Chương 1: Giới thiệu đề tài. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày lý do chọn đề tài nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, câu hỏi nghiên,các vấn đề cần nghiên cứu đồng thời giới thiệu chung về phương pháp nghiên cứu và ý nghĩa thực tiễn khi thực hiện đề tài. Chương 2: Cơ sở lý thuyết và các bẳng chứng nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới cũng như trong nước về việc thông báo thoái vốn nhà nước tác động lên giá chứng khoán của công ty. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 5 Trong chương này, tác giả sẽ tình bày tổng hợp cơ sở lý thuyết và những bằng chứng nghiên cứu thực nghiệm trên thế giới và trong nước về tác động của việc thông báo thoái vốn Nhà nước lên giá chứng khoán.
Chương 3: Thực trạng vấn đề nghiên cứu về thoái vốn nhà nước Trong chương này, tác già sẽ trình bày cái nhìn tổng quát về tình hình kinh tế trong nước và cụ thể hơn là tình hình biến động trên thị trường chứng khoán trong giai đoạn nghiên cứu để có cái nhìn tổng quan về nền kinh tế. Chương 4: Phương pháp và kết quả nghiên cứu. Trong chương này, tác giả sẽ trình bày phương pháp được sử dụng trong quá trình nghiên cứu, mô tả các đặc điểm của mô hình thực nghiệm, các giả định đặt ra để kiểm định và nguồn dữ liệu và phương pháp thu thập dữ liệu để thực hiện nghiên cứu từ đó trình bày kết quà nghiên cứu và nhận xét đánh giá kết quả vừa được tìm thấy. Chương 5: Kết luận vá hàm ý.
Ở chương này, tác giả tổng kết lại các vấn đề nghiên cứu, kết luận lại kết quả thực nghiệm từ mô hình nghiên cứu và đánh giá tính thực tiễn của đề tài đối với nền kinh tế. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN LÝ THUYẾT VỀ THOÁI VỐN VÀ LỢI NHUẬN BẤT THƯỜNG 2. Lý thuyết về lợi nhuận bất thường Trong phần này, tác giả tổng hợp một số giả thuyết cơ bản trong việc xác định lợi nhuận bất thường, bao gồm giả thuyết thị trường hiệu quả, giả thuyết sự kiện bất thường, giả thuyết hiệu ứng gây nhiễu.1 Lý thuyết thị trường hiệu quả Giả thuyết đầu tiên và có thể coi là giả định cốt lõi đó là thị trường là hiệu quả, giả định này là phần chính trong kinh tế và tài chính được Bromiley, Govekar, and Marcus tổng kết vào năm 1988. Điều này đã được chứng thực bởi vì giả định này cung cấp cơ sở lý thuyết nền tảng cho việc sử dụng mô hình sự kiện.
Thị trường hiệu quả hàm ý rằng giá cổ phiếu phản ánh đầy đủ tất cả các thông tin có liên quan sẵn có trên thị trường chứng khoán. Điều này có nghĩa là, những thông tin tài chính nào, ngay cả những thông tin mới nhất đến tai nhà đấu tư thì cũng sẽ ngay lập tức thể hiện lên giá cổ phiếu. Qua đó nhà nghiên cứu có thể xác định tầm quan trọng của sư kiện bằng cách đo lường ảnh hưởng của nó lên giá chứng khoán một cách chắn chắn. Để làm được điều đó, nhà nghiên cứu sẽ tiến hành phân tích sự biến động của giá trong một khoản thời gian nhất định trước và sau ngày xảy ra sự kiện, và khoản thời gian này được gọi là cửa sổ sự kiện “event window”.
