CHƯƠNG 1 ĐẶC ĐIỂM HỆ THỐNG SÔNG VÀ TÌNH HÌNH SẠT LỞ BỜ SÔNG KHU VỰC BẮC TRUNG BỘ 1. Đặc điểm hệ thống sông khu vực Bắc Trung Bộ Khu vực Bắc Trung Bộ gồm các tỉnh: Thanh Hoá, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế có mật độ sông ngòi không lớn. Phần lớn mỗi tỉnh có một hệ thống sông độc lập. Tỉnh Thanh Hoá có hệ thống sông Mã, tỉnh Nghệ An và Hà Tĩnh có hệ thống sông Cả, tỉnh Quảng Bình có sông Gianh, sông Nhật Lệ, tỉnh Quảng Trị có sông Bến Hải, sông Cam Lộ, sông Thạch Hãn, tỉnh Thừa Thiên Huế có hệ thống sông Hương.
Trong đó hai hệ thống sông sông Mã (Thanh Hoá), sông Cả (Nghệ An - Hà Tĩnh) là hai hệ thống sông lớn không chỉ của Bắc Trung Bộ mà còn của cả nước. Các con sông này có ý nghĩa quan trọng đối với phát triển kinh tế của các tỉnh Bắc Trung Bộ. Các hệ thống sông chính khu vực Bắc Trung Bộ 1. Hệ thống lưu vực sông Mã 1.Vị trí địa lý tự nhiên lưu vực và hệ thống sông Toàn bộ lưu vực sông Mã nằm trong toạ độ địa lý: - Từ 22o37’30” độ vĩ Bắc và 105o35’15”độ kinh Đông.
5 - Từ 22o37’30” đến 20o37’30” độ vĩ Bắc. Sông Mã có hai nguồn chính, nguồn thứ nhất từ phía Nam tỉnh Điện Biên (núi Tuần Giáo) chảy theo hướng Tây Bắc - Đông Nam qua huyện Sông Mã của tỉnh Sơn La rồi qua lãnh thổ Lào, nguồn thứ hai bắt đầu từ sườn phía Bambusao. Hai nguồn này đều đổ vào Thanh Hóa qua địa phận tỉnh Sầm Nưa. Tại Thanh Hóa, sông tiếp tục giữ hướng Tây Bắc - Đông Nam hội lưu với sông Chu rồi đổ ra vịnh Bắc Bộ theo 2 nhánh sông (nhánh phía Nam vẫn gọi là sông Mã, nhánh phía Bắc gọi là sông Lèn) ở Lạch Hới (cửa Hới) nằm giữa huyện Hoằng Hóa và thị xã Sầm Sơn cùng Lạch Sung (cửa Sung) nằm giữa huyện Hậu Lộc và Nga Sơn.
Sông Mã có chiều dài dòng chính 512 km, chiều rộng bình quân lưu vực 42km, diện tích lưu vực rộng 28.400 km², phần ở Việt Nam rộng 17.600 km², cao trung bình 762 m. Sông Mã có 39 phụ lưu lớn và 2 phân lưu. Các phụ lưu phát triển đều trên lưu vực. Lưới sông Mã phát triển theo dạng cành cây phân bố đều trên 2 bờ tả và hữu.
Các chi lưu quan trọng của sông Mã là: Nậm Lệ, Suối Vạn Mai, sông Luồng, sông Lò, sông Bưởi, sông Cầu Chày, sông Hoạt, sông Chu. Đặc điểm địa hình Lưu vực sông Mã nên địa hình trên lưu vực rất đa dạng. Hướng dốc chính của địa hình theo hướng Tây Bắc- Đông Nam. Cao độ biến đổi từ 2.
Có thể chia địa hình sông Mã thành 3 dạng chính: - Địa hình núi cao: Dạng địa hình này nằm ở thượng nguồn lưu vực sông: Phía sông Mã từ Bá Thước trở lên thượng nguồn, phía sông Chu từ Cửa Đạt trở lên thượng nguồn thuộc các tỉnh Lai Châu, Sơn La, Thanh Hoá. Độ cao giảm theo hướng Bắc Nam. - Địa hình gò đồi: Dạng địa hình này tập trung chủ yếu ở trên các huyện Thạch Thành, Cẩm Thuỷ, Ngọc Lạc, Triệu Sơn, Thọ Xuân thuộc tỉnh Thanh Hoá, Tân Lạc, Lạc Sơn, Yên Thuỷ (tỉnh Hoà Bình). Dạng địa hình này có cao độ từ 150m đến 20m.
