CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ TỔNG QUAN 1. Khái niệm liên quan 1.Khái niệm về phân tích doanh nghiệp Phân tích doanh nghiệp là phân tích tất cả những thông tin về doanh nghiệp đó để đưa ra cái nhìn khách quan về tiềm năng của doanh nghiệp, bao gồm việc đánh giá định tính, định lượng các yếu tố bên ngoài như môi trường kinh tế tổng thể và ngành nghề, cũng như phân tích các dữ liệu nội bộ của doanh nghiệp như báo cáo tài chính. Một trong những mục tiêu của việc phân tích công ty là để định giá cổ phiếu (hay còn được gọi là phân tích tài chính doanh nghiệp hoặc phân tích cơ bản), cũng như hỗ trợ quản trị doanh nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực tài chính.Khái niệm về định giá cổ phiếu Định giá cổ phiếu là thực hiện đánh giá và ước lượng giá trị thực của cổ phiếu (còn được gọi là giá trị nội tại) dựa trên những phân tích cơ bản nhằm ước tính khả năng sinh lời và dòng tiền của công ty. Định giá cổ phiếu để phục vụ cho các mục đích sau: đưa ra các quyết định về mua, bán và nắm giữ cổ phiếu; cổ phần hóa doanh nghiệp; phát hành chứng khoán lần đầu tiên cho công chúng; mua lại và sáp nhập doanh nghiệp M&A.
Một số thuật ngữ khác cần phải phân biệt với giá trị nội tại là mệnh giá, giá trị sổ sách, giá trị thị trường của cổ phiếu. Mệnh giá là giá danh nghĩa của cổ phiếu, tại Việt Nam thường là 10.000 đồng/cổ phiếu. Giá trị này thường là cơ sở để xác định vốn điều lệ của doanh nghiệp và trả cổ tức. Giá trị sổ sách là giá trị của vốn chủ sở hữu trên bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp.
Giá trị thị trường là giá trị của cổ phiếu được các nhà đầu tư giao dịch trên thị trường, theo lý thuyết thì trong một thị trường chứng khoán hiệu quả, giá trị thị trường sẽ phản ánh đúng giá trị thực của cổ phiếu. Nhưng trong thực tế, thị trường vốn là không hiệu quả, vì vậy các nhà đầu tư thuộc trường phái cơ bản mới nghĩ ra phương pháp đầu tư bằng cách xác định giá trị thực của cổ phiếu, cũng là tiềm năng của doanh nghiệp trong tương lai. Theo đó nhà đầu tư sẽ mua cổ phiếu khi giá thị trường thấp hơn giá trị nội tại và bán ra trong trường hợp ngược lại. Vai trò của định giá cổ phiếu Như đã nói ở trên, định giá cổ phiếu giúp xác định tiềm năng tương lai của doanh nghiệp, từ đó giúp các nhà đầu tư có thêm thông tin trong việc ra quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp đó hay không.
Một doanh nghiệp có giá trị nội tại cao tức là công ty đó có tiềm năng kinh doanh rất lớn trong tương lai, có khả năng mang lại lợi nhuận lớn và tiềm năng tăng giá cổ phiếu, trong khi giá giao dịch trên thị trường lại thấp sẽ là một cơ hội đầu tư tuyệt vời cho các nhà đầu tư. Thứ hai, ban điều hành công ty cũng có được cái nhìn sâu sắc về các vấn đề của công ty mình thông qua phân tích doanh nghiệp, từ đó đưa ra những khắc phục và cải thiện kịp thời dựa trên phân tích kỹ lưỡng và khoa học thay vì chỉ dựa trên linh cảm. Mối quan hệ giữa phân tích doanh nghiệp và định giá cổ phiếu Định giá cổ phiếu phải dựa trên cơ sở là phân tích doanh nghiệp. Theo Warrant Buffet, những giả định và thông tin để định giá và dự phóng kinh doanh cho một doanh nghiệp phải đến từ việc phân tích kỹ lưỡng về doanh nghiệp đó như phân tích vĩ mô, phân tích ngành và 8 phân tích hoạt động kinh doanh của công ty trong quá khứ, thậm chí là phân tích về con người quản trị.
