chương 1 điều 13, điều 14 của Luật Chứng Khoán năm 2006 có ghi: Tổ chức phát hành là tổ chức thực hiện phát hành chứng khoán ra công chúng. Tổ chức bảo lãnh phát hành là công ty chứng khoán được phép hoạt động bão lãnh phát hành chứng khoán và ngân hàng thương mại được Ủy ban Chứng khoán Nhà nước chấp thuận bảo lãnh phát hành.Phương pháp phân tích cổ phiếu Trên thực tế có rất nhiều phương pháp phân tích cổ phiếu nhưng chung qui lại chủ yếu có 2 phương pháp chính mà đây cũng là 2 trường phái khác nhau về phân tích cổ phiếu: 1.Phân tích cơ bản LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Phương pháp phân tích cơ bản là phương pháp phân tích cổ phiếu dựa vào các nhân tố mang tính chất nền tảng có tác động hoặc dẫn tới sự thay đổi giá cả của cổ phiếu nhằm chỉ ra giá trị nội tại của cổ phiếu trên thị trường. Các nhân tố cơ bản cần nghiên cứu bao gồm: phân tích thông tin cơ bản về công ty, phân tích báo cáo tài chính công ty, phân tích ngành mà công ty đang hoạt động, và phân tích các điều kiện kinh tế vĩ mô ảnh hưởng chung đến giá cổ phiếu. Sau khi nghiên cứu, nhà phân tích có những dự đoán cho những chỉ tiêu quan trọng như: thu nhập kỳ vọng, giá trị hợp lý của cổ phiếu, các đánh giá quan trọng cũng như khuyến nghị mua bán cổ phiếu trên thị trường.
Cụ thể các nhân tố cần chú trọng vê phân tích cơ bản là: Khả năng lợi nhuận (hiện tại và ước đoán) Nhu cầu đối với sản phẩm và dịch vụ của công ty Sức ép cạnh tranh và chính sách giá cả Kết quả sản xuất kinh doanh theo thời gian Kết quả SXKD so sánh với công ty tương tự và với thị trường Vị thế trong ngành Chất lượng quản lý Trong thực tế tùy vào mục tiêu và khả năng phân tích mà nhà phân tích có thể sử dụng một trong các mực độ phân tích nêu trên. Ví dụ: trong phân tích về công ty, ta có thể sử dụng phương pháp phân tích phi tài chính, đó là đánh giá về bộ máy quản lý doanh nghiệp, về nguồn lực, về khả năng phát triển sản phẩm mới, ….cũng như trong phân tích công ty, nhà phân tích có thể sử dụng cách tiếp cận thường được gọi là phương pháp SWOT, với việc xác định và tập trung vào 4 khía cạnh của công ty: Điểm mạnh (Strengths) Điểm yếu (Weaknesses) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Cơ hội (Opportunities) Thách thức (Threats) Một cách phân tích nhanh về cổ phiếu, nhà đầu tư có thể phân loại cổ phiếu thành 06 loại cơ bản dựa trên tính chất thu nhập mà nó mang lại là: cổ phiếu hàng đầu (blue-chips), cổ phiếu tăng trưởng (ổn định và bùng nổ), cổ phiếu phòng vệ, cổ phiếu chu kỳ, cổ phiếu thời vụ. Riêng trong mức độ cốt lõi nhất và cũng khó khăn nhất là phân tích cổ phiếu, bản chất của phương pháp phân tích cơ bản ở đây là việc định giá cổ phiếu nhằm dự đoán giá trị nội tại của cổ phiếu đó. Với mục tiêu này, thông thường có 04 phương pháp định giá cổ phiếu là: Phương pháp định giá dựa trên luồng cổ tức Phương pháp định giá dựa trên luồng tiền Phương pháp định giá dựa trên hệ số P/E Phương pháp định giá dựa trên tài sản ròng.Phân tích kỹ thuật Là phương pháp dựa vào biểu đồ, đồ thị diễn biến giá cả và khối lượng giao dịch của cổ phiếu nhằm phân tích các biến động cung cầu đối với cổ phiếu để chỉ ra cách ứng xử trước mắt đối với giá cả, tức là chỉ cho nhà phân tích thời điểm nên mua vào, bán ra hay giữ nguyên cổ phiếu trên thị trường.
Nhà phân tích kỹ thuật chủ yếu dựa vào nghiên cứu biến động giá thị trường của cổ phiếu, và tập trung nhấn mạnh vào những biến động về giá và về khối lượng giao dịch cũng như các xu hướng của trong tương lai của cổ phiếu đó. Để thực hiện được phân tích kỹ thuật, cần có các giả định mấu chốt là: Hành vi của bất kỳ cổ phiếu nào, hoặc của cả thị trường cổ phiếu, đều có thể liên quan đến xu hướng diễn biến theo thời gian, trong đó xu hướng là phương hướng chính đi lên hay đi xuống của cổ phiếu (hoặc cả thị trường cổ phiếu) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Biến động giá không phải là ngẫu nhiên mà chúng xảy ra dưới các dạng thức có thể được phân tích để dự đoán biến động tương lai Biến động thị trường được phản ánh tất cả trong giá cổ phiếu Lịch sử được lặp lại do bản chất của con người (nhà đầu tư) là không đổi nên sẽ lặp lại những hành vi giống nhau trước những tình huống tương tự, và điều đó dẫn đến các xu hướng giá cả lặp lại. Để thực hiện phân tích kỹ thuật, nhà đầu tư phải dựa vào hình ảnh các đồ thị, trong đó trục tung biểu thị giá cổ phiếu và trục hoành biểu thị đường thời gian, với nhiều dạng như đồ thị đường thẳng (line chart), đồ thị dạng vạch (bar chart), hoặc đồ thị hình nến (candlestick chart). Thông qua đó, nhà phân tích kỹ thuật sử dụng các chỉ báo phân tích kỹ thuật thông dụng như đường xu thế, kênh xu thế, mức hỗ trợ, mức kháng cự, điểm đột phá, đường trung bình động, chỉ số sức mạnh tương đối, dải Bollinger.
