Chương 1. Những vấn đề lý luận chung tỏng phân tích và dự báo tài chính trong đơn vị kinh doanh. Phân tích tình hình tài chính tại Công ty Điện lực Hà Đông. Chương 3: Dự báo tình hình tài chính của Công ty Điện lực Hà Đông năm 2020” 7 CHƢƠNG 1.
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ PHÂN TÍCH VÀ DỰ BÁO TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1. Phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm, ý nghĩa của phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Khái niệm phân tích tài chính doanh nghiệp “ Tài chính doanh nghiệp là hệ thống các quan hệ kinh tế phát sinh trong phân phối các nguồn tài chính gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tiền tệ trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp nhằm đạt được những mục tiêu nhất định.
(Giáo trình phân tích kinh doanh, Trường Đại học KTQD, 2009) Những quan hệ kinh tế đó bao gồm: - Quan hệ kinh tế giữa doanh nghiệp với nhà nước - Quan hệ giữa doanh nghiệp với các chủ thể kinh tế khác - Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp. Những quan hệ kinh tế trên được biểu hiện trong sự vận động của tiền tệ thông qua việc hình thành và sử dụng các quỹ tiền tệ, vì vậy thường được xem là các quan hệ tiền tệ. Những quan hệ này một mặt phản ánh rõ doanh nghiệp là một đơn vị kinh tế độc lập, là chủ thể trong quan hệ kinh tế, đồng thời phản ánh rõ nét mối liên hệ giữa tài chính doanh nghiệp với các khâu khác trong hệ thống tài chính. Báo cáo tài chính là phương pháp kế toán tổng hợp số liệu từ các sổ kế toán theo các chỉ tiêu kinh tế tài chính tổng hợp, phản ánh tình hình tài sản, công nợ, nguồn vốn tại một thời điểm, tình hình sử dụng vốn và kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của một doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định vào một hệ thống biểu mẫu báo cáo đã quy định.
Bởi vậy, báo cáo tài chính của doanh nghiệp cung cấp cho các đối tượng sử dụng thông tin về tình hình kinh tế- tài chính của các quá trình sản xuất kinh doanh. Trên cơ sở đó, mọi nhà quản trị doanh nghiệp đưa ra những quyết định cần thiết trong quản lý. (Giáo trình phân tích kinh doanh, Trường Đại học KTQD, 2009) Hệ thống báo cáo tài chính gồm 4 báo cáo cơ bản sau: - Bảng cân đối kế toán 8 - Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh - Báo cáo lưu chuyển tiền tệ - Bản thuyết minh báo cáo tài chính Phân tích báo cáo tài chính là quá trình xem xét, kiểm tra, đối chiếu và so sánh số liệu về tài chính trong kỳ hiện tại với các kỳ kinh doanh đã qua. Thông qua việc phân tích báo cáo tài chính sẽ cung cấp cho người sử dụng thông tin có thể đánh giá tiềm năng, hiệu quả kinh doanh cũng như những rủi ro về tài chính trong tương lai của doanh nghiệp.
(Giáo trình phân tích kinh doanh, Trường Đại học KTQD, 2009) Phân tích báo cáo tài chính nhằm cung cấp thông tin hữu ích không chỉ cho quản trị doanh nghiệp mà còn cung cấp thông tin kinh tế - tài chính chủ yếu cho các đối tượng sử dụng thông tin ngoài doanh nghiệp.” Bởi vậy, phân tích báo cáo tài chính không phải chỉ phản ánh tình hình tài chính của doanh nghiệp tại một thời điểm nhất định, mà còn cung cấp những thông tinh về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đã đạt được trong 1 khoảng thời gian 1. Ý nghĩa của việc phân tích tài chính doanh nghiệp Trong quá trình phân tích các chuyên gia phân tích không “chỉ đơn thuần đánh giá tình hình tài chính của các doanh nghiệp qua các chỉ tiêu mà còn phải đi sâu vào tìm hiểu bản chất và đánh giá thực chất biến động của các chỉ tiêu tài chính như thế nào. Từ đó đưa ra các biện pháp ảnh hưởng tích cực đến các chỉ tiêu tài chính nhằm nâng cao hiệu quả sử dụng vốn và phù hợp với xu thế biến đổi của các quy luật khách quan trong nền kinh tế của thị trường. - Đối với các nhà quản trị doanh nghiệp: phân tích báo cáo tài chính cung cấp các thông tin tình hình tài chính, khả năng trả nợ, sinh lời, nhận biết thuận lợi, khó khăn liên quan đến kinh doanh, sử dụng tài sản, điều hành nợ - vốn… để có quyết định kinh doanh đạt hiệu quả cao.
- Đối với các nhà đầu tư: qua phân tích báo cáo tài chính, họ sẽ biết được khả năng sinh lợi cũng như tiềm năng phát triển của doanh nghiệp. Khi cảm thấy hài lòng về tình hình hoạt động của doanh nghiệp, sự thỏa mãn về lợi tức mong đợi, các nhà đầu tư sẽ tạo điều kiện dễ dàng cho doanh nghiệp thuận lợi mở rộng sản xuất 9 bằng cách huy động thêm nguồn vốn từ các nhà đầu tư – là nguồn vốn có chi phí thấp và nâng cao mức tự chủ của doanh nghiệp. - Đối với các nhà cho vay và cung cấp vật tư cho doanh nghiệp: mối quan tâm lớn nhất của họ là khả năng thanh toán và khả năng sinh lợi của doanh nghiệp. Đối với các khoản vay ngắn hạn, người cho vay đặc biệt quan tâm đến khả năng thanh toán của doanh nghiệp đối với các khoản nợ đến hạn trả.
