Phân Tích Một Số Yếu Tố Nguy Cơ Gây Bệnh PRRS Ở Đàn Lợn Tại Tỉnh Hưng Yên Trong Hai Năm 2015-2016

Luận văn thạc sĩ nghiên cứu vnua phân tích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp, đánh giá hiện trạng, phân tích vấn đề, đề xuất

Chuyên ngành

Thú y

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn

2017

67
0
0

Phí lưu trữ

30 Point

Mục lục chi tiết

LỜI CAM ĐOAN

LỜI CẢM ƠN

MỤC LỤC

DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT

DANH MỤC BẢNG

DANH MỤC HÌNH

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

MỞ ĐẦU. MỞ ĐẦU

2. TỔNG QUAN TÀI LIỆU

2.1. KHÁI QUÁT CHUNG

2.2. Hiểu biết căn bản về PRRS

2.3. Tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) trên thế giới

2.4. Tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) trong nước

3. CHƯƠNG 3: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1. Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

3.1.1. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.2. Đối tượng nghiên cứu

3.1.3. Thời gian nghiên cứu

3.1.4. Địa điểm nghiên cứu

3.1.5. Nội dung nghiên cứu

3.2. Phương pháp nghiên cứu

3.2.1. Lập phiếu điều tra và thu thập thông tin

3.2.2. Phương pháp bố trí lấy mẫu huyết thanh và bảo quản

3.2.3. Phương pháp ELISA

3.2.4. Phương pháp xử lý số liệu

4. KẾT QUẢ VÀ THẢO LUẬN

4.1. Tình hình chăn nuôi, vệ sinh, tiêm phòng và dịch bệnh lợn tai xanh tại tỉnh Hưng Yên

4.1.1. Điều kiện tự nhiên

4.1.2. Tình hình chăn nuôi

4.1.3. Vệ sinh trong chăn nuôi tại các hộ được điều tra

4.1.4. Tình hình tiêm phòng vacxin lợn tai xanh tại các hộ được điều tra

4.1.5. Xử lý khi có dịch lợn tai xanh

4.2. Nghiên cứu tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS lưu hành trong đàn lợn nuôi tỉnh Hưng Yên (2015-2016)

4.2.1. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS ở lợn chưa tiêm phòng vacxin lợn tai xanh

4.2.2. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS ở lợn đã được tiêm phòng vacxin Lợn tai xanh

4.3. Một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp tại Hưng Yên

4.3.1. Địa điểm chăn nuôi gần đường quốc lộ <500m

4.3.2. Địa điểm chăn nuôi gần địa điểm giết mổ (<500m)

4.3.3. Sử dụng thức ăn thu gom trong chăn nuôi

4.3.4. Sử dụng nước giếng trong chăn nuôi

4.3.5. Mua con giống nguồn gốc không rõ ràng

4.3.6. Không sử dụng thuốc sát trùng tiêu độc định kỳ

4.3.7. Xử lý chất thải, xả thẳng ra ngoài môi trường

TÀI LIỆU THAM KHẢO

Tóm tắt

I. Tổng quan về bệnh PRRS ở lợn tại Hưng Yên 2015 2016

Bệnh PRRS (Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn) là một trong những bệnh truyền nhiễm nghiêm trọng nhất ảnh hưởng đến ngành chăn nuôi lợn tại Việt Nam. Tại tỉnh Hưng Yên, trong giai đoạn 2015-2016, bệnh này đã gây ra nhiều thiệt hại cho người chăn nuôi. Việc hiểu rõ về tình hình bệnh PRRS và các yếu tố nguy cơ liên quan là rất cần thiết để có biện pháp phòng ngừa hiệu quả.

1.1. Khái quát về bệnh PRRS và tác động của nó

Bệnh PRRS do virus PRRS gây ra, ảnh hưởng đến sức khỏe của lợn, đặc biệt là lợn con và lợn nái. Bệnh gây ra các triệu chứng như sốt, ho, khó thở và có thể dẫn đến tỷ lệ chết cao. Theo nghiên cứu, tỷ lệ chết có thể lên đến 30% ở lợn nhiễm bệnh.

