CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỬ DỤNG VỐN ĐẦU TƯ XÂY DỰNG CÔNG TRÌNH 1. Lý luận chung về vốn và nguồn vốn đầu tư xây dựng công trình 1. Khái niệm về vốn và vai trò của vốn 1. Khái niệm về vốn Sự tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp được ví như một cơ thể sống.
Để doanh nghiệp tồn tại và phát triển cần thiết phải có vốn. Vốn là mạch máu nuôi sống doanh nghiệp trước sự vận động của thị trường, của cơ chế chính sách xã hội, của quy luật cung – cầu,. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp là quá trình tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng, việc tái sản xuất giản đơn và tái sản xuất mở rộng các tài sản cố định là điều kiện quyết định đến mọi chủ thể kinh tế. Để thực hiện được điều này các tác nhân trong nền kinh tế phải dự trữ, tích lũy các nguồn lực.
Khi các nguồn lực này được sử dụng vào quá trình sản xuất để tái sản xuất ra các tài sản cố định của nền kinh tế thì nó trở thành vốn đầu tư. Vậy vốn đầu tư chính là tiền tích lũy của xã hội; của các cơ sở sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Là vốn huy động của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo tiềm lực mới cho nền sản xuất xã hội. Vốn đầu tư để thực hiện một dự án đầu tư hay tổng mức đầu tư là toàn bộ chi phí dự tính được xác định trong quyết định đầu tư.
Tổng mức đầu tư là cơ sở để Chủ đầu tư lập kế hoạch và quản lý vốn khi thực hiện đầu tư xây dựng công trình [10]. Tổng mức đầu tư bao gồm: Chi phí xây dựng; chi phí thiết bị, chi phí bồi thường hỗ trợ và tái định cư; chi phí quản lý dự án; chi phí tư vấn đầu tư xây dựng; chi phí khác và chi phí dự phòng. Vai trò của vốn trong nền kinh tế quốc dân Ta có thể nói rằng vốn là một trong năm yếu tố quan trọng nhất trong mọi quá trình sản xuất đó là: nhân lực, vật lực, tài lực (vốn ), thông tin và sự quản lý. Nếu thiếu vốn thì quá trình sản xuất sẽ không thể được tiến hành.
Vốn cũng là một yếu tố vô cùng quan trọng đối với các nước đang phát triển nói chung và Việt Nam nói riêng để các nước này có thể tiến hành đổi mới nền kinh tế, đưa nền kinh tế tiến kịp với các nước phát triển. Việt Nam là một nước tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa muộn so với thế giới. Mặt khác, Việt Nam có xuất phát điểm thấp đó là những khó khăn cản trở sự phát triển kinh tế. Để khắc phục những khó khăn này thì vốn đóng vai trò rất quan trọng.
Nước ta cần phải có một lượng vốn lớn để xây dựng và nâng cấp cơ sở hạ tầng, đào tạo nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và đổi mới thiết bị công nghệ cho quá trình sản xuất. Nền kinh tế không thể phát triển được nếu thiếu một cơ sở hạ tầng thuận lợi, đồng bộ. Cơ sở hạ tầng của nước ta hiện nay tuy đã có những tiến bộ song vẫn đang ở mức thấp kém. Đó là một yếu tố làm giảm tính hấp dẫn của các nhà đầu tư nước ngoài.
Nguồn nhân lực nước ta có rất nhiều lợi thế song tay nghề lại thấp. Máy móc thiết bị sử dụng trong quá trình sản xuất phần lớn là lạc hậu so với các nước phát triển. Tất cả những điều đó đòi hỏi Nhà Nước phải có các giải pháp thích hợp để huy động được một lượng vốn đủ lớn để thực hiện việc “đi trước đón đầu”. Vai trò của vốn đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn đóng vai trò vô cùng quan trọng trong doanh nghiệp.
Theo quy định của Luật doanh nghiệp, mỗi doanh nghiệp muốn hoạt động cần phải đăng ký kinh doanh và phải có một lượng vốn nhất định. Tùy theo ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp mà số vốn pháp định được quy định khác 7 nhau đó là vốn đăng ký kinh doanh. Vốn đăng ký kinh doanh bao gồm: tiền mặt, tiền gửi ngân hàng, tài sản cố định (Máy móc, thiết bị, nhà xưởng,. Bên cạnh đó vốn là cơ sở để doanh nghiệp tái sản xuất, mở rộng sản xuất kể cả về chiều rộng và chiều sâu, đổi mới máy móc thiết bị, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng cao chất lượng sản phẩm, tăng việc làm, tăng thu nhập cho người lao động,.
cũng như tổ chức bộ máy quản lý đầy đủ các chức năng. Từ đó nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, tăng cường khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Trong cơ chế thị trường hiện nay ở nước ta vốn đang là vấn đề luôn được Nhà nước và doanh nghiệp bận tâm. Doanh nghiệp đang trong tình trạng thiếu vốn trầm trọng trong khi đó việc vay vốn của doanh nghiệp đang gặp rất nhiều khó khăn về thủ tục, và những ràng buộc pháp lý (Là doanh nghiệp Quốc doanh hay doanh nghiệp tư nhân).