Đối với các khoản vay dài hạn, ngoài khả năng thanh toán, họ còn quan tâm đến khả năng sinh lời vì việc hoàn vốn và lãi sẽ phụ thuộc vào khả năng sinh lời này. - Đối với các cơ quan Nhà nước như cơ quan Thuế, Tài chính, Chủ quản: qua phân tích báo cáo tài chính sẽ cho thấy thực trạng về tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, cơ quan Tài chính và cơ quan chủ quản sẽ có biện pháp quản lý hiệu quả hơn. Như vậy, phân tích báo cáo tài chính có vai trò rất quan trọng đối với mọi nhà quản trị trong nền kinh tế thị trường có quan hệ mật thiết với nhau.
Đó là công cụ hữu ích được dùng để xác định giá trị kinh tế, đánh giá điểm mạnh, điểm yếu tài chính của doanh nghiệp. Trên cơ sở đó phát hiện ra các nguyên nhân khách quan, chủ quan giúp cho từng nhà quản trị lực chọn và đưa ra quyết định phù hợp với mục tiêu mà họ quan tâm.” Do vậy, phân tích báo cáo tài chính là công cụ đắc lực cho các nhà quản trị kinh doanh đạt kết quả và hiệu quả cao nhất. Phương pháp phân tích tài chính doanh nghiệp 1. Phương pháp phân tích theo chiều ngang “ Điểm khởi đầu chung cho việc nghiên cứu các báo cáo tài chính là phân tích theo chiều ngang, bằng cách tính số tiền chênh lệch từ năm nay so với năm trước.
Tỷ lệ phần trăm chênh lệch phải được tính toán để thấy quy mô thay đổi tương quan ra sao với quy mô của số tiền liên quan. Một biến thể của phân tích theo chiều ngang là phân tích xu hướng. Trong phân tích xu hướng, các tỷ lệ chênh lệch được tính cho nhiều năm thay vì hai năm. Phân tích xu hướng quan trọng bởi vì nó có thể chỉ ra những thay đổi cơ bản về bản chất của hoạt động kinh doanh.
Phương pháp phân tích theo chiều dọc Trong phân tích theo chiều dọc, tỷ lệ phần trăm được sử dụng để chỉ mối quan hệ của các bộ phận khác nhau so với tổng số trong báo cáo. Con số tổng cộng của một báo cáo sẽ được đặt là 100% và từng phần của báo cáo sẽ được tính tỷ lệ phần trăm so với con số đó. Báo cáo bao gồm kết quả tính toán của các tỷ lệ phần trăm trên được gọi là báo cáo quy mô chung. Phân tích theo chiều dọc có ích trong việc so sánh tầm quan trọng của các thành phần nào đó trong hoạt động kinh doanh và trong việc chỉ ra những thay đổi quan trọng về kết cấu của một năm so với năm tiếp theo ở báo cáo quy mô chung.
Báo cáo quy mô chung thường được sử dụng để so sánh các đặc điểm hoạt động và đặc điểm tài trợ có quy mô khác nhau trong cùng ngành. Phương pháp so sánh “ So sánh là phương pháp được sử dụng rộng rãi, phổ biến trong phân tích nhằm đánh giá kết quả, xác định xu hướng phát triển và mức độ biến động của các chỉ tiêu kinh tế giữa các kỳ kinh doanh khác nhau. Khi sử dụng phương pháp so sánh cần đảm bảo những nội dung sau: Điều kiện so sánh: Số liệu của các chỉ tiêu sử dụng trong quá trình phân tích phải đảm bảo tính thống nhất, nghĩa là phải cùng nội dung kinh tế, cùng phương pháp tính toán, đơn vị đo lường, thời gian và quy mô không gian xác định. Gốc so sánh: Tiêu chuẩn so sánh là chỉ tiêu của một kỳ được chọn làm căn cứ để so sánh (được gọi là gốc so sánh hay số liệu kỳ gốc).
Tuỳ thuộc vào mục đích phân tích và điều kiện phân tích cụ thể mà lựa chọn gốc so sánh thích hợp, gốc so sánh có thể xét theo mặt thời gian và không gian. Về thời gian, gốc so sánh được lựa chọn là các kỳ đã qua (kỳ trước, năm trước) hay kế hoạch, dự toán. Cụ thể: - Khi xác định xu hướng và tốc độ phát triển của chỉ tiêu phân tích, gốc so sánh được xác định là trị số của chỉ tiêu phân tích ở kỳ trước hoặc hàng loạt kỳ trước (năm trước). Lúc này sẽ so sánh trị số chỉ tiêu giữa kỳ phân tích với trị số chỉ tiêu ở các kỳ gốc khác nhau.
11 - Khi đánh giá tình hình thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ đặt ra, gốc so sánh là trị số kế hoạch của chỉ tiêu phân tích. Khi đó, tiến hành so sánh giữa trị số thực tế với trị số kế hoạch của chỉ tiêu nghiên cứu. + Về mặt không gian: Gốc so sánh có thể là chỉ tiêu trung bình ngành, bình quân khu vực kinh doanh; có thể so sánh từng bộ phận với tổng thể để thấy được mức độ phổ biến của bộ phận. Dạng so sánh: Phải xác định rõ mục tiêu so sánh là gì.
Quá trình so sánh giữa các chỉ tiêu được thể hiện dưới ba hình thái: số tuyệt đối, số tương đối và số bình quân. Mỗi một hình thái ứng với một mục tiêu so sánh tương ứng. Nếu như so sánh bằng số tuyệt đối phản ánh biến động về mặt quy mô hoặc khối lượng của các chỉ tiêu phân tích, thì so sánh bằng số tương đối phản ánh mối quan hệ tỷ lệ, kết cấu của từng chỉ tiêu trong tổng thể, hoặc biến động về mặt tốc độ của chỉ tiêu đang xem xét giữa các kỳ với nhau.