1.2. Tình hình bệnh PRRS tại Hưng Yên trong giai đoạn 2015 2016

Trong giai đoạn này, bệnh PRRS đã được ghi nhận tại nhiều hộ chăn nuôi lợn ở Hưng Yên. Mặc dù không có dịch lớn xảy ra, nhưng nguy cơ lây lan vẫn tiềm ẩn do điều kiện chăn nuôi không đảm bảo an toàn sinh học.

II. Các yếu tố nguy cơ gây bệnh PRRS ở lợn tại Hưng Yên

Việc xác định các yếu tố nguy cơ là rất quan trọng trong công tác phòng chống bệnh PRRS. Các yếu tố này có thể bao gồm điều kiện chăn nuôi, vệ sinh, và tiêm phòng. Nghiên cứu đã chỉ ra rằng nhiều hộ chăn nuôi vẫn chưa thực hiện đầy đủ các biện pháp phòng ngừa.

2.1. Điều kiện chăn nuôi và vệ sinh

Nhiều hộ chăn nuôi lợn tại Hưng Yên vẫn còn sử dụng các phương pháp chăn nuôi truyền thống, không đảm bảo vệ sinh. Việc không thực hiện vệ sinh chuồng trại định kỳ đã tạo điều kiện cho virus PRRS phát triển.

2.2. Tình hình tiêm phòng và quản lý dịch bệnh

Tỷ lệ tiêm phòng vắc-xin PRRS ở lợn tại Hưng Yên còn thấp, chỉ đạt khoảng 70%. Điều này làm tăng nguy cơ lây lan bệnh trong đàn lợn, đặc biệt là ở những hộ chăn nuôi nhỏ lẻ.

III. Phương pháp nghiên cứu yếu tố nguy cơ bệnh PRRS

Nghiên cứu được thực hiện thông qua việc thu thập dữ liệu từ các hộ chăn nuôi lợn tại Hưng Yên. Phương pháp phân tích được áp dụng để xác định mối liên hệ giữa các yếu tố nguy cơ và sự xuất hiện của bệnh PRRS.

3.1. Thiết kế nghiên cứu và thu thập dữ liệu

Nghiên cứu sử dụng phương pháp điều tra khảo sát với 424 phiếu điều tra từ các hộ chăn nuôi. Dữ liệu được thu thập về tình hình chăn nuôi, vệ sinh, và tiêm phòng.

3.2. Phân tích số liệu và kết quả

Số liệu được xử lý bằng phương pháp thống kê để xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với virus PRRS và các yếu tố nguy cơ liên quan. Kết quả cho thấy tỷ lệ huyết thanh dương tính ở lợn đã tiêm phòng là 87%.

IV. Kết quả nghiên cứu và ứng dụng thực tiễn

Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra rằng các yếu tố như địa điểm chăn nuôi gần đường quốc lộ và việc sử dụng thức ăn không rõ nguồn gốc là những yếu tố nguy cơ chính làm gia tăng tỷ lệ mắc bệnh PRRS. Những phát hiện này có thể được áp dụng để cải thiện công tác phòng chống dịch bệnh.

4.1. Tỷ lệ huyết thanh dương tính với virus PRRS

Tỷ lệ huyết thanh dương tính với virus PRRS ở lợn chưa tiêm phòng là 3% và 28% trong hai năm 2015-2016. Điều này cho thấy sự cần thiết phải tăng cường tiêm phòng cho đàn lợn.

4.2. Đề xuất biện pháp phòng ngừa

Cần thực hiện các biện pháp phòng ngừa như tăng cường vệ sinh chuồng trại, tiêm phòng định kỳ và quản lý nguồn thức ăn để giảm thiểu nguy cơ lây lan bệnh PRRS.

