Luận văn thạc sĩ: Phân tích yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo tại Tân Châu, An Giang

Luận văn thạc sĩ phân tích phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của hộ nghèo trên địa bàn thị xã tân châu, đánh giá thực trạng, chỉ ra hạn chế, đề xuất giải

Chuyên ngành

Chính Sách Công

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận Văn Thạc Sỹ Kinh Tế

2015

152
1
0

Phí lưu trữ

45 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CẢM ƠN

LỜI CAM ĐOAN

TÓM TẮT

1. CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU

1.1. Vấn đề nghiên cứu

1.2. Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1. Mục tiêu tổng quát

1.2.2. Mục tiêu cụ thể

1.3. Câu hỏi nghiên cứu

1.4. Giả thuyết nghiên cứu

1.5. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.5.1. Đối tượng nghiên cứu

1.5.2. Phạm vi nghiên cứu

1.6. Phương pháp nghiên cứu

1.7. Ý nghĩa của nghiên cứu

1.8. Bố cục của luận văn

2. CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT

2.1. Nghèo đói và sự cần thiết phải thoát nghèo

2.2. Khái niệm về nghèo đói

2.3. Tiêu chí đánh giá đói nghèo

2.4. Phương pháp đo lường nghèo đói

2.5. Các thước đo về nghèo

2.6. Vòng luẩn quẩn nghèo đói

2.7. Đặc trưng của nghèo đói

2.8. Nguyên nhân nghèo đói

2.9. Đặc tính của người nghèo

2.10. Sự cần thiết phải thoát nghèo

2.11. Giảm nghèo là mục tiêu quốc gia

2.12. Cam kết giảm nghèo của Việt Nam với Liên Hiệp Quốc

2.13. Khảo lược các lý thuyết kinh tế

2.14. Các nhóm yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo qua các nghiên cứu thực nghiệm có liên quan

2.14.1. Nhóm yếu tố liên quan đến cá nhân và hộ gia đình

2.14.2. Yếu tố liên quan đến chính sách xoá đói giảm nghèo của Chính phủ

2.15. Thực tiễn thoát nghèo trên thế giới và ở Việt Nam

2.15.1. Trên thế giới

2.15.2. Tỉnh An Giang

2.16. Bài học kinh nghiệm trong công tác xoá đói giảm nghèo

3. CHƯƠNG 3: MÔ HÌNH PHÂN TÍCH

3.1. Thực trạng đói nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang thời gian qua

3.2. Thực trạng công tác xoá đói giảm nghèo của thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang thời gian qua

3.3. Các chính sách hỗ trợ, ưu đãi hộ nghèo và cận nghèo đã thực hiện thời gian qua

3.4. Các hoạt động thực hiện công tác xoá đói giảm nghèo trên địa bàn thị xã của các cấp, các ngành trong toàn thị xã thời gian qua

3.5. Kết quả đạt được từ công tác xoá đói giảm nghèo

3.6. Những hạn chế cần khắc phục trong công tác xoá đói giảm nghèo

3.7. Dữ liệu nghiên cứu

3.7.1. Dữ liệu sơ cấp

3.7.2. Dữ liệu thứ cấp

3.8. Khung phân tích

3.9. Giả thuyết nghiên cứu

3.10. Các yếu tố liên quan đến cá nhân và hộ gia đình

3.11. Yếu tố liên quan đến cộng đồng và vùng miền địa lý

3.12. Yếu tố liên quan đến chính sách xoá đói giảm nghèo ở địa phương

3.13. Mô hình kinh tế lượng

3.14. Quy trình nghiên cứu

3.15. Phương pháp tính và chọn mẫu khảo sát

3.15.1. Phương pháp tính mẫu khảo sát

3.15.2. Phương pháp chọn mẫu khảo sát

4. CHƯƠNG 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

4.1. Thống kê mô tả

4.2. Đặc điểm chung của mẫu khảo sát

4.3. Đặc điểm hộ nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

4.4. Những điểm khác biệt giữa hộ thoát nghèo và hộ chưa thoát nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

4.5. Kết quả hồi quy

4.6. Mô hình hồi quy logit

4.7. Một số kiểm định trong mô hình

4.8. Ý nghĩa kinh tế và tác động của các biến độc lập đến biến phụ thuộc trong mô hình

