CHƯƠNG 1. ĐẶT VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 GIỚI THIỆU CHUNG Trong quá trình thực hiện dự án, mỗi giai đoạn thực hiện dự án là một mắc xích hết sức quan trọng để hình thành một dự án. Để hoàn thành những mắc xích đó không tránh khỏi những xung đột giữa Chủ đầu tư và các nhà thầu thầu liên quan. Có rất nhiều sự xung đột xảy ra giữa các bên làm ảnh hưởng tới tiến độ, tài chính, nhân lực của dự án.
Gây thiệt hại to lớn cho chủ đầu tư cũng như các nhà thầu liên quan. Tùy thuộc vào mức độ đầu tư của dự án mà giai đoạn thi công có thể kéo dài vài tháng đến vài năm. Đồng thời, giai đoạn này sử dụng rất nhiều tài nguyên, vật liệu, máy móc thiết bị và nguồn nhân lực. Vì vậy việc hạn chế những rủi ro xung đột trong giai đoạn thi công sẽ giúp ích rất nhiều vào sự thành công của dự án.
Vấn đề xung đột là một trong những rủi ro thường gặp tại mỗi dự án. Cho nên việc tìm ra những nguyên nhân chủ yếu, thường gây ra xung đột để giải quyết và rút kinh nghiệm là rất quan trọng trong công tác quản lý cũng như vận hành công việc. 1 Chi phí xử lý xung đột, tranh chấp trong ngành xây dựng của Việt Nam từ năm 1993 đến năm 2018 Đã có nhiều công trình nghiên cứu trên thế giới về xung đột trong xây dựng cũng như việc xác định các nhân tố gây xung đột, giải quyết các xung đột tại Việt Nam vấn đề xung đột giữa nhà thầu xây dựng và các nhà thầu MEP vẫn chưa được quan tâm nhiều, mặc dù vấn đề xung đột này diễn ra thường xuyên tại các HVTH: TRỊNH MINH HOÀI – MSHV: 1670135 1 GVHD: PGS.TS PHẠM HỒNG LUÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ công trường. Vì vậy, đề tài nghiên cứu này mong muốn đóng góp một phần cơ sở nhằm tìm và phân tích các nhân tố gây xung đột.
Từ đó tìm ra hướng khắc phục, giải quyết vấn đề xung đột các mâu thuẫn trong quá trình thi công xây dựng tại công trường. Đồng thời để nâng cao năng suất, chất lượng quản lý và thi công tại công trình.2 XÁC ĐỊNH VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU. Trong giai đoạn thi công, công tác quản lý tiến độ của nhà thầu đòi hỏi phải được quản lý chặt chẽ để đảm bảo tiến độ dự án. Nếu một vấn đề xung đột nảy sinh sẽ ảnh hưởng kéo theo các công tác làm ảnh hưởng đến tiến độ chung của dự án.
Vì vậy câu hỏi đặt ra là những vấn đề nào sẽ nảy sinh ? Xác định được các nguyên nhân gây xung đột làm ảnh hưởng đến tiến độ dự án, cũng như những khó khăn, vướng mắc mà nhà thầu xây dựng và các nhà thầu MEP gặp phải, từ đó xác định được tổng tiến độ thi công trong giai đoạn đấu thầu, cũng như xây dựng được tiến độ, kế hoạch thi công cho từng tầng trên cơ sở các đặc điểm cụ thể cho từng tầng, từng công trình. Dựa vào các yếu tố xung đột ảnh hưởng tới tốc độ thi công thì có biện pháp xử lý các xung đột giữa nhà thầu xây dựng và các nhà thầu MEP như thế nào để các bên có sự phối hợp nhịp nhàng ? 1.3 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU. Trên cơ sở vấn đề nghiên cứu, đề tài này được tiến hành nhằm mục tiêu sau: - Thu thập và phân tích các dữ liệu xác định các yếu tố gây xung đột giữa nhà thầu xây dựng và các nhà thầu MEP. - Từ các yếu tố đã được xác định thiết lập mô hình System Dynamic.