Các đầu ra của việc phân tích cơ bản là dự phóng về doanh thu, dự phóng về chi phí vốn, các kế hoạch đầu tư mới (capex), kế hoạch trả nợ và cổ tức… 4. Việc phân tích cơ bản trên thế giới và tại Việt Nam. Trên thế giới, có 2 phương pháp phân tích doanh nghiệp phổ biến nhất là top-down và bottom-up, trong bài phân tích này tôi sẽ ứng dụng cách tiếp cận top-down. Các phương pháp phân tích Phương pháp bottom-up nghĩa là phân tích từ dưới lên, bắt đầu từ phân tích công ty, phân tích ngành và phân tích vĩ mô, các nhà phân tích tin rằng việc thực hiện theo phương pháp này có thể ngay lập tức loại bỏ được các công ty hoạt động kinh doanh kém, giúp tối ưu quá trình phân tích.
Còn theo trường phái Top-down, các nhà phân tích cho rằng việc phân tích phải được thực hiện từ trên xuống trên cơ sở là các thay đổi của môi trường vĩ mô tác động đến môi trường kinh doanh ngành và sau đó là hoạt động kinh doanh của công ty. Các báo cáo phân tích doanh nghiệp theo cả 2 phương pháp đã đạt được nhiều ý nghĩa trên toàn cầu, mỗi phương pháp thể hiện điểm mạnh điếm yếu. Các thị trường chứng khoán phát triển như Anh, Mỹ,… được coi như gần với khái niệm thị trường hiệu quả hơn, các thông tin, luật pháp, báo cáo tài chính minh bạch hơn so với các thị trường khác trên thế giới, vì vậy các báo cáo phân tích cũng thể hiện được sự chính xác hơn. Hiện tại, các chuyên gia phân tích ở Việt Nam tiếp cận hai mô hình này; tuy nhiên, phân tích Top-down phổ biến hơn.
So sánh với trên thế giới, thị trường chứng khoán Việt Nam chỉ là một thị trường non trẻ về cả quy mô và chất lượng. Các nguồn thông tin và báo cáo tài chính, hệ thống kế toán vẫn chưa hoạt động theo một quy chuẩn khắt khe và còn nhiều vụ việc gian lận tài chính trên thị trường, vì vậy mà các báo cáo phân tích cơ bản của thị trường Việt Nam chưa thực sự đạt được sự chính xác và hiệu quả nên có. Kinh nghiệm định giá cổ phiếu trên thế giới và so sánh với Việt Nam. Các nhà đầu tư chuyên nghiệp quốc tế ra quyết định đầu tư phần lớn dựa trên phân tích cơ bản, điển hình cho trường phái này là nhà đầu tư huyền thoại Warren Buffet.
Cũng có một bộ phận các nhà đầu tư lướt sóng dựa trên phân tích kỹ thuật, vì suy cho cùng thì bản chất của phân tích kỹ thuật là phân tích tâm lý của nhà đầu tư và cung cầu trên thị trường. Đây cũng là một trường phái được nhiều người theo đuổi. Tuy nhiên, thực trạng của phần đa các nhà đầu tư Việt Nam là coi đầu tư cổ phiếu là đánh bạc, đi theo tâm lý đám đông chứ không tuân theo bất kỳ một nguyên tắc đầu tư nào trong 2 trường phái trên. Trên thế giới, các phương pháp định giá phổ biến nhất thường được sử dụng là phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF) và phương pháp bội số so sánh P/E, P/B, EV/EBITDA, vì sự chính xác của nó.
