CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CHO SỰ RA ĐỜI QUAN NIỆM THA HÓA LAO ĐỘNG CỦA C. MÁC TRONG TÁC PHẨM BẢN THẢO KINH TẾ - TRIẾT HỌC NĂM 1844 1.1 Cơ sở thực tiễn cho sự ra đời quan niệm tha hóa lao động của C. Mác - Phương thức sản xuất tư bản chủ nghĩa đầu thế kỷ XIX. Chủ nghĩa tư bản xuất hiện ở thế kỷ XVI và thực sự bắt đầu phát triển ở thế kỷ XVII với sự mở rộng nhiều công trường thủ công, sự gia tăng số lượng công nhân lớn,.
Sang thế kỷ XVIII, chủ nghĩa tư bản khẳng định vị trí của mình với việc xuất hiện nhiều xưởng máy công nghiệp… Đến những năm đầu của thế kỷ XIX, sự tác động mạnh mẽ của cuộc cách mạng trong công nghiệp đã khiến cho lực lượng sản xuất phát triển và tăng lên chưa từng có trong lịch sử, kéo theo sự thay đổi, phát triển của mọi mặt đời sống xã hội. Nước Anh đã hoàn thành cuộc cách mạng công nghiệp và trở thành một cường quốc công nghiệp. Ở Pháp, cuộc cách mạng công nghiệp đang đi vào giai đoạn hoàn thành. Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, là sự gia tăng dân số mạnh mẽ.
Sự gia tăng này tạo ra một nguồn lớn nhân công thừa thãi và rẻ mạt. Sự phát triển của lực lượng sản xuất làm cho quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa được củng cố, tạo cơ sở kinh tế cho chủ nghĩa tư bản phát triển mạnh mẽ hơn, tuy nhiên kèm theo đó mâu thuẫn xã hội càng thêm gay gắt. Việc chuyên môn hóa nghề nghiệp giúp người lao động có vị trí và hiểu được chức năng công việc của mình, tuy nhiên việc tổ chức sản xuất và phân bố sản xuất đó đã ném một bộ phận công nhân vào tình trạng thất nghiệp. Sự phát triển của nền công nghiệp ngày càng mạnh mẽ đã làm gia tăng nhiều đô thị, nhưng cũng kéo theo sự xuống cấp về đời sống vật chất của bộ phận người lao động.
Những cảnh khốn cùng, ăn mày, trộm cướp, trẻ em lang thang, dịch bệnh, người lao động ở các tỉnh ùn ùn kéo về, xã hội thành thị lúc này bị làm đảo lộn bởi một nền công nghiệp có mục đích mang lại lợi nhuận cho các nhà tư bản. “Với sự di dân khỏi nông 12 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com nghiệp – và thêm vào đó là một luồng thợ thủ công phá sản kéo đến -, sự tăng vọt dân số đã tạo thành một khối nhân lực nghèo khổ…một bệnh dịch đang hoành hành trong dân chúng… Bệnh của họ là đói, vì họ khỏi ngay khi họ có cái ăn” [5, tr. Trong các thành phố, người lao động trở thành nạn nhân của nền công nghiệp, nền công nghiệp cung cấp được việc làm cho họ thì lại ít quan tâm đến những điều kiện sống của họ. Quá trình công nghiệp đó có mục đích giúp cho các nhà tư bản thống trị, kiểm soát, chi phối toàn bộ đời sống kinh tế - chính trị của toàn xã hội đó.
Lúc này, xã hội tư bản hiện đại giống như một bộ máy mà trong đó, người điều khiển là những nhà đại tư bản, công cụ là những người công nhân và máy móc, mục đích là hàng hóa và lợi nhuận. Những nguyên tắc hoạt động nghiêm ngặt của nền sản xuất tư bản biến người lao động trở thành phương tiện trong bộ máy sản xuất và lãng quên hiện thực về đời sống tinh thần, tâm sinh lí của họ. Nhà tư bản đã đem cách thức quản lí nền sản xuất để áp dụng vào đời sống xã hội và con người khiến con người ngày càng phụ thuộc nhiều hơn vào những quy tắc, kỷ luật, khoa học, công nghệ, máy móc, trong khi những nhu cầu về mặt tinh thần của họ bị người chủ (nhà tư bản) bỏ qua. Đi cùng với tính hiện đại của nền đại công nghiệp là sự tha hóa của người công nhân trong các nhà máy, xí nghiệp, sự đấu tranh của giai cấp công nhân đối với chủ - nhà tư bản, sự đấu tranh của các nước thuộc địa chống lại các cường quốc tư bản… Đặc điểm kinh tế - xã hội của xã hội tư bản chủ nghĩa cho phép chúng ta hiểu rõ bản chất chế độ kinh tế của nó.
Trong xã hội công nghiệp, ảnh hưởng mang tính chất quyết định của sự phát triển khoa học kỹ thuật đến các mặt khác nhau của đời sống được thể hiện rõ nét. Mối liên hệ giữa sự phát triển sản xuất với những biến đổi cơ cấu kinh tế xã hội rất khó thấy trong xã hội truyền thống lại được thể hiện rõ nét hơn nhiều trong xã hội công nghiệp. Con người được xem như một thực thể công nghệ luôn có thêm những cơ quan chức năng mới - các phương tiện kỹ thuật và công nghệ. Ở đó, người công nhân bị quy thành “công cụ”, “phương tiện” để sản 13 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com xuất, sức lao động của họ bị biến thành hàng hóa để trao đổi trên thị trường, cuộc sống của họ bị giản lược thành những nhu cầu sinh sống tối thiểu của một sinh vật.