- Địa hình đồng bằng và đồng bằng ven biển: Dạng địa hình này nằm trọn vẹn trong tỉnh Thanh Hoá có cao độ từ +20 ÷ +1. Do sự chia cắt của các sông suối mà tạo nên các vùng đồng bằng có tính độc lập như Vĩnh Lộc (hạ du sông Bưởi); Nam sông Mã - Bắc sông Chu, Bắc sông Lèn, Nam sông Lèn và đặc biệt khu hưởng lợi Nam sông Chu.3 Đặc điểm địa chất Đoạn thượng nguồn dòng chính sông Mã, sông Chu, sông Bưởi là miền trầm tích lục nguyên, các dòng sông đều nằm trên vết đứt gãy sâu. Lòng sông có thềm phủ dày 15÷ 20m, đá Mácma xuất lộ 2 bên bờ sông. Đôi chỗ có xen kẹp đá vôi, lớp phong hoá mỏng, đoạn hạ du sông có nhiều bãi rộng.
Đá gốc nằm sâu. Động đất trong lưu vực sông Mã theo phân vùng của Viện Vật lý Địa Cầu năm 1986 đây là vùng động đất cấp VIII (theo thang độ MSK - 6M). Đặc điểm thủy văn Ở hạ lưu sông Mã độ dốc nhỏ, lòng sông mở rộng nên nước chảy mạnh. Nhưng vì phía trung và thượng lưu nước lũ ác liệt đã ảnh hưởng tới nước lũ ở hạ lưu khá rõ rệt.
Mùa lũ, nước dồn xuống rất mạnh, nước lên nhanh và thường gây ra lũ lụt. Năm 1973 hạ lưu sông Mã đã xuất hiện lũ lịch sử và ở 7 thượng lưu lũ tháng IX/1975 xuất hiện lũ lớn nhất chưa từng xảy ra. Còn lũ đặc biệt lớn xảy ra cùng một thời gian ở hai sông Mã và Chu thì chưa thấy. Sông Mã chủ yếu chảy giữa vùng rừng núi và trung du.
Phù sa sông Mã là nguồn chủ yếu tạo nên đồng bằng Thanh Hóa lớn thứ ba ở Việt Nam. Hệ thống lưu vực sông Cả 1.Vị trí địa lý tự nhiên lưu vực và hệ thống sông Lưu vực sông Cả nằm ở 18o 15’ đến 20o 10’30’’ vĩ độ Bắc, 103o 45’ 20’’ đến 105o15’20’’ kinh độ Đông. Phía bắc giáp sông Chu, sông Bạng, phía Tây giáp lưu vực sông Mê Kông, phía Nam giáp lưu vực sông Gianh, phái đông giáp lưu vực sông Bùng, sông Cấm và biển Đông. Diện tích toàn bộ lưu vực là 27.200 km2, phần diện tích trên đất Việt Nam có 17.730 km2 chiếm 65,2% toàn lưu vực.
Chiều dài dòng chính sông Cả là 531 km, đoạn chảy trên lãnh thổ Việt Nam là 361 km. Lưu vực sông Cả (ảnh vệ tinh Google Earth) Sông Cả không có phân lưu mà chỉ có 44 sông nhánh cấp I (diện tích lưu vực từ 90 km2 trở lên). Trong số sông nhánh lớn đáng chú ý là sông Nậm Mô, sông Hiếu, sông Giăng, sông La. Các nhánh sông thường ngắn và dốc bắt nguồn từ các tâm mưa lớn nên nước lũ tập trung nhanh.
Đặc trưng hình thái lưu vực sông Cả Lưu vực sông DT lvực Độ cao Độ dốc Chiều Mật độ Hệ số Hệ số (km ) b. quân bình quân rộng lưới sông 2 đối hình (m) (km) b.970 960 2,57 38,2 0,22 0,27 Sông Giăng 1. Đặc điểm địa hình Lưu vực sông Cả phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, nghiêng dần ra biển. Toàn bộ vùng thượng nguồn trên đất Lào có độ cao bình quân trên 1000 m.
Dòng chính sông Cả được bắt nguồn từ các dãy núi cao thuộc tỉnh Xiêng Khoảng có độ cao trên 2000m và chạy theo hướng Tây Bắc- Đông Nam cho tới vị trí cách biển 40 km thì chuyển theo hướng Tây - Đông rồi đổ ra biển tại Cửa Hội. Lòng chính sông Cả ổn định, ít bãi bồi; chiều rộng đoạn sông ở thượng nguồn từ 50-60m, phần trung lưu 50-150m, phần hạ du 200-300m và càng mở rộng ra phía cửa biển.Phần thượng nguồn trên đất Lào có độ dốc lòng sông lớn, khi đến Việt Nam thì độ dốc giảm nhiều. Hạ lưu sông Cả từ ngã ba Linh Cảm được gọi là sông Lam có 3 kiểu địa hình tiêu biểu: - Địa hình các dãy núi và khối núi thấp địa luỹ - khối tảng trên các đá trầm tích và xâm nhập - Kiểu đồng bằng bào mòn tích tụ dọc thung lũng địa hào. - Đồng bằng tích tụ rìa võng ven bờ ó nguồn gốc biển thuộc hai huyện Nghi Lộc và Nghi Xuân.
