Luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng phân tích ứng xử kết cấu nằm trên nền dốc khi chịu tải trọng động đất

Luận văn thạc sĩ phân tích ứng xử kết cấu xây dựng trên nền dốc dưới tác động tải trọng động đất, đánh giá hiệu quả và độ ổn định công trình.

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

luận văn thạc sĩ

2014

102
2
0

Phí lưu trữ

35 Point

Tóm tắt

I. Phân tích ứng xử kết cấu trên nền dốc

Luận văn tập trung vào phân tích ứng xử kết cấu của các công trình xây dựng trên nền dốc khi chịu tác động của tải trọng động đất. Nghiên cứu này nhằm đánh giá sự khác biệt trong phản ứng của công trình trên nền dốc so với nền phẳng. Các mô hình không gian đặc trưng được xây dựng để mô phỏng các dạng công trình phổ biến trên nền dốc. Kết quả cho thấy, công trình trên nền dốc có xu hướng xoắn và phân bố nội lực không đều, đặc biệt ở các tầng cao. Điều này làm tăng nguy cơ hư hỏng khi xảy ra động đất.

1.1. Mô hình hóa công trình trên nền dốc

Các mô hình công trình trên nền dốc được xây dựng dựa trên hình khối thực tế và mô phỏng bằng phần mềm chuyên dụng. Nghiên cứu sử dụng các giản đồ gia tốc để phân tích phản ứng của công trình dưới tác động của các trận động đất khác nhau. Kết quả cho thấy, công trình trên nền dốc có chu kỳ dao động và chuyển vị đỉnh lớn hơn so với công trình trên nền phẳng. Điều này làm nổi bật sự cần thiết của việc áp dụng các giải pháp giảm chấn hiệu quả.

1.2. So sánh với công trình trên nền phẳng

Nghiên cứu so sánh ứng xử kết cấu của công trình trên nền dốcnền phẳng. Kết quả chỉ ra rằng, công trình trên nền dốc có xu hướng xoắn mạnh hơn, đặc biệt ở các tầng cao. Lực cắt và momen xoắn phân bố không đều, dẫn đến nguy cơ hư hỏng cao hơn. Điều này đòi hỏi các giải pháp thiết kế đặc biệt để đảm bảo an toàn cho công trình trên nền dốc.

II. Tải trọng động đất và hệ cản nhớt

Luận văn đề xuất sử dụng hệ cản nhớt (VFD) để giảm tác động của tải trọng động đất lên công trình trên nền dốc. Các phương án bố trí hệ cản được mô phỏng và đánh giá hiệu quả. Kết quả cho thấy, hệ cản nhớt giúp giảm đáng kể chuyển vị đỉnh và lực cắt trong các cột công trình. Điều này làm tăng khả năng kháng chấn và đảm bảo an toàn cho công trình.

2.1. Hiệu quả của hệ cản nhớt

Nghiên cứu mô phỏng các phương án bố trí hệ cản nhớt (VFD) trên công trình trên nền dốc. Kết quả cho thấy, hệ cản nhớt giúp giảm chuyển vị đỉnh và lực cắt trong các cột công trình. Hiệu quả của hệ cản phụ thuộc vào vị trí và số lượng bố trí. Các phương án bố trí hệ cản trên các tầng cao cho thấy hiệu quả tốt hơn trong việc giảm momen xoắn và lực cắt.

2.2. Phương án bố trí hệ cản

Luận văn đề xuất các phương án bố trí hệ cản nhớt (VFD) trên công trình trên nền dốc. Các phương án được đánh giá dựa trên hiệu quả giảm chấn và tính khả thi trong thực tế. Kết quả cho thấy, bố trí hệ cản trên các tầng cao giúp giảm đáng kể momen xoắn và lực cắt. Điều này làm tăng khả năng kháng chấn và đảm bảo an toàn cho công trình.