V. Kết luận và triển vọng tương lai về bệnh PRRS

Bệnh PRRS vẫn là một thách thức lớn đối với ngành chăn nuôi lợn tại Hưng Yên. Việc nâng cao nhận thức và thực hiện các biện pháp phòng ngừa là rất cần thiết để bảo vệ sức khỏe đàn lợn và đảm bảo an toàn thực phẩm.

5.1. Tầm quan trọng của việc phòng chống bệnh PRRS

Phòng chống bệnh PRRS không chỉ bảo vệ sức khỏe đàn lợn mà còn đảm bảo an toàn thực phẩm cho người tiêu dùng. Cần có sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng và người chăn nuôi.

5.2. Hướng nghiên cứu trong tương lai

Cần tiếp tục nghiên cứu để xác định thêm các yếu tố nguy cơ và phát triển các biện pháp phòng ngừa hiệu quả hơn nhằm giảm thiểu tác động của bệnh PRRS đến ngành chăn nuôi.

18/07/2025
Luận văn thạc sĩ vnua phân tích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp prrs ở đàn lợn nuôi tại tỉnh hưng yên trong hai năm 2015 2016

Trích đoạn nội dung tài liệu

MỞ ĐẦU Chăn nuôi ngày càng có vị trí hết sức quan trọng trong cơ cấu của ngành nông nghiệp. Sản phẩm của ngành chăn nuôi trong đó có chăn nuôi lợn là nguồn thực phẩm không thể thiếu được đối với nhu cầu đời sống con người. Chủ trương hiện nay của nhà nước là phát triển ngành chăn nuôi thành ngành sản xuất hàng hóa thực sự nhằm tạo ra sản phẩm chăn nuôi có chất lượng cao phục vụ cho nhu cầu tiêu thụ trong nước và một phần cho xuất khẩu. Từ đó góp phần giải quyết công ăn việc làm, tăng thu nhập và là cơ hội làm giàu cho nông dân.

Theo thống kê của tổ chức nông lương thế giới (FAO), Việt Nam là nước nuôi nhiều lợn, đứng hàng thứ 7 thế giới, hàng thứ 2 Châu Á và ở vị trí hàng đầu khu vực Đông Nam Á. Theo kết quả điều tra của Tổng cục Thống kê tại thời điểm 8/1/2016, tổng đàn lợn trên cả nước có 27,75 triệu con, tăng 3,69% so với cùng kỳ 2014. Sản lượng thịt lợn hơi xuất chuồng năm 2015 ước tính đạt 3,48 triệu tấn, bằng 104,2 % so với cùng kỳ năm trước. Đi đôi với việc phát triển chăn nuôi là vấn đề dịch bệnh trong đó phải kể đến hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp PRRS gây ra những thiệt hại không nhỏ cho người chăn nuôi.

Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS, Porcine reproductive and respiratory syndrome) hay còn gọi là bệnh Tai xanh – là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm, lây lan nhanh và làm chết nhiều lợn nhiễm bệnh(tỷ lệ chết 20 – 30%). Nguyên nhân gây bệnh do virus PRRS gây ra, đây là một loại virus thuộc họ Arteriviridae, bộ Nidovirales gây ra. Bệnh xuất hiện ở mọi lứa tuổi của lợn với tốc độ lây lan nhanh với các biểu hiện đặc trưng viêm đường hô hấp rất nặng như: sốt, ho, khó thở. Ở lợn nái sinh sản là các rối loạn như: sảy thai, thai chết lưu, lợn sơ sinh chết non.