Các phương pháp và công cụ phân tích kỹ thuật được phát triển và trở nên thịnh hành chỉ từ đầu thế kỷ trước với sự nổi bật của lý thuyết Dow (của ông Charles Dow) với các ý tưởng phân tích được đăng tải lần đầu tiên trên tạp chí Wall Street Journal. Lý thuyết Dow đến nay vẫn được coi là nền tảng cho phương pháp phân tích kỹ thuật với các chỉ báo quan trọng nhất. Nhà phân tích kỹ thuật thậm chí có thể phân tích đồ thị mà không cần biết đó là cổ phiếu gì, với điều kiện các thông tin giao dịch là đúng và bao quát một thời gian đủ để họ có thể nghiên cứu các hành vi trên thị trường. Họ có thể mua bán một loại chứng khoán mà không cần biết về công ty, về ngành nghề, về sản phẩm của công ty cung cấp ra thị trường.
Tuy vậy, chỉ những chuyên gia phân tích có kinh nghiệm mới đủ khả năng thực hành các loại giao dịch chứng khoán này. So sánh hai phương pháp Phân tích cơ bản như nêu trên hoàn toàn dựa vào các yếu tố đầu vào và khả năng phân tích mang tính chủ quan. Vì vậy, cùng một cổ phiếu có thể có nhiều kết quả nhận định và phân tích khác nhau, và phân tích cơ bản thường được coi là bỏ qua yếu tố tâm lý đầu tư. Tuy nhiên, phân tích cơ bản là phương pháp hàng đầu và LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com không thể thiếu được trong phân tích đầu tư cổ phiếu và làm cơ sở tương đối vững chắc cho việc ra các quyết định đầu tư.
Về phía phân tích kỹ thuật, do phương pháp này dựa vào diễn biến hành vi của cổ phiếu, nên đó là những công cụ ngắn hạn và không nên được dùng cho phân tích dài hạn. Tuy nhiên, phân tích kỹ thuật cũng thu hút được một số lượng đáng kể nhà đầu tư tin dùng. Ở nhiều nước, các nhà phân tích theo trường phái phân tích kỹ thuật thường hội tụ trong Hiệp hội các nhà phân tích kỹ thuật thị trường (Market Technicians Association) và cũng tổ chức các kỳ thi chuẩn hóa phân tích kỹ thuật theo các chương trình được gọi tên là CMT (Chartered Market Technician). Dưới góc độ đầu tư, việc kết hợp cả hai phương pháp phân tích cơ bản và phân tích kỹ thuật dường như có thể đem lại những kết quả phối hợp tốt nhất.
Điều đó đòi hỏi sự thời gian, sự am hiểu, trình độ phân tích đáng kể của nhà đầu tư và đó là một công việc không thực sự dễ dàng.Phương pháp định giá cổ phiếu Định giá là việc xác định giá trị nội tại hay giá trị hợp lý của doanh nghiệp để phục vụ cho công việc sau: Đưa ra các quyết định đầu tư mua – bán – nắm giữ cổ phiếu; Chia tách, sáp nhập doanh nghiệp; Cổ phần hóa; Phát hành chứng khoán.; Trên thực tế có rất nhiều phương pháp định gía cổ phiếu và mỗi chuyên viên tài chính sử dụng các phương pháp khác nhau thì luôn cho những kết quả khác nhau kể cả sử dụng cùng một phương pháp định giá, do đó dưới góc độ nghiên cứu của chuyên đề này tôi xin trình bày các phương pháp định giá như sau: 1.Phương pháp chiết khấu dòng tiền (DCF). Lý thuyết chiết khấu dòng tiền phát biểu rằng giá trị của tất cả dòng tiền tạo ra tài sản bao gồm từ những thu nhập cố định cho đến các khoản đầu tư đối với toàn bộ LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com doanh nghiệp thực ra chính là giá trị hiện tại của dòng tiền mong đợi trong tương lai được chiết khấu về hiện tại với một chiết khấu hợp lý. Đối với định giá doanh nghiệp thì người ta hay dùng khái niệm dòng tiền tự do. Mức chiết khấu hợp lý đối với doanh nghiệp chính là chi phí sử dụng vốn trung bình (WACC) của chính doanh nghiệp đó.
Công thức thường dùng là: P0 + +……+ + Trong đó: P0: Giá cổ phiếu hiện tại. D: Dòng tiền tự do, tức là cổ tức vào năm thứ i Pn: Giá cổ phiếu vào năm thứ n. r: Lãi suất chiết khấu. Nói cách khác, giá cổ phiếu hiện tại là giá trị quy về hiện tại của toàn bộ cổ tức trong tương lai.
Như vậy, Po được tính theo công thức tổng quát nhu sau: Trong đó: Dt: Dòng tiền năm thứ i r: Lãi suất chiết khấu. Tiến hành thực hiện phương pháp trong thực tế, hoặc ngay cả khi từng định giá 1 vài doanh nghiệp niêm yết thì điều quan trọng nhất khi áp dụng DCF là xác định được tỷ lệ tăng trưởng g (liệu DN sẽ có mức độ tăng trưởng là bao nhiêu, và qua các năm thì sẽ lại khác nhau, số liệu này đa phần là do chủ quan người phân tích, để tính ra được g là bao nhiêu là do cách tính riêng có của mỗi người và không có công thức chuẩn cho nó. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com Với suất chiết khấu, tôi thường lấy bằng lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm tương ứng.