5. CHƯƠNG 5: KẾT LUẬN VÀ GỢI Ý CHÍNH SÁCH

5.1. Đặc điểm hộ nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

5.2. Những điểm khác biệt giữa hộ thoát nghèo và hộ chưa thoát nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

5.3. Những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của hộ nghèo ở thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang

5.4. Gợi ý chính sách

5.5. Hạn chế của nghiên cứu

TÀI LIỆU THAM KHẢO

DANH MỤC BẢNG, BIỂU

DANH MỤC HÌNH VẼ, SƠ ĐỒ

Tóm tắt

I. Tổng quan về phân tích yếu tố thoát nghèo tại Tân Châu An Giang

Thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang, là một trong những địa phương đang đối mặt với nhiều thách thức trong công tác xóa đói giảm nghèo. Nghiên cứu này nhằm phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của hộ nghèo tại đây. Việc hiểu rõ các yếu tố này không chỉ giúp cải thiện đời sống của người dân mà còn góp phần vào sự phát triển bền vững của địa phương.

1.1. Đặc điểm kinh tế xã hội của Tân Châu

Tân Châu có nền kinh tế chủ yếu dựa vào nông nghiệp, với nhiều hộ gia đình sống phụ thuộc vào sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, tình hình kinh tế xã hội tại đây vẫn còn nhiều khó khăn, đặc biệt là trong việc tiếp cận các nguồn lực phát triển.

1.2. Tình hình nghèo đói tại Tân Châu

Theo số liệu thống kê, tỷ lệ hộ nghèo tại Tân Châu vẫn còn cao, với nhiều hộ gia đình gặp khó khăn trong việc thoát nghèo. Các yếu tố như giáo dục, việc làm và chính sách hỗ trợ đóng vai trò quan trọng trong khả năng thoát nghèo của họ.

II. Vấn đề và thách thức trong công tác thoát nghèo tại Tân Châu

Mặc dù đã có nhiều nỗ lực trong công tác xóa đói giảm nghèo, nhưng vẫn còn nhiều thách thức cần phải giải quyết. Các vấn đề như thiếu hụt nguồn lực, chính sách chưa hiệu quả và tâm lý của người dân là những yếu tố cản trở quá trình thoát nghèo.

2.1. Thiếu hụt nguồn lực và cơ hội việc làm

Nhiều hộ nghèo tại Tân Châu không có đủ nguồn lực để đầu tư vào sản xuất hoặc kinh doanh. Điều này dẫn đến việc họ không thể tạo ra thu nhập ổn định và dễ dàng rơi vào tình trạng tái nghèo.

2.2. Chính sách hỗ trợ chưa hiệu quả

Các chính sách hỗ trợ từ chính phủ và địa phương chưa thực sự đáp ứng được nhu cầu của người nghèo. Việc tiếp cận các chương trình hỗ trợ còn gặp nhiều khó khăn, khiến cho nhiều hộ gia đình không thể tận dụng được các cơ hội.

III. Phương pháp phân tích yếu tố thoát nghèo tại Tân Châu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp phân tích định lượng để xác định các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo. Mô hình hồi quy Logit được áp dụng để phân tích dữ liệu từ các hộ nghèo trên địa bàn.

3.1. Dữ liệu nghiên cứu và phương pháp thu thập

Dữ liệu được thu thập từ 62 hộ thoát nghèo và 88 hộ chưa thoát nghèo. Phỏng vấn trực tiếp và khảo sát là hai phương pháp chính được sử dụng để thu thập thông tin.