Do virus PRRS là loại virus có vỏ bọc bên ngoài, có cấu trúc hệ gen là ARN sợi đơn dương, có tính thích ứng nhân lên rất cao với đại thực bào, đặc biệt là đại thực bào hoạt động ở phổi. Virus phát triển, tăng nhanh về số lượng trong đại thực bào, phá huỷ tế bào đại thực bào, làm suy giảm nghiêm trọng sức đề kháng của lợn bệnh, tạo điều kiện thuận lợi cho các vi khuẩn thứ phát gây bệnh viêm phổi như bệnh Dịch tả lợn, Suyễn lợn, Liên cầu khuẩn, Tụ huyết trùng Pasteurella multocida). phát sinh, phát triển và làm cho bệnh ngày càng trầm trọng hơn, lợn bệnh chết chủ yếu do các vi khuẩn kế phát. 1 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Hưng Yên là một tỉnh nằm ở trung tâm đồng bằng Bắc Bộ, trong vùng kinh tế trọng điểm phía bắc, tiếp giáp với 6 tỉnh: Hà Nội, Hà Tây, Bắc Ninh, Hải Dương, Hà Nam, Thái Bình.

Tỉnh Hưng Yên cũng là tỉnh có ngành chăn nuôi phát triển mạnh, đặc biệt là chăn nuôi lợn. Tuy nhiên vẫn còn rất nhiều hộ gia đình chăn nuôi nhỏ lẻ, manh mún, mang tính chất tự cung tự cấp, chăn nuôi không đảm bảo an toàn sinh học dẫn đến những khó khăn trong công tác kiểm soát dịch bệnh. Dịch lợn Tai xanh đã xuất hiện và được ghi nhận, và báo cáo lần đầu tiên tại Hưng Yên là năm 2010, dịch xảy ra ở 19 xã, thị trấn, gây thiệt hại lớn về kinh tế và tiêu huỷ 12. Từ đó đến nay, mặc dù dịch lớn không xảy nhưng nguy cơ dịch vẫn tiềm ẩn và có thể tái phát bất cứ lúc nào nếu gặp điều kiện thuận lợi.

Do đó, việc đánh giá thực trạng chăn nuôi, sự phơi nhiễm virus PRRS ở đàn lợn nuôi và xác định yếu tố nguy cơ chính làm lây lan và phát sinh dịch Lợn tai xanh có ý nghĩa quan trọng trong công tác phòng chống dịch tại địa phương. Xuất phát từ nhu cầu thực tiễn trên, tôi tiến hành thực hiện đề tài: "Phân tích một số yếu tố nguy cơ làm phát sinh và lây lan hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp (PRRS) ở đàn lợn nuôi tại tỉnh Hưng Yên trong hai năm 2015-2016”. Mục tiêu của đề tài - Đánh giá thực trạng chăn nuôi, vệ sinh và tiêm phòng PRRS tại một số hộ chăn nuôi lợn nhỏ lẻ thuộc tỉnh Hưng Yên (2015- 2016). - Xác định tỷ lệ huyết thanh dương tính với kháng thể virus PRRS lưu hành trong đàn lợn nuôi tỉnh Hưng Yên (2015-2016).

- Xác định một số yếu tố nguy cơ chính làm phát sinh và lây lan dịch PRRS. 2 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail. TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2. KHÁI QUÁT CHUNG 2.

Hiểu biết căn bản về PRRS Hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp với tên tiếng Anh Porcine Respiratory and Reproductive syndrome (PRRS) hay còn gọi là bệnh Lợn tai xanh là một bệnh truyền nhiễm nguy hiểm đối với lợn, do một loại virus gây ra. Bệnh gây viêm đường hô hấp rất nặng ở lợn con và gây rối loạn sinh sản ở lợn cái bao gồm xảy thai, thai chết lưu, và đẻ ra lợn con ốm yếu (Hill, 1990); (Zuckermann et al. Tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) trên thế giới Bệnh Tai xanh lần đầu tiên được tìm thấy ở Mỹ vào năm 1987 (Keffaber, 1989) và chỉ vài năm sau bệnh đã lan ra toàn Bắc Mỹ. Ở châu Âu, Münster Đức lần đầu tiên có dịch vào tháng 11 năm 1990.

