Chương 1 TONG QUAN 1. Tổng quan về các nghiên cứu có liên quan Cao Văn Phường (2012) nghiên cứu triển khai dự án xây dựng NTM tại xã Trí Phải và Trí Lực, huyện Thới Bình, tỉnh Cà Mau. Đề tài kết hợp các nhóm phương pháp: tổng hợp, phân tích, thống kê số liệu (sẵn có) với nhóm phương pháp xã hội học (bảng câu hỏi, phỏng vấn, nhật ký thực địa) để cho ra sản phẩm làm cơ sở khoa học và thực tiễn xác định giải pháp xây dựng NTM ở 02 xã Trí Lực và Trí Phải đến năm 2020, qua đó làm cơ sở dé nhân rộng mô hình. Dương Thị Bích Diệp (2014), sử dụng phương pháp thống kê mô tả và so sánh để đánh giá thực trạng thực trạng xây dựng Chương trình Nông thôn mới ở Việt Nam thông qua kết quả rà soát tại 11 xã điểm do Trung ương chỉ đạo tìm ra nguyên nhân dẫn tới hạn chế, bat cập; từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương xây dựng nông thôn mới trên cả nước.
Kết quả đã đề ra 8 giải pháp nhằm tiếp tục thực hiện và phát huy được hiệu quả của Chương trình Xây dựng nông thôn mới, khắc phục được hạn chế từ các nguyên nhân đã được phân tích. Hoàng Sỹ Kim (2013) nghiên cứu về thực trạng xây dựng NTM và những vấn đề đặt ra đối với quản lý nhà nước. Đề tài đã đi sâu vào nghiên cứu, phân tích và làm rõ thực trạng của quá trình xây dựng NTM ở Việt Nam từ năm 2009 đến năm 2013, tìm ra được những van dé cần phải giải quyết đối với quan lý nhà nước về NTM, đồng thời đưa ra các nhóm giải pháp cụ thê nhằm giải quyết các vấn đề đặt ra. Ngọc Hải (2018) phân tích về việc phát huy vai trò chủ thể của người nông dan trong xây dựng NTM ở nước ta.
Tác giả đã phân tích, rút ra bài học kinh nghiệm dé thực hiện thành công Chương trình MTQG xây dựng NTM, do là: Sự tin tưởng, hưởng ứng, đóng góp tích cực về mọi mặt của người dân nông thôn; sự cần thiết phải phát huy vai trò chủ thé của người nông dan trong quá trình xây dựng NTM. Đồng thời, nêu ra những hạn chế, thách thức cần tiếp tục tháo gỡ đối với người nông dân khi thực hiện vai trò chủ thé trong NTM. Huỳnh Thanh Hiếu (2011) nghiên cứu về việc phát huy vai trò của nông dân trong thực hiện chính sách Tam nông ở tỉnh Hậu Giang. Nghiên cứu đã xác định vai trò, vi tri của nông dân trong mối liên hệ tồn tại và phát triển của ba chủ thé - vấn đề: Nông nghiệp, nông dân và nông thôn (tam nông); chỉ ra và phân tích thực trạng về vai trò của giai cấp nông dan trong chính sách tam nông ở tỉnh Hậu Giang, đồng thời xây dựng những giải pháp phát huy vai trò của nông dân trong việc thực hiện chính sách tam nông ở tinh Hau Giang.
Hà Quang Trung, Nguyễn Thanh Hiếu, và Ngô Tắt Thắng (2020) nghiên cứu về sự hài lòng của người dân tỉnh Lào Cai về kết quả xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh. Nhóm tác giả đã chỉ ra được những mặt được, mặt chưa được dưới góc độ đánh giá của người dân - chủ thé của chương trình cũng là đối tượng thụ hưởng của chương trình. Cùng với việc phân tích các tài liệu thứ cấp, trong bài viết đã sử dung thang do Likert khảo sát 60 hộ dân dé đánh giá sự hài lòng về chương trình xây dựng NTM. Kết quả nghiên cứu đã chỉ ra một số khía cạnh hoạt động trong xây dựng NTM cần quan tâm như: sự vào cuộc của các doanh nghiệp chưa cao; hệ thống tín dụng phục vụ nông nghiệp nông thôn vẫn còn bất cập.