Đặc điểm địa chất 9 Toàn bộ lưu vực sông Cả thuộc 2 đới kiến tạo chính là đới kiến tạo sông Cả và đới oằn võng Sầm Nưa, ngoài ra còn có đới nâng Phu Hoạt. - Phía Bắc vùng nghiên cứu thuộc đới nâng Phu Hoạt. - Từ Nghĩa Đàn trở xuống gần dòng chính sông Cả thuộc đới oằn vòng Sầm Nưa. - Phần tiếp theo còn lại thuộc đới kiến tạo sông Cả.
Phương cấu tạo của các đới kiến tạo nhìn chung đều phát triển theo hướng Tây Bắc - Đông Nam, có một phần nhỏ chuyển hướng Đông Bắc - Tây Nam (dưới Nghĩa Đàn). Đặc điểm thuỷ văn Sự hoạt động mạnh của gió mùa Tây Nam và gió Tín Phong đã gây ra đã gây ra những trận mưa lớn vào đầu mùa mưa và hình thành lũ, thường gọi là lũ tiểu mãn như trận lũ tháng 5/1989 và 5/1943. Có những năm mưa tiểu mãn muộn hơn xuất hiện vào tháng 6 gây ra những trận lũ sớm (tháng 6/1958). Từ tháng 7 trở đi, khi mà hoạt động của các hình thế thời tiết mạnh lên, nhất là sự xuất hiện của các trận bão lớn ở biển Đông đổ vào miền Bắc làm ảnh hưởng tới lưu vực sông Cả gây mưa lớn và đã sinh ra lũ đầu mùa khá lớn, nhất là vùng thượng nguồn sông Cả, sông Hiếu như các trận lũ tháng 7/1963; 7/1971.
Sang tháng 9 hoặc tháng 10 do hoạt động mạnh lên của các hình thể thời tiết gây mưa, nhất là bão, áp thấp, không khí lạnh, đã gây ra các trận mưa có cường độ và lượng mưa lớn xảy ra trên diện rộng tạo ra những con lũ rất lớn như lũ tháng 9/1978; tháng 10/1988. Hệ thống sông tỉnh Quảng Bình Quảng Bình có hệ thống sông suối khá lớn với mật độ 0,8 - 1,1 km/km2. Có năm sông chính tính từ Bắc vào Nam là: sông Ròn, sông Gianh, sông Dinh sông Lý Hoà và sông Nhật Lệ. Sơ đồ hệ thống sông tỉnh Quảng Bình 1.
Sông Gianh Sông Gianh còn gọi là sông Linh Giang là một con sông chảy trên địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ khu vực ven núi Cô Pi cao 2.017 m thuộc dãy Trường Sơn, chảy dọc phía Nam dãy Hoành Sơn qua địa phận các huyện Minh Hóa, Tuyên Hoá, Quảng Trạch để đổ ra biển Đông ở Cửa Gianh. Sông có chiều dài khoảng 160 km, diện tích lưu vực 4.680 km2-, độ cao trung bình 360 m, độ dốc trung bình 19,2%, Mùa lũ từ tháng 9 đến tháng 11, chiếm khoảng 60-75% lượng dòng chảy hàng năm. Dòng cát bùn khoảng 1,93x105 tấn/năm, ứng với độ đục trung bình năm 192g/m và hệ số xâm thực 168 tấn/km năm. Sông Nhật Lệ Sông Nhật Lệ chảy qua địa phận tỉnh Quảng Bình, bắt nguồn từ núi U Bò, Co Roi (Trường Sơn) chảy ra Biển Đông tại cửa Nhật Lệ.
Sông có chiều dài 85 km với hai nhánh chính: sông Long Đại (hay Đại Giang) dài 77km bắt nguồn từ Cuội - góc Tây - Nam tỉnh Quảng Bình, chảy ngược về hướng Đông Bắc, chảy qua huyện Quảng Ninh ngang qua Phong Lộc thì đổi hướng chính Bắc và sông Kiến Giang dài 58 km, bắt nguồn từ chân núi 1001 chảy qua huyện Lệ Thủy, gặp nhau ở ngã ba Trần Xá - Trung Quán.