III. Ứng dụng thực tiễn và kết luận

Luận văn đưa ra các khuyến nghị về thiết kế và bố trí hệ cản nhớt (VFD) cho công trình trên nền dốc. Các kết quả nghiên cứu có thể áp dụng vào thực tế, đặc biệt ở các vùng có địa hình dốc như Tây Bắc và ven biển. Nghiên cứu này góp phần nâng cao hiểu biết về ứng xử kết cấu của công trình trên nền dốc và cung cấp giải pháp hiệu quả để giảm thiểu tác động của tải trọng động đất.

3.1. Khuyến nghị thiết kế

Luận văn đưa ra các khuyến nghị về thiết kế công trình trên nền dốc để tăng khả năng kháng chấn. Các giải pháp bao gồm bố trí hệ cản nhớt (VFD), tối ưu hóa hình dáng công trình và sử dụng vật liệu phù hợp. Các khuyến nghị này có thể áp dụng vào thực tế, đặc biệt ở các vùng có địa hình dốc như Tây Bắc và ven biển.

3.2. Kết luận và hướng phát triển

Luận văn kết luận rằng, phân tích ứng xử kết cấu của công trình trên nền dốc là cần thiết để đảm bảo an toàn khi xảy ra tải trọng động đất. Nghiên cứu này cung cấp giải pháp hiệu quả bằng cách sử dụng hệ cản nhớt (VFD). Hướng phát triển trong tương lai bao gồm nghiên cứu sâu hơn về các loại hệ cản khác và ứng dụng công nghệ mới trong thiết kế công trình trên nền dốc.

21/02/2025
Luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng phân tích ứng xử kết cấu nằm trên nền dốc khi chịu tải trọng động đất

Trích đoạn nội dung tài liệu

CHƯƠNG I GIỚI THIEU Trong quá trình thiết kế các công trình chéng động đất hay tác dung của tải gid, hình khối công trình thường đóng góp một vai trò quan trọng đến khả năng chịu lực của công trình. Giải pháp đưa ra thường là sử dụng các hình khối đối xứng trục như hình vuông, chữ nhật hay hình tròn. vì có khả năng chịu động đất tốt hơn các hình khác. Tuy vậy, do yêu cau kiến trúc và điều kiện mặt bằng nên giải pháp này không phải lúc nào cũng được đáp ứng.

Quá trình đô thị hóa khiến cho tài nguyên đất bằng phăng dành cho xây dựng ngày một khan hiếm. Đặc điểm canh tác, phong tục tập quán sinh sống lâu đời của dân cư ở vùng đổi núi và việc khai thác vẽ đẹp cảnh quan phục vụ du lịch ở những địa phương có đôi núi men theo bờ biến vốn rat pho biến ở nước ta là những nguyên nhân chính tạo nên những ngôi nhà dựa trên những sườn đổi dốc. Nhưng việc nghiên cứu khả năng chống động đất cho những loại hình công trình nảy thì ít được đề cập nghiên cuu. Qua các nghên cứu [1-4] đối với công trình trên nền đất dốc, có sự phản ứng khác biệt so với công trình được xây dựng trên nên dat phăng.

Theo đó,nội lực phân bố không đều từ dưới lên trên, xuất hiện sự xoắn trong kết cau ngay ở những mode dao động cơ bản do tính không đối xứng của công trình. Dé tài này với mục đích là nghiên cứu phản ứng khi xảy ra động đất của những công trình dạng đặc biệt này và tiền hành điều khiển phản ứng của kết cau băng các hệ cản, từ đó rút ra những khuyến cáo khi thiết kế các công trình dạng này. CHƯƠNG II TONG QUAN NGHIÊN CỨU 2. Tình hình nghiên cứu ngoài nước Trên thế giới đã có những công trình nghiên cứu dạng nhà trên sườn dốc tuy nhiên sô lượng các bai báo không nhiêu có thê kê dén dưới day.

