Chương 1. Cơ sở lý luận về phân vùng chức năng phục vụ định hướng sử dụng đất bền vững. Phân tích thực trạng sử dụng đất tỉnh Phú Thọ. Phân vùng chức năng và đề xuất định hướng sử dụng đất bền vững tỉnh Phú Thọ.
3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com CHƢƠNG 1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN VÙNG CHỨC NĂNG PHỤC VỤ ĐỊNH HƢỚNG SỬ DỤNG ĐẤT BỀN VỮNG 1. Tổng quan các công trình nghiên cứu 1. Các công trình nghiên cứu phân vùng chức năng phục vụ định hướng sử dụng đất bền vững trong và ngoài nước a.
Trên thế giới Tư tưởng chủ đạo của phát triển bền vững chính là sự bình đẳng về sử dụng tài nguyên và các dịch vụ môi trường trong một thế hệ và giữa các thế hệ [22]. Phát triển bền vững hướng tới sự phát triển bảo đảm hài hòa được các mục tiêu về kinh tế, xã hội và môi trường [7]. Trong bối cảnh nguồn tài nguyên đất đai ngày càng trở nên hạn hẹp thì lựa chọn phát triển bền vững cũng đã trở thành mục tiêu cần thiết cho việc quy hoạch sử dụng đất ở các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Quy hoạch có vai trò định hướng cho phát triển, vì vậy quy hoạch sử dụng đất được coi là cần thiết trong nền kinh tế thị trường [25].
Về mặt khoa học và thực tiễn, đất đai là tài nguyên thiên nhiên không tái tạo, cần sử dụng hợp lý và đạt hiệu quả cao. Phân vùng chức năng giúp giải quyết vấn đề sử dụng hợp lý tài nguyên đất phục vụ quy hoạch sử dụng đất bền vững [8]. Phân vùng chức năng là bước quan trọng đầu tiên trong định hướng không gian phục vụ sử dụng đất bền vững cho một vùng lãnh thổ. Mục đích chủ yếu của phân vùng là chia các vùng theo chức năng riêng để sử dụng đất một cách hợp lý [9].
Đặc trưng của phân vùng chức năng là chỉ rõ các vùng có thể hoạt động cư trú, công nghiệp, giải trí hoặc thương mại,… [10]. Mục đích cơ bản của việc sử dụng đất đai tốt là đảm bảo sự phát triển bền vững. Vì vậy, cần thực hiện phân vùng và tìm kiếm các giải pháp phân vùng chức năng để định hướng sử dụng đất một cách hiệu quả và bền vững. Tại khu vực Bắc Mỹ, phân vùng chức năng phục vụ sử dụng đất bền vững cũng được quan tâm, trong đó chú trọng nhiều tới bảo vệ các hệ sinh thái.
Fitzsimons và cộng sự (2012) tiến hành đánh giá đất đai và phân vùng chức năng phục vụ phát triển vành đai xanh tại Toronto, Canada [2,3]. Tại khu vực Mỹ La tinh, phân vùng chức năng phục vụ sử dụng đất bền vững được áp dụng cho cả khu vực đô thị hóa cao và các khu vực cảnh quan tự nhiên. Rojas và cộng sự (2012) thực hiện đánh giá môi trường chiến lược cho cả châu Mỹ La-tinh, 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com sau đó áp dụng cụ thể cho quy hoạch đô thị tại vùng đô thị Concepción của Chile [23]. Trong khoảng thời gian này, Barral và Oscar (2012) tiến hành một nghiên cứu phân vùng chức năng sử dụng đất bền vững dựa trên đánh giá các dịch vụ hệ sinh thái, áp dụng điển hình cho vùng đông nam Pampas của Argentina [24].