- Vận hành mô hình mô phỏng có xét đến ảnh hưởng của các yếu tố. - Từ đó đề xuất các biện pháp, quản lý nhằm giảm thiểu hoặc loại bỏ xung đột trong quá trình thi công xây dựng giữa nhà thầu xây dựng và các nhà thầu MEP để góp phần nâng cao chất lượng công trình cũng như đáp ứng tiến độ dự án.4 ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU. - Đối tượng nghiên cứu: Là các yêu tố có khả năng gây ra xung đột giữa nhà thầu xây dựng và các nhà thầu MEP trong quá trình thi công. - Đối tượng thu thập dữ liệu: Được nhắm tới là các cá nhân đã và đang công tác tại các công ty xây dựng.
Các cá nhân đang giữ chức vụ như chỉ huy trưởng, chỉ huy phó, các cán bộ kỹ sư nhà thầu chính và các tổ trưởng, người đại diện các nhà thầu phụ trực tiếp giám sát thi công tại công trình. HVTH: TRỊNH MINH HOÀI – MSHV: 1670135 2 GVHD: PGS.TS PHẠM HỒNG LUÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ - Phạm vi không gian nghiên cứu: Luận văn thực hiện nghiên cứu với các dự án Nhà cao tầng, chung cư, trung tâm thương mại ở khu vực thành phố Hồ Chí Minh. - Thời gian thu thập dữ liệu: Các dự án được thực hiện từ năm 2010 đến năm 2017. - Quan điểm phân tích: Áp dụng cho các đơn vị thi công xây dựng và đơn vị thi công MEP trong việc giải quyết các xung đột theo khó khăn của từng loại dự án.5 ĐÓNG GÓP DỰ KIẾN CỦA NGHIÊN CỨU 1.1 Về mặt học thuật: Xác định được các yêu tố gây xung đột giữa nhà thầu xây dựng và các nhà thầu MEP trong quá trình thi công xây dựng công trình.
Thiết lập mối quan hệ bằng công cụ System Dynamic để mô phỏng và dự báo những xung đột có thể xảy ra của các dự án.2 Về mặt thực tiễn: Nghiên cứu giúp có một cái nhìn toàn diện, đầy đủ hơn về những yếu tố thường xuyên gây ra xung đột giữa nhà thầu xây dựng và các nhà thầu MEP trong quá trình thi công xây dựng công trình. Từ nghiên cứu ta có được những biện pháp kiểm soát, quản lý nhằm hạn chế hoặc loại bỏ những xung đột góp phần đảm bảo và nâng cao chất lượng, tiến độ, an toàn cho công trình xây dựng. HVTH: TRỊNH MINH HOÀI – MSHV: 1670135 3 GVHD: PGS.TS PHẠM HỒNG LUÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ CHƯƠNG 2: TỔNG QUAN 2.1 KHÁI NIỆM VỀ XUNG ĐỘT: Theo Wikipedia định nghĩa: Xung đột là thể hiện sự đối lập về những nhu cầu, giá trị và lợi ích. Xung đột có thể là nội tại ( trong bản thân ) cá nhân.
Khái niệm xung đột có thể giải thích nhiều mặt của xã hội như sự bất đồng xã hội, những xung đột về lợi ích, những cuộc đấu tranh giữa các cá nhân, nhóm và tổ chức. Theo Thi (2010); dẫn theo Kiên (2010) thì xung đột: Hành vi ứng xử của một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức nhằm ngăn cản hoặc hạn chế (ít nhất là tạm thời) một cá nhân, một nhóm hoặc một tổ chức khác đạt được những mục đích mong muốn. Các kiểu xung đột bao gồm: - Cá nhân: Giữa người này và người khác. - Nhóm: Giữa hai hoặc nhiều nhóm/tổ chức.
