CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA CÁC DOANH NGHIỆP TRONG LĨNH VỰC KINH DOANH XĂNG DẦU 1.1 Tổng quan về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp 1.1 Khái niệm hiệu quả Hiệu quả (A. Eficacité) là mối tương quan giữa đầu vào, các yếu tố khan hiếm, với đầu ra hàng hóa và dịch vụ, có thể được đo lường theo hiện vật (gọi là hiệu quả kỹ thuật) hoặc theo chi phí (gọi là hiệu quả kinh tê). Khái niệm hiệu quả được dùng như một tiêu chuẩn để xem xét các tài nguyên được các thị trường phân phối tốt như thế nào. “Hiệu quả sản xuất diễn ra khi xã hội không thể tăng sản lượng một loại hàng hóa mà không cắt giảm một sản lượng hàng hóa khác.
Một nền kinh tế có hiệu quả nằm trên giới hạn khả năng sản xuất của nó” (Giáo trình Kinh tế học – P. Thực chất quan điểm này đề cập đến khía cạnh phân bổ có hiệu quả các nguồn lực của nền sản xuất xã hội.Nền kinh tế sẽ có hiệu quả và sẽ có mức hiệu quả cao nhất khi sự phân bổ các nguồn lực kinh tế sao cho đạt được việc sử dụng trên đường giới hạn khả năng sản xuất.Áp dụng quan điểm này vào một doanh nghiệp có thể suy ra hiệu quả chỉ có thể đạt được trên đường giới hạn năng lực sản xuất của doanh nghiệp. Nhưng trên thực tế, để đạt được mức hiệu quả này rất khó, nó đòi hỏi nhiều điều kiện như: khả năng chuyển đổi dễ dàng giữa các yếu tố đầu vào, tính linh hoạt của dây truyền và công nghệ sản xuất, cầu của từng loại hàng hóa trên thị trường,… Hiệu quả là một chỉ tiêu so sánh, biểu hiện mức độ tiết kiệm chi phí cho một đơn vị kết quả hữu ích và mức tăng khối lượng hữu ích của hoạt động sản xuất vật chất trong một thời kỳ, góp phần làm tăng thêm lợi ích xã hội của nền kinh tế quốc dân. Ưu điểm của quan điểm này đã gắn kết quả với chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng chi phí; nhược điểm là chưa rõ ràng và thiếu tính khả thi ở phương diện xác định và tính toán.
9 Vũ Viết Trung Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Có rất nhiều cách nhìn nhận khác nhau về hiệu quả,một trong những khái niệm về hiệu quả được nhiều người thừa nhận đó là: hiệu quả là một phạm trù phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu đã xác định. Bản chất của hiệu quả là phản ánh mặt chất lượng, phản ánh trình độ lợi dụng các nguồn lực sản xuất để đạt được mục tiêu cuối cùng mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp- mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Tuy nhiên, để hiểu rõ bản chất của hiệu quả ta cũng xét chúng một cách riêng biệt giữa hai góc độ: Hiệu quả kinh doanh và hiệu quả xã hội. Hiệu quả kinh doanh:Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong hoạt động sản xuất kinh doanh với chi phí sản xuất kinh doanh thấp nhất.
Hiệu quả kinh doanh không chỉ biểu hiện ở mối tương quan giữa kết quả sản xuất và chi phí sản xuất, tức là đặc trưng về mặt lượng của hiệu quả kinh doanh mà nó còn biểu hiện về chất lượng.Chất lượng của hiệu quả kinh doanh là tiêu chuẩn của hiệu quả. Hiệu quả xã hội: Hiệu quả xã hội phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định. Các mục tiêu xã hội thường thấy là giải quyết công ăn việc làm, giảm số người thất nghiệp, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của người lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân trên cơ sở giải quyết tốt các quan hệ trong phân phối, giữ gìn môi trường,… Khi xem xét hiệu quả kinh tế xã hội, người ta xem xét mối tương quan giữa các kết quả đạt được về mặt xã hội (cải thiện điều kiện lao động, nâng cao đời sống văn hóa, tinh thần, giải quyết công ăn việc làm,…) và các chi phí bỏ ra để đạt được các kết quả đó. Vì hiệu quả xã hội là phạm trù gắn liền với kinh tế vĩ mô nên đối với các doanh nghiệp, mục tiêu chủ yếu là lợi nhuận thì việc thực hiện các mục tiêu để đạt được hiệu quả xã hội là rất hạn chế, thông thường Chính phủ phải can thiệp, điều tiết để nâng cao hiệu quả xã hội.
Hiệu quả xã hội đối với doanh nghiệp chính là sự hữu ích 10 Vũ Viết Trung Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội của sản phẩm được sản xuất ra, các cơ hội việc làm do doanh nghiệp tạo ra, sự ổn định đời sống của người lao động trong doanh nghiệp,… Trong khuôn khổ luận văn chúng ta chỉ tập trung xem xét và đánh giá hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ở góc độ kinh tế, trong đó chủ yếu là hiệu quả kinh doanh.2 Khái niệm, bản chất hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp Nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện sống còn để doanh nghiệp tồn tại, phát triển và thực hiện mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận. Muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh thì trước hết phải hiểu rõ bản chất phạm trù hiệu quả và tính toán các chỉ tiêu hiệu quả một cách chính xác; sau đó phân tích hoạt động kinh doanh và đưa ra các giải pháp phù hợp. Hiệu quả kinh doanhlà một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ quản lý khai thác và sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp trong việc tối đa hoá kết quả lợi ích hoặc tối thiểu hoá chi phí kinh doanh bỏ ra nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Kết quả của hoạt động kinh doanh bao gồm: số lượng sản phẩm tiêu thụ, doanh thu và lợi nhuận; nguồn lực đầu vào của hoạt động kinh doanh bao gồm: lao động, tài sản, nguồn vốn.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp Quá trình đánh giá hiệu quảcho doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu cũng tương tự các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh khác, thông qua việc đánh giá hệ thống các chỉ tiêu suất sinh lợi và các chỉ tiêu năng suất (sức sản xuất).