Dịch nhanh chóng lan ra và hơn 3000 ổ dịch được phát hiện cho đến thời điểm tháng 5 năm 1991. Người ta không tìm thấy mối liên hệ nào giữa các ổ dịch xảy ra ở Đức và Mỹ (Anonymous, 1991). Tiếp theo sau đó là các nước Hà Lan, Tây Ban Nha có dịch vào tháng 1 năm 1991 và Bỉ tháng 3 (OIE, 2007a). Anh có dịch bắt đầu từ tháng 3 năm 1991 đến tháng 10 năm đó có 58 ổ dịch được phát hiện (Edwards et al.

Ở Pháp những ổ dịch lần đầu tiên xuất hiện tại Brittany vào tháng 11 năm 1991 (Baron et al. Đến năm 1992 bệnh đã có mặt ở Đan Mạch (Bøtner et al., 1994), Ba Lan (Rowland, 2010) và đến năm 1995 bệnh xảy ra ở Cộng hòa Czech (Wissink et al. Trong khi lan khắp châu Âu thì triệu chứng bệnh khó nhận thấy ở những đàn lợn giống nhưng lại tác động lớn đến sự hô hấp của đàn lợn thịt. Và đến cuối năm 1991, virus Tai xanh đầu tiên phân lập ở Lelystad, Hà Lan.

Thời gian ngắn ngay sau đó, virus được phân lập tại Missouri, Mỹ. Tại châu Á, bệnh xuất hiện ở Nhật Bản năm 1988 (Hirose et al., 1995) và ở Đài Loan năm 1991 (Chang et al. Từ năm 2006, bệnh Tai xanh tác động nghiêm trọng đến chăn nuôi lợn ở các nước Trung Quốc, Việt Nam, Thái Lan, và Philippin với chủng virus độc lực cao. Đến 2010 bệnh lan sang Lào và Campuchia.

Ở Trung Quốc, virus lần đầu tiên được tìm thấy năm 1996, kể từ đó virus lây lan rộng ra khắp Trung Quốc (FAO, 2008). Philippines bệnh xảy ra chủ yếu ở những vùng có mật độ nuôi lợn cao và số lượng lợn bị dịch tăng lên hàng năm, đỉnh điểm là năm 2009. Thái Lan 3 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com lần đầu tiên thông báo có dịch là năm 2008, tuy nhiên số lượng dịch xảy ra 2008 và 2009 là thấp(2008 có 25 vụ, 2009 là 33). Nhưng đến 2010 thì dịch xảy ra nhiều như trong tháng 10 xảy ra 143 vụ (FAO, 2011).

Năm 2016: Campuchia 36 con mắc bệnh 13 con chết (OIE, 2016). Năm 2017: Ecuador 7 con mắc bệnh (OIE, 2017). Tình hình hội chứng rối loạn sinh sản và hô hấp ở lợn (PRRS) trong nước Ở Việt Nam, PRRS được phát hiện trên đàn lợn nhập từ Mỹ vào các tỉnh phía Nam năm 1997, kết quả kiểm tra huyết thanh học cho thấy 10/51 lợn giống nhập khẩu đó có huyết thanh dương tính với PRRS. Theo báo cáo của Cục thú y (2007), trong nhiều năm qua có một tỷ lệ nhất định lợn giống có huyết thanh dương tính với PRRS.

Có thể thấy virus PRRS đã xuất hiện và lưu hành tại nước ta từ 1997. Tuy nhiên, sự bùng phát thành dịch và gây tổn thất lớn đang báo động cho ngành chăn nuôi lợn thực sự mới bắt đầu từ tháng 3/2007, do không quản lý được việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm. Điều tra ở Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận cho thấy 25% mẫu huyết thanh lợn có kháng thể kháng PRRS (596/2308 mẫu) và 5/15 trại (chiếm 33%) nhiễm PRRS (Nguyễn Lương Hiền và cs. Tỷ lệ nhiễm ở một số trại chăn nuôi công nghiệp tại Thành phố Hồ Chí Minh là 5,97% (Trần Thị Bích Liên và Trần Thị Dần, 2003).