Tại Australia, Pearson và cộng sự (2010) đề xuất một bản kế hoạch để phân vùng chức năng cho quy hoạch phục vụ sử dụng đất bền vững và áp dụng cho khu vực đô thị thuộc vùng đông nam Queensland, Australia [31]. Trong khi các thành phố của châu Âu kiểm soát phát triển từ cuối thế kỷ XIX, thành phố New York đã được thực hiện phân vùng đầu tiên vào năm 1916. Vào cuối những năm 1920 nhiều nước đã thực hiện việc điều chỉnh phân vùng chức năng đáp ứng nhu cầu phát triển. Bộ Môi trường và Tài nguyên nước Paraguay cũng đã tiến hành phân vùng nhằm bảo vệ thượng nguồn lưu vực sông Paraguay [31].
Dựa vào các yếu tố kinh tế xã hội, hiện trạng sử dụng đất, tình hình sản xuất, cơ sở hạ tầng và tổ chức trong vùng để phân vùng chức năng phục vụ cho sử dụng đất bền vững. Do đó, phân vùng chức năng được sử dụng như một công cụ phục vụ cho việc sử dụng hợp lý tài nguyên đất đai trong một không gian lãnh thổ. Cơ sở để phân vùng chức năng là tổng hợp các yếu tố tự nhiên và kinh tế xã hội tại mỗi vùng [8]. Tại Việt Nam Vấn đề quản lý đất đai theo không gian và phân vùng chức năng ở Việt Nam hiện nay đang còn là những vấn đề mới mẻ [26].
Để thực hiện phân vùng chức năng hiệu quả, một số cách tiếp cận khác nhau đã được sử dụng ở Việt Nam [10]: - Tiếp cận dựa vào hệ sinh thái: đảm bảo cân bằng giữa mục tiêu và mục đích kinh tế, xã hội, sinh thái hướng tới phát triển bền vững. - Tiếp cận tổng hợp: giữa các ngành và các cơ quan, giữa các cấp của chính phủ. - Tiếp cận không gian: dựa trên đặc điểm của vùng hoặc vị trí địa lý và điệu kiện tự nhiên, kinh tế xã hội đặc thù của từng vùng. - Tiếp cận tham dự: có sự tham gia của các bên liên quan tích cực tham gia vào quá trình phân vùng chức năng.
Phân vùng chức năng được xem là giai đoạn đầu của một chu trình quy hoạch và là công cụ áp dụng phổ biến trong quy hoạch sử dụng đất và sau đó là phân vùng quản lý các khu vực đất đai theo chức năng sử dụng các loại đất [9]. Trong công tác quy hoạch sử dụng đất ở Việt Nam thì phân vùng chức năng được áp dụng từ những 5 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com năm 2000 trở lại đây [6]. Đất đai có nhiều chức năng và công dụng, tuy nhiên không phải tất cả đều bộc lộ ngay tại một thời điểm. Có nhiều chức năng của đất đai đã bộc lộ trong quá khứ, đang thể hiện ở hiện tại và nhiều chức năng sẽ xuất hiện từng triển vọng.
Do vậy, đánh giá tiềm năng đất đai là công việc hết sức quan trọng nhằm phát hiện ra các chức năng hiện có và sẽ có trong tương lai. Hiện nay tại Việt Nam chưa có phương pháp luận hoàn chỉnh về phân vùng chức năng. Tuy nhiên, một số ngành, địa phương đã có tiến hành thực hiện phân vùng chức năng để phục vụ quy hoạch phát triển kinh tế xã hội và quy hoạch sử dụng đất nhằm phát triển bền vững [11]. Phân vùng chức năng được đề cập trong một số công trình về, phân vùng sinh thái nông nghiệp vùng đồng bằng sông Hồng (Cao Liêm, 1990), nghiên cứu xây dựng quy hoạch môi trường vùng kinh tế trọng điểm miền Trung (Phùng Chí Sỹ, 2004), phân vùng lãnh thổ tỉnh Ninh Bình (Đặng Trung Thuận, 2006), phân vùng chức năng sinh thái phục vụ phát triển bền vững trong bối cảnh biến đổi khí hậu tại huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định (Khuất Thị Hồng, 2015), phân tích hiện trạng và đánh giá biến động sử dụng đất giai đoạn 2005 - 2010 phục vụ phát triển bền vững huyện Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng (Nguyễn Thanh Hải, 2010), định hướng phân vùng chức năng sử dụng bền vững tài nguyên - môi trường vịnh Tiên Yên (Hoàng Văn Tuấn, 2012).