Gade [2] Nghiên cứu những công trình ở sườn dốc, theo dõi phản ứng các công trình này trong trận động đất tại Sikkim và ngày 18 tháng 9 năm 2011. Sau quá trình nghiên cứu phân tích bài báo rút ra có sự phản ứng khác lạ của công trình trên sườn dốc. Khi so sánh với công trình trên nền đất phăng có sự khác biệt lớn giữa các tần số dao động cơ bản, chuyển vị ngang tương đối giữa các tầng, lực cắt ở các cột và sự hình thành các khớp dẻo. Những tầng ở ngay trên cao độ mặt đường thường dễ bị phá hoại hơn khi xảy ra động đất.

Nghiên cứu cũng được chứng minh hợp lý bằng thực tế trong trận động đất tại Sikkim. Những công trình trên sườn dốc thường có hình dạng kết câu đặc biệt dựa vào địa hình, không liên tục và bất đối xứng cả về phương dọc lẫn phương ngang. Khi bị tác động bởi tải theo phương ngang thì công trình dễ xảy ra hiện tượng xoăn, hơn nữa các cột ngăn ở phía trên thì càng nguy hiém boi lực cat. Sau khi phân tích, bai báo đã trích dẫn các hình ảnh thực tế từ trận động đất Sikkim, Ấn Độ ngày 18 tháng 9 năm 2011.

Qua quá trình quan sát, công trình bê tông cốt thép kiểu S-I bị sụp một cách khác thường. Các cột ở tầng thứ 6 bị sụp hoàn toàn còn các bộ phận ở các tang khác đều nguyên vẹn (Hình 1).Tang thứ 6 bị sụp của tòa nhà trong trận động dat Sikkim 18-9-2011 Kết luận của Y. Gade cho thay dạng phá hoại đặc biệt của kiểu công trình trên sườn dốc và đặc biệt khác với những kiểu nhà được xây trên nên đất phăng. Khi chịu tải phương ngang, kết câu dễ bị xoắn, những cột nào càng ngăn thì phải chịu lực cắt càng lớn.

Tại những vi trí mà độ cứng thay đổi luôn tập trung nguy hiểm. Từ so sánh với thực tế công trình 10 tầng trong trận động đất Sikkim nhận thấy những phân tích ở trên là khá phù hợp với phản ứng kết cầu dạng này trong thực tế. Nalawade[1] Nghiên cứu 24 công trình bê tông cốt thép tại khu vực đổi núi vùng đông bắc An Độ với ba hình dạng co bản cao 15. Minh chứng qua các trận động đất (Kangra (1905), Bihar- Nepal (1934 & 1980), Assam (1950), Tokachi-Oki-Japan (1968), Uttarkashi-India (1991)), những ngôi nhà như thé nay đã bi phá hủy nghiêm trọng.

Nguyên nhan được phân tích là tam cứng không trùng tâm khối lượng nên gây ra xoắn công trình. Từ đó bài báo này rút ra lời khuyên sử dụng kiểu dáng nhà như thế nào là tốt nhất. Ba kiểu nhà như trên (Hình 2, Hình 3, Hình 4) sau: 70m , 70m , 70m, T + † + 3. C > Length3 @7m 7, a (STEP 4) (STEPS) Height Height hơn rÊR 7@35m 8 @ 35m G.L Length 3 @ 7m Cc D Length 3 @ 7m C D Length 3 @ 7m C D (STEP 6) (STEP 7) (STEP 8) i H ‘ 4 Height — H pee 11 @ 3.L Length 3 @ 7m Cc D Length 3 @ 7m là D Lenath 3 @ 7m c D (STEP 9) (STEP 10) (STEP 11) Hình 2.

Kiéu 1- STEP (step back buildings) 4-11 tang. Tum, 70m, 7m, 70m, 7m ia aie’ Fae NT a @. kn À 335m ñ 35m C Ain Higis@isn =o itm, lạnh 5m Sm E F (STPSET 4) (STPSET 5) el alt & I y + T4 40 1% 4 t test? Ø 13m i mares A ` k. c lanh @ Am © E b i Lag Ø2 ° kL lœ.