Những gợi ý giải phải của bài viết có thể sử dụng tham khảo cho xây dựng NTM giai đoạn tiếp theo. Phạm Huỳnh Minh Hùng (2017) nghiên cứu về việc phát huy vai trò chủ thể của nông dân trong xây dựng NTM ở tỉnh Bến Tre. Tác giả đã phân tích, đánh giá thực trạng vai trò chủ thể người dân trong xây dựng NTM và đề xuất các giải pháp dé tiếp tục phát huy vài trò chủ thé người dân trong xây dựng NTM tỉnh Bến Tre trong thời gian tới. Kết quả nghiên cứu việc phát huy vai trò chủ thể người dân trong xây dựng NTM trên địa bàn tỉnh Bến Tre đạt được nhiều thành tựu quan trọng, nhưng đông thời cũng đặt ra nhiêu vân đê và yêu câu mới đòi hỏi người nông dân phải tự điều chỉnh và vượt qua đó là sự cần thiết phải thay đổi về nhận thức, hành vi trong sinh hoạt và sản xuất, trình độ dan tri phải được nâng lên, ý thức pháp luật phải được coi trọng.
Đỗ Kim Chung và Kim Thị Dung (2018) đánh giá kết quả thực hiện Chương trình MTQG xây dựng NTM. Trên cơ sở đánh giá thực trạng triển khai chương trình NTM, bài viết này chỉ ra những bất cập và đề xuất một số giải pháp về chính sách nhằm hoàn thiện chương tình NTM ở nước ta. Sự chưa phù hợp trong bộ tiêu chí đánh giá, cách tiếp cận, sự thiên lệch trong lựa chọn các xã điểm, chất lượng quy hoạch NTM thấp, chưa phát huy thật tốt sự tham gia của dân, chưa chú trọng đầu tư vào phát triển kinh tế, nhân lực va thé chế, thiếu sự kết hợp giữa các cấp và các ngành, trình độ và năng lực quản lí của cán bộ cơ sở còn hạn chế là những nguyên nhân cơ bản làm cho hiệu quả các chương trình phát triển nông thôn thấp. Thực hiện cách tiếp cận có sự tham gia, lay dan lam trung tam cho su phat triển, bổ sung và hoàn thiện bộ tiêu chí đánh giá, ban hành các chính sách hướng dẫn, triển khai xây dựng NTM phù hợp với từng vùng miền, tập trung nhiều hơn vào mục tiêu kinh tế, coi trọng van đề xã hội, thực hiện phối kết hợp giữa các cấp và các ngành, lồng ghép hữu cơ các chương trình dự án, phát triển nguồn nhân lực địa phương là những giải pháp quan trọng góp phan triển khai thăng lợi chương trình và đảm bảo cho nông thôn phát triển bền vững.
Nguyễn Văn Hùng (2015), luận án tiến sĩ “xây dựng nông thôn mới trong phát triển kinh tế - xã hội ở tỉnh Bắc Ninh”. Trên cơ sở xác định những tiềm năng, cùng với những thuận lợi, khó khăn ảnh hướng đến quá trình xây dựng NTM tỉnh Bắc Ninh, tác giả đánh giá thực trạng xây dựng NTM ở địa phương theo 11 nội dung thành phần Chương trình (tương ứng 19 tiêu chí NTM), xác định kết quả đạt được, những tồn tại hạn chế và nguyên nhân tồn tại, hạn chế trong xây dựng NTM; đề xuất giải pháp xây dựng NTM trong phát triển kinh tế - xã hội tỉnh Bắc Ninh trong thời gian tới. Các nghiên cứu nói trên đã đề cập về thực trạng, kết quả, và giải pháp về xây dựng NTM. Tuy nhiên, đến nay vẫn chưa có công trình nào tập trung làm rõ những vấn đề lý luận, thực tiễn, thực trạng kết quả xây dựng NTM theo Bộ tiêu chí quốc gia giai đoạn 2022-2025 trên địa bàn tỉnh Tiền Giang tại các xã đã được công nhận đạt chuân NTM.