Trong các nghiên cứu này đều có nội dung phân vùng theo chức năng khác nhau làm cơ sở cho quy hoạch không gian sử dụng đất bền vững và phân bổ đất đai. Một số địa phương đã xây dựng quy hoạch không gian như tỉnh Hà Tây (cũ) trong quy hoạch và định hướng phát triển kinh tế phân thành 7 vùng chức năng: vùng bảo tồn kết hợp du lịch sinh thái, vùng sản xuất ven sông hồng, vùng phát triển ven thành phố Hà Nội, vùng sản xuất ven sông Đáy, vùng đa sử dụng giáp tỉnh Hưng Yên, vùng sản xuất giáp tỉnh Hà Nam, vùng cao núi đá vôi giáp tỉnh Hoà Bình và Khu di tích chùa Hương [10]. Tỉnh Bắc Giang được phân thành 14 vùng chức năng bao gồm: khu bảo tồn, khu phòng hộ, vùng sản xuất lúa-màu, vùng lúa thuỷ sản, vùng xử lý nước thải tập trung; vùng xử lý nước sinh hoạt, khu vực các hồ sinh học, khu vực bãi chứa rác thải, các trạm quan trắc nước thải, các khu du lịch, lịch sử, văn hoá, rừng và các làng nghề [30]. Phân vùng chức năng ở Việt Nam còn mới mẻ, đồng thời chưa có phương pháp luận thống nhất cũng như chưa nhận thức đúng về tầm quan trọng của chúng trong quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, quy hoạch sử dụng đất nhằm khai thác, sử dụng tài 6 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nguyên và bảo vệ môi trường bền vững [14].
Quản lý, sử dụng đất phải vừa đảm bảo quỹ đất phục vụ mục tiêu công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, bảo đảm an ninh, quốc phòng vừa đảm bảo mục tiêu bảo vệ môi trường, an ninh lương thực [17]. Việc phân vùng chức năng cần phù hợp với mục tiêu chiến lược và quy hoạch sử dụng đất dài hạn, không để lại hậu quả xấu về kinh tế, xã hội và môi trường, đảm bảo phát triển bền vững góp phần xóa đói, giảm nghèo, đảm bảo dân chủ, bình đẳng và công bằng xã hội [14]. Các công trình liên quan tới khu vực nghiên cứu Đề tài được hoàn thành trên cơ sở kế thừa các kết quả nghiên cứu theo hướng đánh giá tổng hợp trên quan điểm phân vùng. Đã có nhiều đề án được nghiên cứu có liên quan đến tỉnh Phú Thọ làm cơ sở để thực hiện được đề tài như: nghiên cứu phân vùng ô nhiễm môi trường tỉnh Phú Thọ (Phan Anh Tuấn, 2016), đánh giá điều kiện sinh khí hậu phục vụ phát triển du lịch bền vững tỉnh Phú Thọ (Nguyễn Thị Thanh Hoa, 2016), nghiên cứu xây dựng cơ sở dữ liệu hệ thống thông tin địa lý (GIS) tỉnh Phú Thọ phục vụ bảo vệ môi trường và phát triển bền vững (Trần Thanh Hà, 2011), nghiên cứu các hình thức tổ chức lãnh thổ công nghiệp ở tỉnh Phú Thọ (Nguyễn Thị Thịnh, 2015), điều tra, đánh giá hiện trạng, đề xuất giải pháp quản lý và sử dụng bền vững tài nguyên nước sông Lô trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (Trung tâm Quan trắc và Bảo vệ Môi trường tỉnh Phú Thọ, 2014), đề án “Tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững” tỉnh Phú Thọ đến năm 2020 (UBND tỉnh Phú Thọ, 2014), phát triển kinh tế trang trại theo hướng bền vững trên địa bàn tỉnh Phú Thọ (Bùi Thị Thanh Tâm, 2016).