Giả thuyết về hiệu quả của thị trường rất khó để đối chiếu với việc sử dụng một cửa sổ sự kiện trong thời gian dài. Việc sử dụng các cửa sổ sự kiện trong thời gian dài trong nhiều nghiên cứu hàm ý rằng một số nhà nghiên cứu không tin rằng tác động của sự kiện được nhanh chóng phản ánh vào giá cổ phiếu. Điều này có thể được diễn giải là vi phạm giả thiết về hiệu quả của thị trường. Trong một số trường hợp, có thể hợp lý khi cho rằng thông tin được tiết lộ cho nhà đầu tư một cách chậm chạp trong một khoảng thời gian.
Ví dụ như: khi sự kiện mua lại cổ phiếu, thông tin về số lượng người mua tiềm năng và đánh giá mục tiêu có thể được tiết lộ trong một LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 khoảng thời gian tương đối dài. Trong trường hợp này, nhiệm vụ của nhà nghiên cứu để giải thích tại sao hiệu quả sẽ không được thực hiện trong một khoảng thời gian ngắn. Nếu không, việc sử dụng phương pháp nghiên cứu sự kiện là không phù hợp. Malkiel & Fama (1970) đã tổng hợp các dạng phổ biến về hiệu quả của thị trường.
Lý thuyết này cho rằng thị trường được xem là hiệu quả khi các thông tin sẵn có trên thị trường phản ảnh ngay vào giá của chứng khoán và nhà đầu tư sẽ không có cơ hội tìm thấy lợi nhuận từ việc biến động giá. Cũng theo thuyết này thì hầu hết lợi nhuận từ cổ phiếu tuân theo phân phối chuẩn và giá cổ phiếu là không thể dự đoán trước được.Thị trường hiệu quả được phân chia ra thành ba dạng hiệu quả. Đó là thị trường hiệu quả dạng yếu, thị trường hiệu quả dạng trung bình và thị trường hiệu quả dạng mạnh. Thị trường hiệu quả dạng yếu: Lý thuyết này cho rằng giá chứng khoán hiện tại là sự phản ánh đầy đủ các thông tin quá khứ, bao gồm các mức giá trong quá khứ, lợi suất cũng như sự thay đổi giá trong quá khứ.
đây được coi là thông tin dạng yếu của thị trường chứng khoán Điều này có nghĩa là, lợi suất – suất sinh lời cũng như các thông tinh khác của chứng khoán trong quá khứ không có mối liên hệ với tương lai. Nói cách khác, bằng những căn cứ từ thông tin trong quá khứ ta không thể dự báo được giá chứng khoán trong tương lai có thể kiếm được lợi nhuận vượt trội hay không. Thị trường hiệu quả dạng trung bình: Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng trung bình cho rằng các thông tinh trên thị trường sẽ nhanh chóng trước tác động đến giá chứng khoán, tức là giá chứng khoán hiện tại là kết quả phản ánh đầy đủ mọi thông tin công khai trong hiện tại (hoặc lân cận với hiện tại), cũng như trong quá khứ. Thị trường hiệu quả dạng mạnh: LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 Lý thuyết thị trường hiệu quả dạng mạnh cho rằng tất cả các thông tin từ nội bộ đến công khai tác động trực tiếp lên giá chứng khoán.
Như vậy trong một thị trường hiệu quả dạng mạnh thì dù các thông tin đó có được phổ biến ra công chúng hay không sẽ không thể thu được lợi nhuận vượt trội so với người khác. Trong thị trường hiệu quả luôn tồn tại một cơ chế điều chỉnh thị trường về trạng thái cân bằng, đó là cơ chế kinh doanh chênh lệch giá. Nguyên tắc của cơ chế kinh doanh chênh lệch giá là khi giá của các tài sản tài chính trên thị trường không phản ánh một cách chính xác giá trị hợp lý (dựa trên những yếu tố cơ bản), dẫn đến hiện tượng định giá sai trên thị trường, khi đó sẽ tồn tại cơ hội kinh doanh chênh lệch giá. Như vậy,hoạt động kinh doanh chênh lệch giá là tại cùng một thời điểm thực hiện hành động mua và bán cùng một loại chứng khoán trên hai thị trường khác nhau để hưởng lợi nhuận từ sự khác biệt giá của chúng (Bodie et al.