3.2. Mô hình hồi quy Logit trong phân tích

Mô hình hồi quy Logit giúp xác định mối quan hệ giữa các yếu tố như giáo dục, việc làm và khả năng thoát nghèo. Kết quả từ mô hình này sẽ cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố quyết định.

IV. Kết quả nghiên cứu về khả năng thoát nghèo tại Tân Châu

Kết quả nghiên cứu cho thấy nhiều yếu tố ảnh hưởng tích cực đến khả năng thoát nghèo của hộ nghèo tại Tân Châu. Những yếu tố như trình độ học vấn, nỗ lực cá nhân và sự hỗ trợ từ chính sách là những yếu tố quan trọng.

4.1. Các yếu tố thuận lợi cho khả năng thoát nghèo

Trình độ học vấn cao và nỗ lực cá nhân là những yếu tố giúp hộ nghèo có khả năng thoát nghèo tốt hơn. Họ có thể tìm kiếm việc làm ổn định và có thu nhập cao hơn.

4.2. Các yếu tố cản trở khả năng thoát nghèo

Tâm lý không muốn thoát nghèo để hưởng các chính sách hỗ trợ và số lượng thành viên trong gia đình bị bệnh là những yếu tố cản trở khả năng thoát nghèo của hộ nghèo.

V. Gợi ý chính sách hỗ trợ thoát nghèo tại Tân Châu

Dựa trên kết quả nghiên cứu, một số gợi ý chính sách được đưa ra nhằm hỗ trợ hộ nghèo tại Tân Châu thoát nghèo bền vững. Các chính sách cần tập trung vào việc nâng cao giáo dục, tạo việc làm và cải thiện điều kiện sống.

5.1. Nâng cao chất lượng giáo dục

Đầu tư vào giáo dục sẽ giúp nâng cao trình độ học vấn của người dân, từ đó tăng khả năng tìm kiếm việc làm và thu nhập.

5.2. Tạo cơ hội việc làm cho hộ nghèo

Cần có các chương trình đào tạo nghề và hỗ trợ khởi nghiệp cho hộ nghèo để họ có thể tự tạo ra thu nhập và thoát nghèo bền vững.

VI. Kết luận và triển vọng tương lai về thoát nghèo tại Tân Châu

Nghiên cứu đã chỉ ra rằng việc phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo là rất cần thiết. Từ đó, các chính sách hỗ trợ cần được điều chỉnh để phù hợp với thực tế tại Tân Châu, nhằm đạt được mục tiêu xóa đói giảm nghèo bền vững.

6.1. Tầm quan trọng của việc thoát nghèo bền vững

Thoát nghèo bền vững không chỉ giúp cải thiện đời sống của người dân mà còn góp phần vào sự phát triển kinh tế - xã hội của địa phương.

6.2. Triển vọng tương lai cho Tân Châu

Với những chính sách hỗ trợ hợp lý và sự nỗ lực từ cộng đồng, Tân Châu có thể đạt được mục tiêu giảm nghèo và phát triển bền vững trong tương lai.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

16/08/2025
Luận văn thạc sĩ phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến khả năng thoát nghèo của hộ nghèo trên địa bàn thị xã tân châu tỉnh an giang

Trích đoạn nội dung tài liệu

Chương 1: Giới thiệu Chương 2: Cơ sở lý thuyết Chương 3: Mô hình phân tích Chương 4: Kết quả nghiên cứu Chương 5: Kết luận và gợi ý chính sách TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 7 CHƯƠNG 2: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 2. Nghèo đói và sự cần thiết phải thoát nghèo 2. Khái niệm về nghèo đói Phải thừa nhận rằng, cho đến nay, không có định nghĩa duy nhất nào về nghèo đói (Ngân hàng Thế giới, 2004). Cần có quan điểm đúng và có sự thống nhất chung cho các quốc gia về khái niệm nghèo đói thì mới xây dựng được các giải pháp xoá đói giảm nghèo hiệu quả.