- Đến từ bên trong: Xung đột giữa người/nhóm người trong cùng một tổ chức. - Đến từ bên ngoài: Xung đột giữa một người (hoặc một nhóm người hoặc nhiều người) với một người (hoặc một nhóm người hoặc nhiều người) khác từ bên ngoài dự án. Xung đột là một từ Hán Việt, được giải nghĩa là “chống cự nhau, đánh lẫn nhau”. Trong tiếng Anh và nhiều ngôn ngữ Hy-La, xung đột (conflict) là một từ bắt nguồn từ chữ La Tinh (confligere), cũng có cách giải nghĩa tương tự.
Một định nghĩa phổ biến về xung đột đó là “xung đột được định nghĩa là quá trình tương tác được phát biểu bởi sự thiếu khả năng đáp ứng, bất đồng hoặc không đồng điệu trong nội bộ hoặc giữa các thực thể xã hội như các cá nhân, các nhóm, các tổ chức…”. HVTH: TRỊNH MINH HOÀI – MSHV: 1670135 4 GVHD: PGS.TS PHẠM HỒNG LUÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ Theo Tillett (1999) trích dẫn bởi Vũ (2009), xung đột là sự bất đồng một cách chủ động của những người với ý tưởng hoặc nguyên tắc đối lập với nhau. Ngoài ra, xung đột cũng có thể được xem như là sự khác biệt về lợi ích, mục tiêu hoặc mức độ ưu tiên giữa các cá thể, nhóm hay các tổ chức hoặc sự không đáp ứng yêu cầu của các công tác, công việc hay các quy trình, như định nghĩa bởi Gardiner và Simmons (1992). Gần đây Ng et al.
(2007) định nghĩa xung đột như là các yêu cầu/đòi hỏi không được đáp ứng hoặc đối nghịch nhau. Vẫn được trích dẫn bởi Vũ (2009), ngành xây dựng được xem như là ngành có bản chất chứa đựng xung đột (Barthorpe et al. (2000)), với chi phí dễ dàng bị gia tăng do việc xử lý xung đột (Ng et al. Đặc biệt đối với các dự án xây dựng quốc tế với sự tham gia của các bên với văn hóa khác biệt nhau, các mục tiêu khác nhau, việc xung đột gia tăng là có thể dự đoán được (Kumaraswamy (1998), Brew và Cairns (2004)).
Một khi xung đột xảy ra, nếu nó không được quản lý một cách phù hợp hoặc loại bỏ một cách nhanh chóng, nó có thể leo thang trở thành các tranh chấp thường dẫn tới những hậu quả nghiêm trọng như việc chậm trễ tiến độ, gia tăng mức độ căng thẳng và phá vỡ mối quan hệ hợp tác giữa các doanh nghiệp (Cheung và Suen (2002), Chan và Suen (2005)). Về xung đột trong ngành xây dựng, trong bài báo của mình năm 2011, Jaffar et al. đã dẫn hàng loạt định nghĩa của các nghiên cứu trước đó. Theo Brown et al.
trích dẫn bởi Jaffar et al. (2011), xung đột là sự nghi ngờ hay truy vấn, đối đầu hay các hành vi bất tương thích, tranh cãi hay tương tác đối kháng. Deutsch lại định nghĩa xung đột là các hành vi bất tương thích, xảy ra khi mà hành vi của một bên làm ảnh hưởng hoặc cản trở hành động của các bên còn lại. Theo Thomas, có 3 bối cảnh liên quan tới định nghĩa về xung đột.
Bối cảnh thứ nhất đó là việc xung đột có tồn tại hay không thực tế là một vấn đề thuộc về nhận thức. Cho dù có sự khác biệt trong nhìn nhận giữa các bên liên quan với một vấn đề nhưng nếu không có sự nhận thức về khác biệt đó thì cũng không xảy ra HVTH: TRỊNH MINH HOÀI – MSHV: 1670135 5 GVHD: PGS.TS PHẠM HỒNG LUÂN LUẬN VĂN THẠC SĨ xung đột. Bối cảnh thứ 2 là luôn có sự phụ thuộc giữa các bên liên quan (mỗi bên đều có khả năng làm ảnh hưởng tới các bên còn lại). Bối cảnh cuối cùng liên quan tới vấn đề về sự cản trở, đối đầu hay tình trạng khan hiếm.