Năm 2003, tỷ lệ nhiễm PRRS trên lợn nuôi tập trung ở Cần Thơ là 66,86%. Đến nay, dịch Tai xanh đã xuất hiện thành từng đợt tại 3 miền Bắc, Trung và Nam gây thiệt hại đáng kể cho chăn nuôi lợn, đặc biệt là ảnh hưởng đến phát triển đàn giống. Trong các ổ dịch, ngoài virus PRRS đã được xác định là nguyên nhân chính, hàng loạt các loại mầm bệnh khác như: Dịch tả lợn, PCV2, Tụ huyết trùng, Phó thương hàn, Liên cầu khuẩn, Suyễn lợn… cũng có mặt và đây chính là nguyên nhân dẫn đến chết nhiều lợn mắc bệnh. Năm 2007: Đợt dịch thứ nhất, xuất hiện lần đầu tiên trên đàn lợn tại Hải Dương vào ngày 12/3/2007.

Sau đó do việc buôn bán, vận chuyển lợn ốm không được kiểm soát triệt để nên dịch đã lây lan nhanh và phát triển mạnh tại một số tỉnh: Hải Dương, Hưng Yên, Quảng Ninh, Thái Bình, Bắc Ninh, Bắc Giang, Hải Phòng và Lào Cai làm 31.750 con lợn bị mắc bệnh. Trong đợt dịch này, bệnh xảy ra ở tất cả các lứa tuổi của lợn. Tỷ lệ chết lên tới 20%. 4 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Đợt dịch thứ hai: Vào cuối tháng 6/2007, dịch lại tái bùng phát ở một số tỉnh miền Trung, nặng nhất là tỉnh Quảng Nam, dịch xảy ra ở 51 xã.

Tổng số lợn mắc bệnh là 33.839 con, gây thiệt hại nhiều tỷ đồng. Dịch tiếp tục xảy ra nhỏ lẻ trong suốt các tháng cuối năm 2007. Trong gần một tháng, dịch lây lan ra 660 phường xã thuộc 50 huyện, thị xã của 10 tỉnh trên cả nước. Tổng số lợn mắc bệnh lên đến 230.

Năm 2008: Năm 2008 xảy ra 2 đợt dịch PRRS tại 956 xã, phường thuộc 103 huyện của 26 tỉnh, thành phố. Tổng số lợn mắc bệnh là 309.586 con, trong đó số lợn chết và buộc phải tiêu hủy là 300. Đợt dịch thứ nhất: Cuối tháng 3/2008, dịch PRRS xuất hiện tại các tỉnh miền Trung: Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Tĩnh.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Tài liệu có tiêu đề "Phân Tích Yếu Tố Nguy Cơ Gây Bệnh PRRS Ở Lợn Tại Hưng Yên (2015-2016)" cung cấp cái nhìn sâu sắc về các yếu tố nguy cơ liên quan đến bệnh PRRS (Bệnh hội chứng suy giảm miễn dịch ở lợn) tại tỉnh Hưng Yên trong giai đoạn 2015-2016. Nghiên cứu này không chỉ giúp người đọc hiểu rõ hơn về nguyên nhân và cách thức lây lan của bệnh, mà còn đưa ra các biện pháp phòng ngừa hiệu quả nhằm bảo vệ đàn lợn. Những thông tin này rất hữu ích cho các nhà chăn nuôi, nhà nghiên cứu và các chuyên gia trong lĩnh vực thú y, giúp họ có thể đưa ra quyết định đúng đắn trong việc quản lý sức khỏe đàn lợn.

Để mở rộng thêm kiến thức về các bệnh truyền nhiễm trong chăn nuôi, bạn có thể tham khảo tài liệu Luận văn nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh cúm gia cầm và sự đáp ứng miễn dịch của gà vịt đối với vaccine h5n1 tại tỉnh thái nguyên. Tài liệu này sẽ cung cấp thêm thông tin về dịch tễ học và các biện pháp tiêm phòng, từ đó giúp bạn có cái nhìn tổng quát hơn về các bệnh truyền nhiễm trong ngành chăn nuôi.