“Sự tồn tại của công nhân bị quy thành điều kiện tồn tại của bất cứ hàng hóa nào khác. Người công nhân đã trở thành hàng hóa và nếu anh ta tìm được người mua thì như thế là anh ta gặp may. Còn số cầu, cái quyết định đời sống của công nhân thì phụ thuộc vào ý muốn của bọn nhà giàu và bọn tư bản” [57, tr. Khi xã hội bước vào giai đoạn tư bản tự do cạnh tranh, quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa tồn tại và vận động dưới các hình thức tư bản tư nhân, nhà tư bản có quyền kinh doanh bất cứ ngành công nghiệp nào, tiêu thụ hàng hóa theo giá cả hình thành tự phát, không có sự chi phối thị trường chung, không ai quy định được giá cả.
Với sự phát triển mạnh mẽ đó, giai cấp công nhân tăng lên về số lượng, họ trở thành lực lượng lao động chủ yếu của xã hội - của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa, trái lại với vai trò đó là điều kiện làm việc của họ không được đảm bảo trong các nhà máy, họ phải làm việc cực khổ với đồng lương rẻ mạt. Họ bị bóc lột cả về vật chất và tinh thần. Nói như nhà kinh tế học Xmít thì tiền công của người công nhân thông thường là tiền công thấp nhất “phù hợp với tính người thông thường”, nghĩa là với mức sống của một con vật. Việc sử dụng máy móc trong nền sản xuất tư bản chủ nghĩa giờ đây không còn thực hiện chức năng trực tiếp của nó là làm giảm nhẹ lao động của con người mà khiến cho họ bị kiệt quệ, lệ thuộc vào máy móc.
Cuộc cách mạng công nghiệp đã biến người lao động thành những cái máy đơn thuần, mục đích chính ưu tiên là sản xuất ra ngày càng nhiều giá trị thặng dư cho nhà tư bản. Họ phải chạy theo guồng máy dây chuyền, lúc này lao động trở thành cực hình đối với họ… Đồng thời, với hệ thống sản xuất đó, giai cấp tư sản ngày càng giàu có trong tích lũy tư bản, còn người lao động (công nhân) rơi vào cảnh bần cùng, bị cướp cả phần hoạt động độc lập của bản thân bởi họ không còn thời gian để phát triển nhân cách cũng như thể chất. Của cải giờ đây không mang lại sự ấm no hạnh phúc cho người lao động, 14 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com mà trở thành nguồn gốc của sự nghèo khổ. Máy móc với tư cách là tư liệu sản xuất - là phương tiện tăng thêm giá trị thặng dư cho nhà tư bản, nhưng lại trở thành mặt đối lập với người công nhân, mặc dù họ là lực lượng chính sử dụng chúng.
Nói theo cách của Ăngghen, trong xã hội tư bản chủ nghĩa: Người lao động, về mặt luật pháp và trên thực tế, là kẻ nô lệ cho giai cấp có của, cho giai cấp tư sản; anh ta là kẻ nô lệ đến mức bị bán như một hàng hóa, và giá cả anh ta lên xuống hệt như giá cả một hàng hóa (…). Trái lại, giai cấp tư sản cảm thấy thoải mái trong hệ thống này hơn nhiều so với trong trường hợp chế độ nô lệ cổ đại; nó có thể thải hồi những người của nó khi nó muốn mà không bị mất đi khoản vốn đã bỏ ra, hơn nữa, nó còn có được lao động khá rẻ mạt. Sự phân công lao động trong xã hội tư bản chủ nghĩa làm cho người lao động mất đi tính tự chủ, khả năng sáng tạo, họ trở nên thụ động và lệ thuộc vào máy móc, vào sự phân công sản xuất của nhà tư bản. Tổ chức lao động của nền sản xuất tư bản chủ nghĩa làm con người xa rời bản chất của mình, những sản phẩm do lao động tạo ra đã không được sử dụng như giá trị để làm giàu đẹp thế giới, phát triển con người, trái lại đã thống trị lại con người, phân biệt loài người thành những khu vực thù định nhau, người trực tiếp lao động bị biến thành các cỗ máy sản xuất hoàn toàn xa lạ với những sản phẩm do chính họ tạo ra.
Charles Fourrier đã phê phán sự bất công của xã hội tư bản, ông vạch rõ "sự nghèo khổ sinh ra từ bản thân sự thừa thãi", đó là sự giàu có của chủ tư bản và sự nghèo đói của công nhân làm thuê. Trong hình thái kinh tế tư bản chủ nghĩa, các cá nhân dùng sở hữu tư nhân để tự do kinh doanh bằng hình thức các công ty tư nhân để thu lợi nhuận thông qua cạnh tranh trong các điều kiện của thị trường tự do: mọi sự phân chia của cải đều thông qua quá trình mua bán của các thành phần tham gia vào quá trình kinh tế. Các công ty tư nhân tạo thành thành phần kinh tế tư nhân tư bản chủ nghĩa. Chế độ tư hữu tư bản chủ nghĩa về tư liệu sản xuất đã chi phối rất nhiều hành vi của con người.
Ở đó, giai cấp tư sản đã đem sự bóc lột công nhân vô sỉ, trực tiếp, tàn nhẫn thay cho sự bóc lột che đậy bằng 15 LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com ảo tưởng tôn giáo và chính trị trong các chế độ trước đó. Sự tích lũy tư bản ngày càng nhiều tạo cơ hội cho các nhà tư bản bóc lột sức lao động của người công nhân càng lớn. Đi cùng với sự giàu có tập trung tư bản của giai cấp tư sản là sự nghèo khổ ngày càng gia tăng của người lao động.