Trong đó phương pháp chiết khấu dòng tiền là phương pháp tốt nhất để đánh giá tiềm năng của một công ty do nó yêu cầu phải dự phóng được các dòng tiền trong tương lai của công ty đó. Tuy nhiên việc này rất khó khăn đòi hỏi nhà phân tích phải có kiến thức tài chính-kế toán, kiến thức vĩ mô vi mô một cách sâu rộng mới có thể dự phóng được kinh doanh của công ty trong tương lai. Còn về các phương pháp bội số so sánh lại thể hiện hiệu quả của nó trong việc phản ánh giá trị nội tại lên giá trị thị trường. Phương pháp này được rất nhiều người sử dụng vì tính đơn giản và có thể coi phương pháp này như một sự kết hợp giữa phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật.
Vẫn còn nhiều bất cập trong việc định giá cổ phiếu ở Việt Nam. Trước hết, các doanh nghiệp ở Việt Nam, bao gồm cả các doanh nghiệp đang niêm yết, không quen với việc lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, đặc biệt là không quen với việc dự báo chi tiết luồng tiền ra vào dài hạn khiến mô hình DCF gặp một số trở ngại khiến việc ước tính. Do đó, thực tế có nhiều nhà đầu tư lựa chọn phân tích theo phương pháp tỷ số so sánh hơn vì nó dễ thực hiện, vừa không yêu cầu quá cao về kiến thức và kỹ năng, vừa phản ánh nhanh chóng giá trị ước lượng lên giá thị trường của cổ phiếu. 10 CHƯƠNG II: PHƯƠNG PHÁP PHÂN TÍCH CƠ BẢN VÀ ĐỊNH GIÁ CỔ PHIẾU 1.
Lý thuyết về phân tích vĩ mô 1.Môi trường chính trị Hiển nhiên sự phát triển kinh tế không thể tách rời với chính trị. Các chính sách, nghị định sẽ đóng vai trò là luật chơi và cần điều khiển hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp. Một doanh nghiệp sẽ được hưởng lợi khi chính phủ có chính sách hỗ trợ ngành mà doanh nghiệp đó đang hoạt động kinh doanh và sẽ gặp khó khăn trong trường hợp ngược lại. Các quốc gia có chính sách đối ngoại tốt, tình hình chính trị ổn định cũng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp kinh doanh trên lãnh thổ nước đó phát triển.Môi trường kinh tế Môi trường kinh tế là yếu tố thứ 2 tác động tới doanh nghiệp.
Kinh tế - chính trị luôn song hành cùng nhau, có tác động qua lại lẫn nhau và cùng tác động đến doanh nghiệp. Một ví dụ đơn giản cho tác động của môi trường kinh tế vĩ mô đến doanh nghiệp là khi kinh tế tăng trưởng, GDP/người tăng kéo theo nhu cầu tiêu dùng tăng lên, các chính sách về lãi suất duy trì ổn định thì các chính sách mở rộng quy mô sản xuất và tiếp thị được ưu tiên. Còn trong tình hình kinh tế - chính trị thế giới bất ổn như hiện nay, lãi suất và giá nguyên liệu neo cao, đứt gãy chuỗi cung ứng, nhu cầu tiêu dùng giảm thì các doanh nghiệp duy trì chính sách phát triển ổn định, các kế hoạch kinh doanh được đề ra cũng ở mức thấp hơn. Tương tự như thế với môi trường kinh tế quốc tế cũng ảnh hưởng đến xuất nhập khẩu và các nghiệp vụ liên quan đến hối đoái ngoại tệ của doanh nghiệp.
Hơn nữa một nền kinh tế thế giới ổn định và phát triển cũng giúp các doanh nghiệp dễ dàng tiếp cận với vốn nước ngoài và công nghệ hiện đại.Môi trường văn hóa và xã hội Yếu tố con người vừa là đầu vào và đầu ra của doanh nghiệp, vì vậy các yếu tố về xã hội và nhân khẩu học cũng ảnh hưởng đến chính sách kinh doanh và hoạt động của doanh nghiệp.