Có chăng, chỉ khác nhau giữa các quốc gia về cách tiếp cận nghèo đói, chứ không phải khác nhau về bản chất của nghèo đói. Theo Nicolas Meisel, (2009, trang 64), người châu Phi có một ngạn ngữ có thể xem là định nghĩa về nghèo đói: "Kẻ nghèo là kẻ không có bạn". Tư tưởng của câu ngạn ngữ này mở ra một hướng tiếp cận mới về nghèo đói - đặc biệt thích ứng với các nước đang phát triển - nghèo là bị cô lập, không có mối liên hệ với mọi người, bị chia cắt khỏi mạng lưới xã hội vốn giúp chống lại các nguy cơ trong cuộc sống (Nicolas Meisel, Jacques Ould Aoudia, 2009). Theo quan điểm định lượng, nghèo được đo lường bằng cách so sánh thu nhập hoặc tiêu dùng của cá nhân hay hộ gia đình với một ngưỡng mà xã hội xem là mức chuẩn về mức sống.

Quan điểm này xem một cá nhân hay hộ gia đình là nghèo, nếu mức sống của họ thấp hơn ngưỡng mức sống mà xã hội đặt ra tại một thời điểm xác định. Nói cách khác, nghèo có nghĩa là có ít tiền (Trần Tiến Khai, Nguyễn Ngọc Danh, 2012). Diễn giải rõ hơn nữa về nghèo, Ngân hàng Thế giới (2003) định nghĩa, nghèo đói, là tình trạng kiệt quệ bao gồm nhiều khía cạnh, bị thiếu thốn nhiều phương diện: thu nhập hạn chế hoặc thiếu cơ hội tạo thu nhập, thiếu tài sản để đảm bảo tiêu dùng trong những lúc khó khăn, dễ bị tổn thương trước những những tai ương bất ngờ và hoàn cảnh bất lợi, ít có khả năng truyền đạt nhu cầu và những khó khăn đến TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 8 những người có khả năng giải quyết, ít được tham gia vào quá trình ra quyết định, cảm giác bị sỉ nhục, không được người khác tôn trọng. Cụ thể hơn về nghèo, Hội nghị thượng đỉnh thế giới về phát triển xã hội tổ chức năm 1995 tại Copenhagen, Đan Mạch đã xác định: "Người nghèo là tất cả những ai mà thu nhập thấp hơn dưới một đô la (USD) mỗi ngày cho mỗi người, số tiền được coi như đủ để mua những sản phẩm cần thiết để tồn tại".

Riêng ở khu vực châu Á - Thái Bình Dương, các quốc gia trong khu vực đã thống nhất cao đưa ra định nghĩa về nghèo tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Bangkok, Thái Lan: "Nghèo đói là tình trạng một bộ phận dân cư không được hưởng và thoả mãn những nhu cầu cơ bản của con người, mà những nhu cầu này đã được xã hội thừa nhận, tuỳ theo trình độ phát triển kinh tế - xã hội và phong tục tập quán của địa phương". Định nghĩa này mang tính hướng dẫn về phương pháp nhận diện, đánh giá nét chính yếu, phổ biến về đói nghèo. Có thể xem đây là định nghĩa chung nhất về nghèo đói (Hoàng Triều Hoa, 2015). Trong đó, các tiêu chí và chuẩn mực xác định nghèo đói chưa được lượng hóa.