Do vậy, tôi nhận thấy rằng, cần phải nghiên cứu về vấn đề này; với mong muốn luận văn thạc sĩ ngành quản lý kinh tế mà tôi chọn nghiên cứu sẽ góp phần giúp các xã trên địa bàn tỉnh Tiền Giang hoàn thiện. nâng cao chất lượng các tiêu chí xây dựng NTM, tiến tới xây dựng xã NTM nâng cao. Tổng quan về địa bàn nghiên cứu 1. Vị trí địa lý, ranh giới hành chính Tiền Giang là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), đồng thời nằm trong Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam.
a) Ranh giới hành chính tỉnh Tiền Giang được xác định như sau: Phía Bắc giáp tỉnh Long An; Phía Đông Bắc giáp thành phố Hồ Chí Minh; Phía Đông Nam giáp Biên Đông; Phía Tây Bắc giáp tinh Đồng Tháp; Phía Tay Nam giáp tỉnh Vĩnh Long; Phía Nam giáp tỉnh Bến Tre. b) Tọa độ tỉnh Tiền Giang: 105°49'07" đến 106°48'06" kinh độ Đông 10°12'20" đến 10°35'26" vĩ độ Bắc. Diện tích tự nhiên của tỉnh là 2.556,4 km? (chiếm khoảng 6,25% diện tích tự nhiên ĐBSCL), dan số năm 2021 là 1.416 người, sinh sống trên dia ban 8 huyện (Cái Bè, Cai Lậy, Tân Phước, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông, Tân Phú Đông), 02 thị xã (Gò Công, Cai Lay) va 01 thành phó là trung tâm hành chính, chính trị, kinh tế, văn hóa của tỉnh (Mỹ Tho). Toàn tỉnh có 142 xã, 8 thị tran, 22 phường.
Tăng trưởng kinh tế và mức sống dân cư 1. Tăng trưởng kinh tế và các yếu tố đóng góp vào tăng trưởng Về tăng trưởng kinh tế, trong giai đoạn 2011-2015, nhịp tăng trưởng GRDP đạt bình quân 7,42%/năm; những năm đầu trong giai đoạn 2016-2020, trước khi đại dich Covid-19 bùng phát, GRDP của tỉnh duy trì ở mức tăng trên 7% và chỉ thực sự sụt giảm nhịp tăng trong hai năm 2019, 2020, kéo nhịp tăng trưởng toàn giai đoạn xuống mức 5,69%/năm. Năm 2021, tiếp tục bị ảnh hưởng nặng nề bởi đại dịch covid 19 nên GRDP của tỉnh giảm 0,7% so với năm 2020. Về quy mô kinh tế tỉnh, đến năm 2021, GRDP của tinh (theo giá hiện hành) đạt 100.314,5 tỷ đồng, gap hon 1,5 lần quy mô kinh tế của tỉnh năm 2015.
Đóng góp của các ngành vào năng tăng trưởng kinh tế của tỉnh. Nếu xét năm 2015, trong 8% tăng trưởng GRDP của tỉnh, khối ngành nông-lâm-ngư nghiệp (KVI) đóng góp 21,8 điểm %, khối ngành công nghiệp và xây dựng (KV2) đóng góp 41,3 điểm %, khối ngành dịch vụ (KV3) đóng góp 32,2 điểm % và thuế đóng góp 4,8 điểm %. Loại trừ tác động của dịch bệnh trong năm 2020 (tăng trưởng 0,6%) và năm 2021 (tăng trưởng -0,7%), bức tranh kinh tế tỉnh cho thấy vai trò của các khối ngành trong kinh tế tỉnh đã có chiều hướng thay đổi khi khả năng đóng góp cho tăng trưởng từ KV1 có xu hướng giảm, từ 21,8 điểm % năm 2015, xuống còn 19,6 điểm % năm 2019; trong khi đó, tỷ lệ này của KV2 là 41,3 điểm % năm 2015 xuống con 27,1 điểm % năm 2019. KV3 có vai trò ngày càng quan trọng đối với kinh tế tỉnh Tiền Giang khi khu vực này có đóng góp 32,2 điểm % cho tăng trưởng GRDP toan tỉnh năm 2015, tăng lên 48,7 điểm % trong năm 2019.