FG G i H Sướng cm? kowyssbid ca os | i | a | La 2 13 4. | BA h Fi làtd# WO ASN b Hi 11 © 35m , lan erm ” , 4 Logs @ † r Lawn lem # Gh G 5 hị GL _—— x "¡iH= "Ee K = @sawtrna K + Sram reer iy Hinh 3. Kiéu 2- STPSET (step back set back buildings) 4-11 tang. ee —“~—? | ism 3m —— > — = _ tL TD F q.

3m a _ ỉ T _—+ ¢ 34 D _ Boe } j In 4 B A B C DE F (SET 4) (SETS) 5m Ea «| a. 4 R b ‡ + 4 h b k F € iit Lawh6o mm Lah? @mn aT am IxSm ‡ ‡ 4 lam «| ca. a | | Lie ` 4 b ¿è F t tt ' a pew C 0ñ & £ & h j Laws - Yn Lay? G2 ar s19 + nm. 4 pl a bô & F GCG Ht } Ok A 8 D Fk F G HT KO Lawh om Lena om rip Hinh 4.

Kiéu 3-SET (set back buildings) 4-11 tang. Building Size of Column Size of Beam Configuration Step Back | for STEP 4&STEP5 230 mm x 500 mm Buildings STEP6&STEP7 230 mm x650 mm 230 mm x 500 mm STEP8&STEP9 300 mm x650 mm STEP 10 & STEP 11 300 mm x 850 mm Step Back and STPSET 4to STPSET 11 Set Back building 230 mm x 500 mm 230 mm x 500 mm Set Back building SET 4to SET 11 230 mm x 500 mm. 230 mm x 500 mm Bảng 1. Kích thước hình học các kiểu nhà.

Các giả thiết tính toán đặt ra như sau: Vật liệu là đồng nhất và đăng hướng dàn hồi: module đàn hồi 25000N/mmF; hệ số Poisson 0.2; bỏ qua ảnh hưởng P-A, sự co ngót, từ biến. Sử dung SI: 1893(1)-2002 với ving Zone (IID thu được các kết quả với môi kiêu công trình như sau. - Kiểu I- STEP (step back buildings): Theo phương dọc, chuyển vi tăng dan cùng với chiều cao, nhà càng nhiêu tang thì chu kỳ càng lớn, càng về phía phải thì lực cắt càng tăng dan, những cột bên phải chỉ chịu lực cắt khoảng từ 5-7% so với những cột bên trái. Theo phương ngang, ảnh hưởng của hình khối trở nên rõ hơn.

Momen xoăn tăng dan từ 4kNm đến 61kNm. Chu kỳ dao động theo thương này cũng lớn hơn phương dọc. - Kiéu 2- STPSET (step back set back buildings): Theo phương dọc, chu ky dao động thay đối từ 0.499s khi tính theo pho phan ứng và 0.143s khi sử dụng phương pháp phân tích tĩnh. Lực cắt ở các tầng ít chênh lệch nhau trên cùng một trục.

Lực cat lớn nhất tập trung ở cột ngoài cùng bên trái từ 86-103kKN. Những cột ngoài cùng bên phải chịu ít lực cắt nhất; Theo phương ngang, lực cat theo phương nay bé hơn, chu kỳ không phụ thuộc nhiều vào số tầng của tòa nhà. Khi thiết kế kiểu nhà này cần chú ý đến tải tác dụng theo phương dọc vì chuyển vị phương này khá lớn, gấp 3.8-4 lần phương ngang. - Kiéu 3-SET (step back set back buildings): Theo phương dọc, chu kỳ thay đổi 0.857s theo phương pháp phổ phản ứng và 0.2083s theo IS:1893(I)- 2002, lực cat ở ngoài cùng bên trái và ngoài cùng bên phải là bé nhất; Theo phương ngang, theo IS:1893(1)-2002 không có sự thay đổi chu kỳ giữa 8 tòa nhà này.