Còn (Madura 2011) thì cho rằng có thể định nghĩa kinh doanh chênh lệch giá là việc tận dụng sự khác biệt giữa các giá niêm yết để kiếm lời mà không chịu rủi ro và điều này sẽ chấm dứt cho đến khi nào các mức giá được điều chỉnh thống nhất với nhau. Giá của cổ phiếu có thể cao trong một thị trường nhưng cùng lúc đó có thể thấp trong một thị trường khác. Hoạt động mà các nhà đầu tư mua tài sản bị định giá thấp và bán tài sản được định giá cao sẽ làm cho giá thi trường trở về trạng thái cân bằng.2 Giả thuyết sự kiện bất thường Giả định thứ hai được dựa trên ý tưởng rằng một sự kiện được công bố rộng rãi trên báo chí. Thị trường trước đây không có thông tin về sự kiện này, và nhà đầu tư thu được thông tin từ thông báo.
Lợi nhuận bất thường có thể được giả định là kết quả của thị trường chứng khoán phản ứng với thông tin mới. Nó có khả năng là một sự kiện đã được dự đoán hoặc thông tin rò rỉ ra thị trường trước một thông báo chính thức. Hiện tượng rò rỉ thông tin này làm cho việc sử dụng mô hình nghiên cứu sự kiện trở nên không chắn chắn bởi vì rất khó để xác định được thời điểm nào nhà LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 đầu tư nhận biết được thông tin mới. Ví dụ như: thông tin về thay đổi quyền kiểm soát doanh nghiệp và thu nhập quản lý cấp cao có thể được tiết lộ ra thị trường trước khi các sự kiện được chính thức công bố.
Tuy nhiên, các nhà nghiên cứu hiếm khi giải quyết vấn đề này trong các nghiên cứu vì những chủ đề như vậy không tập trung vào các chủ đề kiểm soát doanh nghiệp.3 Giả thuyết hiệu ứng gây nhiễu Giả thuyết thứ ba dựa trên tuyên bố rằng một nhà nghiên cứu đã cô lập tác động của một sự kiện từ những ảnh hưởng của các sự kiện khác. Đây có lẽ là giả thuyết quan trọng nhất của phương pháp luận. Giả định rằng không có ảnh hưởng gây nhiễu từ các sự kiện khác. Các sự kiện gây nhiễu có thể bao gồm tuyên bố cổ tức, thông báo về việc sáp nhập sắp xảy ra, ký kết một hợp đồng chính của chính phủ, tuyên bố sản phẩm mới, nộp đơn kiện thiệt hại lớn, tuyên bố thu nhập không mong muốn và thay đổi nhân sự chủ chốt.
Bất kỳ sự kiện nào có thể ảnh hưởng đến giá cổ phiếu trong một cửa sổ sự kiện. Cửa sổ sự kiện càng dài thì các nhà nghiên cứu càng khó khẳng định rằng họ đã kiểm soát được các hiệu ứng gây nhiễu. Các nhà nghiên cứu dường như không nhạy cảm với vấn đề này. Các tác giả của nhiều nghiên cứu sử dụng các cửa sổ dài đã không nêu rõ liệu chúng có kiểm soát cho các hiệu ứng gây nhiễu hay không.
Lý thuyết mô hình lợi nhuận thông thường 2.1 Quy luật bước nhảy ngẫu nhiên Theo Bodie et al. (2011), thuật ngữ bước ngẫu nhiên “Random walk” là trường hợp sự thay đổi của giá cổ phiếu là ngẫu nhiên không thể dự báo trước, nói cách khác sự thay đổi tiếp theo của giá cổ phiếu không có mối tương quan. Giá trị nội tại của cổ phiếu được tính toán dựa trên nguyên tắc chiết khấu dòng tiền hoặc cổ tức trong tương lai.