Ngoài ra, còn có cách tiếp cận khái niệm nghèo tham chiếu theo tình trạng thiếu thốn - sự thiếu thốn vật chất có thể được thể hiện qua những nét đặc trưng của những khu vực mà người nghèo thường sinh sống, là những nơi thường thiếu điện, nước sạch hay nhà vệ sinh và các dịch vụ khác - đói nghèo là kết quả của một loạt các tác động về xã hội, kinh tế, chính trị và văn hoá (UNDP, 2012). Nói chung, bàn đến giàu, nghèo, là xem xét thu nhập và mức sống với những chuẩn mực khác nhau tùy thuộc vào từng quốc gia, vùng, miền khác nhau. Chính từ đó, có quan niệm nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối. Robert McNamara, khi là giám đốc của Ngân hàng Thế giới, đã đưa ra khái niệm nghèo tuyệt đối như sau: "Nghèo ở mức độ tuyệt đối.

là sống ở ranh giới ngoài cùng của tồn tại. Những người nghèo tuyệt đối là những người phải đấu tranh TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 9 để sinh tồn trong các thiếu thốn tồi tệ và trong tình trạng bỏ bê và mất phẩm cách vượt quá sức tưởng tượng mang dấu ấn của cảnh ngộ may mắn của giới trí thức chúng ta". Khác với nghèo tuyệt đối, nghèo tương đối là tình trạng một bộ phận dân cư sống dưới mức trung bình của cộng đồng tại địa phương xem xét. Định nghĩa này đề cập đến vấn đề bất bình đẳng trong xã hội.

Nghèo theo quan niệm này mang ý nghĩa tương đối vì mức sống trung bình ở các nước là khác nhau, giữa các vùng, các địa phương là khác nhau (Hoàng Triều Hoa, 2015). Từ cách hiểu như trên, có thể nhận thấy, khái niệm nghèo tương đối phát triển theo thời gian, tùy thuộc vào mức sống của xã hội. Quan niệm của chính người nghèo ở nước ta về nghèo đói đơn giản và trực diện. Kết quả các cuộc tham vấn có sự tham gia của người dân, nói rằng: "Nghèo đói là gì ư? Là hôm nay con tôi ăn khoai, ngày mai không biết con tôi ăn gì? Bạn nhìn nhà ở của tôi thì biết, trong nhà nhìn thấy mặt trời, khi mưa thì trong nhà cũng như ngoài sân" (Mai Thị Thu Hương, 2007).

Ngày nay, vấn đề nghèo được xem xét theo nhiều góc độ khác nhau - khái niệm "nghèo đa chiều" ra đời. Diễn giải rõ hơn quan điểm "nghèo đa chiều", tháng 6 năm 2008, Liên Hợp Quốc tuyên bố: "Nghèo là thiếu năng lực tối thiểu để tham gia hiệu quả vào các hoạt động xã hội. Nghèo có nghĩa là không có đủ ăn, đủ mặc, không được đi học, không được đi khám bệnh, không có đất đai để trồng trọt hoặc không có nghề nghiệp để nuôi sống bản thân, không được tiếp cận tín dụng. Nghèo cũng có nghĩa không an toàn, không có quyền và bị loại trừ của các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng.

Nghèo có nghĩa là dễ bị bạo hành, phải sống ngoài lề xã hội". * Khái niệm về đói nghèo ở Việt Nam Nghèo đói: Việt Nam cơ bản thống nhất với khái niệm nghèo đói của ESCAP tại Hội nghị về chống nghèo đói do Ủy ban kinh tế xã hội khu vực châu Á Thái Bình Dương (ESCAP) tổ chức tháng 9 năm 1993 tại Bangkok, Thái Lan. TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail.com 10 Do xuất phát điểm của nền kinh tế và năng suất lao động của Việt Nam thấp, khái niệm nghèo đói được tách thành hai khái niệm riêng - điểm khác biệt so với nhiều nước. Bên cạnh khái niệm nghèo, Việt Nam còn sử dụng khái niệm đói để phân biệt mức độ nghèo của một bộ phận dân cư.