Chuyển vị đỉnh theo phương ngang gấp 3.5 lần chuyền vị đỉnh theo phương dọc. Sau khi phân tích ba kiểu nhà trên B. Nalawade đã tiến hành so sánh như sau. Kiểu 1- STEP có lực cắt không đồng đều và momen xoăn lớn hon so với kiểu 2- STPSET do bị lệch tâm cứng.

Kiểu 2 lực cắt chân cột và độ cứng theo phương ngang lại lớn hơn so với kiểu 3 —SET. Nalawade đưa ra những kết luận sau: - Những công trình xây kiểu | thì dé bị phá hoại nhất. Moment xoăn công trình kiểu | lớn hơn kiểu 2 vì vậy kiểu 2 có khả năng chịu động đất tốt hơn. - _ Ở công trình kiểu | và kiểu 3, những cột ngắn thường chịu momen lớn nhất.

7 - Tuy công trình kiểu 3 ít bị phá hoại nhất nhưng cần phải có mặt bang tốt, không phù hợp với vùng đất dốc hoặc phải tốn kinh phí san lap mặt băng. Vì vậy lựa chọn kiểu 2 để xây dựng là phù hợp với thực tế. Ngoài ra còn có một số bài báo khác nói về dạng công trình trên sườn dốc như của S. Paul[4] nghiên cứu về một phương pháp đơn giản để tính cho những nhà trên sườn đốc, ưu điểm của bài báo này là xây dựng ma trận độ cứng và ma trận khối lượng, với nha hai nhịp trở lên.

Tuy vay vẫn chưa nêu nỗi bật sự khác biệt của công trình dạng sườn dốc so với công trình bình thường khác.Liu[3] Phân tích cho công trình gỗ trên nền dốc. Tso[5]sử dụng phương pháp đây dan dé phân tích kết cấu có độ cứng thay đối theo chiều cao. Phương pháp nay có thé áp dụng ngay cả với kết cau bị xoăn, chỉ phân tích phi tuyến với một số phan tử can thiết được tính toán qua chuyền vị, cải thiện kết quả tính toán cho dạng nhà có độ cứng thay đối.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ

Phân Tích Ứng Xử Kết Cấu Trên Nền Dốc Dưới Tải Trọng Động Đất - Luận Văn Thạc Sĩ Xây Dựng là một nghiên cứu chuyên sâu về hành vi của kết cấu xây dựng trên nền đất dốc khi chịu tác động của tải trọng động đất. Tài liệu này cung cấp những phân tích chi tiết về các yếu tố ảnh hưởng đến độ ổn định của công trình, từ đó đề xuất các giải pháp thiết kế và gia cố phù hợp. Đây là nguồn tài liệu quý giá cho các kỹ sư xây dựng, nhà nghiên cứu và sinh viên chuyên ngành, giúp nâng cao hiểu biết về ứng xử kết cấu trong điều kiện địa chất phức tạp và tải trọng động đất.

Để mở rộng kiến thức về các giải pháp xử lý nền đất và kết cấu, bạn có thể tham khảo thêm Luận văn thạc sĩ chuyên ngành địa kỹ thuật xây dựng nghiên cứu lựa chọn thông số thiết kế cọc đất xi măng xử lý nền đường ở sóc trăng trà vinh ứng dụng cho đường vào cầu c16 khu kinh tế định an, hoặc Luận văn thạc sĩ chuyên ngành kỹ thuật xây dựng công trình thủy nghiên cứu ứng dụng cọc xi măng đất gia cố nền công trình xây dựng trên địa bàn thành phố hội an quảng nam. Ngoài ra, Luận văn thạc sĩ kỹ thuật xây dựng phân tích phi tuyến hình học khung thép phẳng nửa cứng chịu tải trọng động bằng phần tử đồng xoay cũng là một tài liệu hữu ích để hiểu rõ hơn về ứng xử kết cấu dưới tải trọng động.