự tham gia tự nguyện của người lao động có nhu cầu bảo hiểm”. Theo Khoản 3, Điều 3 Luật Bảo hiểm xã hội 2014: “Bảo hiểm xã hội tự nguyện là loại hình Bảo hiểm xã hội do Nhà nước tổ chức mà người tham gia được lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình và Nhà nước có chính sách hỗ trợ tiền đóng BHXH để người tham gia hưởng chế độ hưu trí và tử tuất.” Như vậy, ta có thể hiểu BHXHTN là loại hình BHXH do Nhà nước tổ chức mà người tham gia bảo hiểm được quyền lựa chọn mức đóng, phương thức đóng phù hợp với tài chính và thu nhập của mình. Đặc điểm của Bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXHTN là một loại bảo hiểm xây dựng dựa trên nguyện vọng của người lao động. Xuất phát từ tính chất của bảo hiểm, BHXHTN là quá trình tổ chức bồi thường hậu quả của những nguy cơ xã hội hoặc các sự kiện bảo hiểm (việc này được thực hiện thông qua quá trình tổ chức và sử dụng quỹ).
Quỹ này được góp phần bởi các bên tham gia BHXH và các nguồn thu hợp pháp khác; nhằm bù đắp phần nào thu 8 nhập cho người lao động khi họ gặp trường hợp giảm hoặc mất thu nhập do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức lao động không được sử dụng. Để góp phần bảo đảm an toàn kinh tế cho người lao động, gia đình và an toàn xã hội, BHXH có những đặc trưng sau đây: Thứ nhất, người lao động khi tham gia BHXH được đảm bảo thu nhập cả suốt quá trình lao động. Khi còn làm việc, người tham gia được đảm bảo khi bị ốm đau, được trợ cấp thai sản khi sinh con; người bị tai nạn lao động được trợ cấp tai nạn lao động; khi về hưu thì hưởng tiền hưu trí, khi chết thì được hưởng chế độ mai táng phí và gia đình được hưởng trợ cấp tuất. Nói cách khác, khi thực hiện đúng các điều kiện trong pháp luật thì người lao động được bảo hiểm cho tới lúc chết khi tham gia vào quan hệ BHXH.
Thứ hai, phạm vi bảo hiểm trong BHXH liên quan đến thu nhập của người lao động bao gồm: ốm đau, tai nạn lao động, bệnh nghề nghiệp, thai sản, mất việc làm, già yếu, chết. Thứ ba, người lao động khi tham gia và đảm bảo thực hiện các trách nhiệm đóng BHXH thì có quyền được hưởng trợ cấp BHXH, tuy nhiên quyền này chỉ có thể trở thành hiện thực khi họ thực hiện đầy đủ nghĩa vụ đóng BHXH. Người sử dụng lao động cũng phải có trách nhiệm đóng BHXH cho người lao động mà mình thuê. Nhà nước có trách nhiệm đóng BHXH cho các đối tượng thuộc quyền quản lý, chăm lo.
Bên cạnh những đặc điểm trên, BHXHTN còn mang những nét đặc trưng riêng có như sau: Thứ nhất, đối tượng tham gia BHXHTN thường không có quan hệ lao động chính thức, đa phần là lao động tự do không phát sinh quan hệ lao động, nông dân và ngư dân. Những người này thường chiếm tỷ trọng lớn trong lực lượng lao động xã hội, đặc biệt là đối với những nước đang phát triển. Trình độ và năng lực chuyên môn của họ thường khá thấp, việc làm không ổn định, thu nhập thấp,. Do vậy, để những đối tượng này có thể tiếp cận được chính sách BHXHTN thì Nhà nước cần phải xây dựng những chính sách phù hợp để người lao động có thể hiểu rõ bản chất và quyền lợi được hưởng.
Thứ hai, việc tham gia BHXHTN mang tính chất tự nguyện, ý chí của chủ thể tham gia. Người tham gia thường là những người có thu nhập thấp và số người ban 9 đầu tham gia chưa nhiều cho nên quỹ thường bị hạn hẹp. Để có nguồn quỹ đáp ứng được yêu cầu thì cần phải có nhiều chính sách tích cực: linh hoạt trong thiết kế chế độ, cách thức đóng phí phù hợp với nhu cầu của người tham gia, các nguồn tài trợ khác và đặc biệt là sự bảo trợ của Nhà nước cho quỹ khi cần thiết… 1. Vai trò của Bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXH là trụ cột chính, là xương sống trong hệ thống an sinh xã hội, là chỗ dựa vững chắc cho cuộc sống của người lao động, góp phần đảm bảo an toàn xã hội.
Vì vậy, BHXHTN có vai trò quan trọng đối với người lao động cũng như sự phát triển bền vững của xã hội nói chung. Đối với người tham gia BHXHTN bảo đảm thu nhập cho người lao động và gia đình họ khi gặp những khó khăn trong cuộc sống ảnh hưởng tới thu nhập. Đối tượng tham gia BHXH thường là người lao động tự do, thu nhập thấp và không ổn định. Vì vậy, khi tham gia BHXHTN sẽ đảm bảo phần nào thu nhập của họ và gia đình khi gặp những rủi ro trong cuộc sống ngay cả khi họ chết… BHXHTN là cơ hội để mỗi người thực hiện trách nhiệm tương trợ cho những khó khăn của các thành viên trong xã hội.