* Đói: nấc thang thấp nhất của nghèo, là tình trạng một bộ phận dân cư nghèo có mức sống dưới mức tối thiểu và thu nhập không đủ đảm bảo nhu cầu về vật chất để duy trì cuộc sống. Đó là những hộ dân cư hàng năm thiếu ăn, đứt bữa từ một đến hai tháng, thường vay mượn của cộng đồng và thiếu khả năng chi trả. * Nghèo: là tình trạng một bộ phận dân cư có mức sống tối thiểu không thoả mãn những nhu cầu về ăn, mặc, ở, y tế, giáo dục, đi lai, giao tiếp… trong cuộc sống. Chương trình mục tiêu quốc gia xoá đói giảm nghèo giai đoạn 1998 - 2000 của Việt Nam đã đưa ra các khái niệm: * Hộ đói: Là hộ cơm không đủ ăn, áo không đủ mặc, ốm đau không có tiền chữa trị, con cái thất học, thường vay mượn cộng đồng và thiếu khả năng chi trả.

Giá trị đồ dùng trong nhà không đáng kể, nhà ở rách nát. Bình quân thu nhập đầu người quy đổi ra gạo dưới 13kg gạo/tháng (tương đương 45. * Hộ nghèo: Là hộ thiếu ăn nhưng không đứt bữa, mặc không đủ lành, không đủ ấm, không có khả năng phát triển sản xuất, không thể vươn tới các nhu cầu về văn hóa - tinh thần hoặc những nhu cầu này phải cắt giảm tới mức tối thiểu gần nhất, gần như không có. Bình quân thu nhập đầu người quy đổi ra gạo dưới 25kg gạo/tháng (tương đương 90.000VND) ở thành thị, dưới 20kg gạo/tháng (tương đương 70.000VND) ở nông thôn đồng bằng và trung du và dưới 15kg gạo/tháng (tương đương 55.000VND) ở nông thôn và miền núi hải đảo.

Tiêu chí đánh giá đói nghèo Chuẩn nghèo, là thước đo để phân biệt ai nghèo và ai không nghèo. Từ đó, có chính sách, biện pháp trợ giúp phù hợp và đúng đối tượng (Báo cáo Chính phủ về chuẩn nghèo giai đoạn 2006 - 2010 của Bộ Lao động - Thương binh và xã hội). TIEU LUAN MOI download : skknchat@gmail. Tiêu chí xác định chuẩn nghèo của thế giới a.

Quan điểm của Ngân hàng Thế giới (WB) * Chỉ tiêu thu nhập bình quân theo đầu người + Phương pháp Atlas (phương pháp tính theo tỷ giá hối đoái và tính theo USD): Ngân hàng Thế giới chia ra làm 6 loại quốc gia (theo mức thu nhập năm 1990): trên 25.000 USD/người/năm (cực giàu); từ 20.000 USD/người/năm (giàu); từ 10.000 USD/người/năm (khá giàu); từ 2.000 USD/người/năm (trung bình); từ 500 - dưới 2.500 USD/người/năm (nghèo); dưới 500 USD/người/năm (cực nghèo). + Phương pháp PPP (tính theo sức mua tương đương và tính theo USD): WB đã đưa ra chuẩn mực nghèo khổ chung của toàn cầu là thu nhập bình quân đầu người dưới 370USD/người/năm. WB xác định ngưỡng nghèo chung (theo phương pháp PPP) là đối với các nước thu nhập thấp, dưới 1 USD/người/ngày; đối với các nước thu nhập trung bình thấp, dưới 2 USD/người/ngày. * Chỉ tiêu nhu cầu dinh dưỡng: Tổ chức Y tế thế giới (WHO) đưa ra lượng dinh dưỡng 2.100 kcalo/người/ngày - nhu cầu cơ bản và tối thiểu của con người.

+ Ngưỡng nghèo lương thực, thực phẩm: WB tính toán chi phí đáp ứng nhu cầu dinh dưỡng đủ 2100 kcalo/người/ngày là 1.833đồng/người/năm. + Ngưỡng nghèo chung: Gồm chi tiêu cho sản phẩm lương thực, thực phẩm và phi lương thực, thực phẩm (ở, mặc, y tế, giáo dục, văn hóa, đi lại, giao tiếp).

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