Đặc biệt, các doanh nghiệp tư nhân việc huy động vốn và vay vốn gặp rất nhiều khó khăn trở ngại từ các thủ tục hành chính đến trách nhiệm về pháp lý dẫn đến việc đầu tư máy móc thiết bị, công nghệ sản xuất, mở rộng kinh doanh, phát triển năng lực của doanh nghiệp khó có khả năng thực hiện được. Không chỉ ở cấp vi mô, nhà nước ta đang rất thiếu các nguồn vốn cho đầu tư phát triển kinh tế. Tiến tới hội nhập kinh tế, xoá bỏ hàng rào thuế quan giữa các nước trong khu vực Đông Nam Á là một thách thức lớn đối với các doanh nghiệp trong nước trước sự vượt trội về vốn, công nghệ của các nước khác trong khu vực. Điều đó càng đòi hỏi các doanh nghiệp Việt Nam phải tìm cách huy động và sử dụng vốn sao cho tiết kiệm và có hiệu quả nhất.
Nguyên tắc cơ bản về quản lý vốn đầu tư cho hoạt động xây dựng Phải đảm bảo mục tiêu, hiệu quả của dự án đầu tư xây dựng công trình và phù hợp với cơ chế kinh tế thị trường. 8 Phù hợp với các giai đoạn đầu tư xây dựng công trình, các bước thiết kế, loại nguồn vốn và các quy định của Nhà nước. Tổng mức đầu tư, dự toán xây dựng công trình phải được dự tính theo đúng phương pháp, đủ các khoản mục chi phí theo quy định và phù hợp với độ dài thời gian xây dựng công trình. Tổng mức đầu tư là chi phí tối đa mà Chủ đầu tư được phép sử dụng để đầu tư xây dựng công trình.
Nhà nước thực hiện chức năng quản lý thông qua việc ban hành, hướng dẫn và kiểm tra việc thực hiện các quy định về quản lý chi phí. Chủ đầu tư xây dựng công trình chịu trách nhiệm toàn diện về việc quản lý chi phí từ giai đoạn chuẩn bị đầu tư đến khi kết thúc xây dựng đưa công trình vào khai thác, sử dụng. Những quy định tại Nghị định 112/2009/NĐ-CP về chi phí đầu tư xây dựng công trình đã được người quyết định đầu tư hoặc chủ đầu tư phê duyệt là cơ sở để các tổ chức có chức năng thực hiện công tác thanh tra, kiểm tra, kiểm toán chi phí đầu tư xây dựng công trình. Phân loại vốn trong doanh nghiệp 1.
Căn cứ theo nguồn hình thành vốn 1. Vốn chủ sở hữu Vốn chủ sở hữu là số vốn góp do chủ sở hữu, các nhà đầu tư đóng góp. Số vốn này không phải là một khoản nợ, doanh nghiệp không phải cam kết thanh toán, không phải trả lãi suất. Tuy nhiên, lợi nhuận thu được do kinh doanh có lãi của doanh nghiệp sẽ được chia cho các cổ đông theo tỷ lệ phần vốn góp của mình.
Tuỳ theo loại hình doanh nghiệp, vốn chủ sở hữu được hình thành theo các cách thức khác nhau. Thông thường nguồn vốn này bao gồm vốn góp và lãi chưa phân phối. Vốn vay 9 Vốn vay là khoản vốn đầu tư ngoài vốn pháp định được hình thành từ nguồn đi vay, đi chiếm dụng của các tổ chức, đơn vị cá nhân và sau một thời gian nhất định, doanh nghiệp phải hoàn trả cho nguời cho vay cả lãi và gốc. Phần vốn này doanh nghiệp được sử dụng với những điều kiện nhất định (như thời gian sử dụng, lãi suất, thế chấp,.) nhưng không thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp.
Vốn vay có hai loại là vốn vay ngắn hạn và vốn vay dài hạn. Căn cứ theo thời gian huy động vốn 1. Vốn dài hạn Vốn dài hạn là nguồn vốn có tính chất ổn định và dài hạn (trên 1 năm) mà doanh nghiệp có thể sử dụng để đầu tư vào tài sản cố định và một bộ phận tài sản lưu động tối thiểu thường xuyên cần thiết cho hoạt động doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm vốn chủ sở hữu và vốn vay dài hạn của doanh nghiệp.
Vốn ngắn hạn Vốn ngắn hạn là nguồn vốn có tính chất ngắn hạn (dưới 1 năm) mà doanh số có thể sử dụng để đáp sứng nhu cầu có tính chất tạm thời, bất thường phát sinh trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Nguồn vốn này bao gồm các khoản vay ngắn hạn và các khoản chiếm dụng của bạn hàng. Căn cứ theo công dụng kinh tế của vốn 1. Vốn cố định Vốn cố định của doanh nghiệp là một bộ phận đầu tư ứng trước về tài sản cố định và tài sản đầu tư cơ bản, mà đặc điểm luân chuyển từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng.
Quy mô của vốn cố định quyết định quy mô của tài sản cố định nhưng các đặc điểm của tài sản cố định lại ảnh hưởng đến sự vận động và công tác 10 quản lý cố định. Muốn quản lý vốn cố định một cách hiệu quả thì phải quản lý sử dụng tài sản cố định một cách hữu hiệu. Để quản lý chặt chẽ, hữu hiệu tài sản cố định, có thể phân loại tài sản cố định theo các tiêu thức sau: - Theo hình thái biểu hiện: Tài sản cố định hữu hình hay tài sản cố định vô hình. - Theo nguồn hình thành: Tài sản cố định đầu tư bằng vốn tự có hay tài sản cố định đầu tư từ vốn đi vay hoặc tài sản cố định đi thuê.
- Theo tình hình sử dụng: Tài sản cố định đang dùng, chưa dùng, không cần dùng hay tài sản cố định chờ thanh lý.