Tuy nhiên, do đặc thù của ngành kinh doanh xăng dầu khi đánh giá hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp thì ngoài việc sử dụng hệ thống các chỉ tiêu suất sinh lợi cần đặc biệt chú trọng đến hệ thống các chỉ tiêu năng suất.Nhóm chỉ tiêu suất sinh lời a/Suất sinh lời của tài sản (ROA- Return on Assets) Suất sinh lời của tài sản (ROA) = Lãi ròng/ Tổng tài sản bình quân(1.1) Hệ số này mang ý nghĩa: trong kỳ trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng. Hệ số này càng cao càng thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý 11 Vũ Viết Trung Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội tài sản càng hợp lý và có hiệu quả. b/Suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE): Từ trước đến nay, tiêu chuẩn phổ biến nhất mà người ta thường dùng để đánh giá tình hình tài chính của các nhà đầu tư và các nhà quản lý cao cấp là suất sinh lời của vốn chủ sở hữu. Nó được định nghĩa như sau: Suất sinh lời vốn chủ sở hữu (ROE) = Lãi ròng/Vốn chủ sở hữu bình quân(1.2) Suất sinh lời vốn chủ sở hữu đo lường tính hiệu quả của đồng vốn của các chủ sở hữu của doanh nghiệp.
Nó xem xét lợi nhuận trên mỗi đồng tiền của vốn chủ sở hữu mang đi đầu tư, hay nói cách khác, đó là phần trăm lợi nhuận thu được của chủ sở hữu trên vốn đầu tư của mình. c/Suất sinh lời của lao động Suất sinh lời của lao động = Lãi ròng/ Tổng số lao động bình quân (1.3) Chỉ tiêu này cho biết mỗi lao động tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong 1 chu kỳ tính toán xác định. Nhóm chỉ tiêu năng suất (sức sản xuất) a/Năng suất của lao động Năng suất lao động theo sản lượng=Sản lượng/Tổng số lao động bình quân(1.4) Hệ số này mang ý nghĩa: trong kỳ trung bình một lao động tạo ra bao nhiêu sản lượng cho doanh nghiệp. Hệ số này càng cao càng có hiệu quả.
Năng suất lao động theo giá trị = Doanh thu/Tổng số lao động bình quân(1.5) Hệ số này mang ý nghĩa: trong kỳ trung bình một lao động tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp. Hệ số này càng cao càng có hiệu quả. b/Năng suất của tài sản Năng suất tài sản theo sản lượng =Sản lượng/Tổng tài sản bình quân(1.6) Hệ số này mang ý nghĩa: trong kỳ trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu sản lượng cho doanh nghiệp. Hệ số này càng cao càng có hiệu quả.
Năng suất của tài sản theo giá trị =Doanh thu/Tổng tài sản bình quân(1.7) 12 Vũ Viết Trung Luận văn Thạc sỹ QTKD Trường Đại học Bách Khoa Hà Nội Ngoài các chỉ tiêu trên còn có nhiều chỉ tiêu khác, tùy thuộc vào mục đích và nội dung của việc nghiên cứu mà chúng ta có thể lựa chọn, xem xét cụ thể những chỉ tiêu phân tích thích hợp.Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả của các doanh nghiệp kinh doanh xăng dầu 1.Đặc điểm kinh doanh xăng dầu 1. Xăng dầu - mặt hàng chiến lược có sự điều tiết của Nhà nước Xăng dầu và các sản phẩm từ dầu mỏ là nguồn nhiên liệu và nguyên liệu cực kỳ quan trọng, là yếu tố đầu vào cho nhiều ngành như luyện thép, thủy tinh, xi măng, giao thông,. , đặc biệt có ý nghĩa trong hoạt động của nền kinh tế quốc dân, trong quốc phòng, an ninh, và đời sống hàng ngày của nhân dân. Mặt khác, xăng dầu và các sản phẩm từ dầu mỏ là mặt hàng đem lại nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước; góp phần ổn định giá cả, kìm chế lạm phát.
tạo ra sự phát triển lành mạnh cho nền kinh tế quốc dân. Lượng cung, lượng cầucác sản phẩm xăng dầu trong ngắn hạn đều rất ít co giãn so với thay đổi về giá. Xăng dầu là mặt hàng chủ yếu được nhập khẩu từ các nước trên thế giới do đó chịu ảnh hưởng trực tiếp của tình hình biến động giá cả trên thị trường xăng dầu thế giới và tỷ giá giữa đồng ngoại tệ và nội tệ; từ đó làm ảnh hưởng đến giá vốn hàng bán của các doanh nghiệp xăng dầu trong nước.