Từ đó, các rủi ro trong lao động cũng như đời sống của người lao động được khắc phục. Tham gia BHXH nói chung và BHXHTN nói riêng vừa bảo đảm thu nhập cho bản thân vừa thể hiện tinh thần “lá lành đùm lá rách”, tương thân tương ái trong cộng đồng. Tham gia BHXHTN vừa giúp người tham gia nâng cao hiệu quả trong tiêu dùng cá nhân, mà còn giúp họ tiết kiệm những khoản tiền nhỏ để có nguồn dự phòng cần thiết khi về già. Việc làm này góp phần ổn định cuộc sống cho bản thân và gia đình, là nguồn hỗ trợ vật chất và động viên tinh thần đối với mỗi cá nhân khi gặp khó khăn, giảm bớt lo lắng khi ốm đau, tai nạn, tuổi già… Người lao động tham gia BHXHTN sẽ có thu nhập ổn định, do đó thường có tâm lý tự tin hơn trong cuộc sống, từ đó đảm bảo cuộc sống cho gia đình của họ.
Như vậy, pháp luật BHXHTN có vai trò quan trọng đối với người lao động, quy định về quyền và nghĩa vụ của họ khi tham gia quan hệ BHXHTN. 10 Đối với xã hội BHXHTN tạo ra sự chia sẻ rủi ro, nâng cao tính cộng đồng xã hội. BHXHTN là công cụ để sử dụng nguồn quỹ dự phòng hiệu quả cho việc giảm rủi ro, tạo điều kiện phát triển kinh tế xã hội. BHXHTN đảm bảo an sinh xã hội vì giúp người tham gia yên tâm về tài chính khi về già hoặc khi không thể lao động, lương hưu và các trợ cấp khác giúp đảm bảo cuộc sống cho người lao động khi họ không thể tiếp tục làm việc; ngoài ra còn giúp cho người tham gia đảm bảo cuộc sống ổn định từ đó có động lực tham gia hoạt động kinh tế xã hội, tham gia sản xuất, đóng góp vào việc phát triển kinh tế xã hội.
Do đó, vai trò của pháp luật trong BHXNTN là thể hiện việc quy định chính sách, đóng góp vào công bằng xã hội và cân đối thu nhập giữa các nhóm tham gia, bao gồm cả người tham gia BHXH bắt buộc và những người làm việc tự do. Nguyên tắc Bảo hiểm xã hội tự nguyện BHXNTN thuộc một dạng của BHXH, vì vậy nguyên tắc của nó dựa trên nguyên tắc của BHXH được quy định tại Điều 5 của Luật Bảo hiểm xã hội 2014 [19]: 1. Mức hưởng Bảo hiểm xã hội được tính trên cơ sở mức đóng, thời gian đóng Bảo hiểm xã hội và có chia sẻ giữa những người tham gia Bảo hiểm xã hội. Trong lĩnh vực BHXHTN, nguyên tắc này được hiểu là "đóng phí để được hưởng" và "chia sẻ rủi ro".
Điều này được thể hiện rõ ràng qua cơ chế hoạt động của nó khi mà đóng phí BHXHTN đầy đủ và đúng hạn thì sẽ được hưởng các chế độ bảo hiểm theo mức đã đóng phí, gồm: Trợ cấp tử tuất, trợ cấp hưu trí và đóng phí BHXH càng nhiều thì mức hưởng càng cao, thời gian tham gia đóng càng dài thì mức hưởng lương hưu càng cao. Về việc “chia sẻ rủi ro” là yếu tố cốt lõi, được thể hiện qua việc số đông người tham gia BHXHTN đóng góp phí để chi trả cho một số người gặp rủi ro. Ví dụ phí BHXHTN đóng góp bởi nhiều người tham gia được sử dụng để chi trả lương hưu, trợ cấp tử tuất cho những người tham gia gặp rủi ro. Sự chia sẻ rủi ro này mang lại lợi ích cho tất cả người tham gia BHXHTN, đảm bảo họ được hỗ trợ tài chính khi gặp khó khăn.
11 Nhờ áp dụng nguyên tắc này, BHXHTN mang lại nhiều lợi ích cho người tham gia như: Bảo đảm an sinh xã hội cho người tham gia khi khó khăn, tạo nguồn lực tài chính ổn định cho hệ thống BHXH, góp phần thúc đẩy sự phát triển kinh tế - xã hội. Mức đóng Bảo hiểm xã hội bắt buộc được tính trên cơ sở tiền lương tháng của người lao động. Mức đóng Bảo hiểm xã hội tự nguyện được tính trên cơ sở mức thu nhập tháng do người lao động lựa chọn. Chế độ BHXHTN tại Việt Nam quy định việc đóng BHXHTN dựa trên mức thu nhập mà người tham gia lựa chọn.
Điều này thể hiện sự linh hoạt và phù hợp với khả năng kinh tế của mỗi cá nhân. Tuy nhiên thì mức đóng không được thấp hơn mức lương tối thiểu khu vực. Quy định này vừa thu hút đông đảo người lao động tham gia BHXHTN, tạo điều kiện cho người lao động tự chủ phù hợp với khả năng kinh tế của mình, vừa đảm bảo rằng người tham gia vẫn nhận được mức chế độ bảo hiểm tối thiểu khi gặp rủi ro hoặc khi nghỉ hưu.