Tổng quan nghiên cứu

Chính sách bảo hiểm y tế giữ vai trò trụ cột trong hệ thống an sinh xã hội quốc gia, hướng tới mục tiêu bao phủ toàn dân với tỷ lệ đạt 90,85% dân số vào cuối năm 2020 theo Nghị quyết số 01 của Chính phủ và Nghị quyết số 21 của Bộ Chính trị. Nguồn thu từ bảo hiểm y tế hiện chiếm từ 70% đến 90% tổng nguồn thu của các cơ sở y tế công lập, bảo đảm chi phí trực tiếp phục vụ người bệnh. Tuy nhiên, tình trạng vượt trần dự toán và bị từ chối thanh toán một phần chi phí điều trị đang tạo ra áp lực tài chính rất lớn, đặc biệt đối với các đơn vị thực hiện cơ chế tự chủ hoàn toàn như Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai với quy mô 120 giường bệnh và 115 cán bộ nhân viên.

Nghiên cứu này được thực hiện nhằm mô tả cơ cấu thanh quyết toán chi phí khám chữa bệnh bảo hiểm y tế và phân tích chuyên sâu các nhóm nguyên nhân dẫn đến từ chối thanh toán tại Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai trong toàn bộ năm 2020. Phạm vi nghiên cứu bao quát toàn bộ các hồ sơ đề nghị quyết toán nội trú và ngoại trú với tổng giá trị đề nghị thanh toán lên đến 27.791.459.000 đồng. Kết quả ghi nhận cơ quan bảo hiểm xã hội đã chấp thuận thanh toán 27.177.094.000 đồng, đạt tỷ lệ 97,79%, và từ chối thanh toán số tiền 614.365.000 đồng, tương ứng tỷ lệ 2,21%. Trong đó, khu vực ngoại trú chiếm tỷ trọng xuất toán cao hơn với 343.009.000 đồng, chiếm 55,80% tổng giá trị từ chối, còn khu vực nội trú ghi nhận 271.356.000 đồng, chiếm 44,20%. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm quan trọng giúp các nhà quản lý y tế nhận diện rõ các điểm nghẽn hành chính và chuyên môn, từ đó thiết lập các giải pháp kiểm soát thất thoát doanh thu hiệu quả.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Nghiên cứu xây dựng trên nền tảng lý thuyết kinh tế y tế và các mô hình quản trị chi phí khám chữa bệnh của Tổ chức Y tế Thế giới. Về phương thức chi trả, ba cơ chế thanh toán chính được phân tích bao gồm: thanh toán theo phí dịch vụ thực tế phát sinh, thanh toán theo định suất trên đầu thẻ bảo hiểm y tế đăng ký, và thanh toán trọn gói theo nhóm trường hợp bệnh chẩn đoán. Mỗi phương thức đều mang những ưu điểm về khuyến khích cung ứng dịch vụ nhưng đồng thời tiềm ẩn rủi ro lạm dụng chỉ định cận lâm sàng hoặc gia tăng ngày điều trị không cần thiết.

Về quy trình quản lý, hoạt động giám định bảo hiểm y tế được định nghĩa là việc cơ quan bảo hiểm xã hội kiểm tra tính hợp pháp, hợp lý của thủ tục hành chính, chỉ định lâm sàng, danh mục thuốc, vật tư y tế và giá dịch vụ kỹ thuật. Khi phát hiện các khoản chi sai quy định, cơ quan bảo hiểm thực hiện từ chối thanh toán bằng cách loại bỏ chi phí ra khỏi quyết toán. Phương pháp giám định theo tỷ lệ được áp dụng theo nguyên tắc chọn ngẫu nhiên tối thiểu 30% tổng số hồ sơ với giá trị chiếm từ 25% đến 35% tổng chi phí đề nghị thanh toán trong kỳ, sau đó áp tỷ lệ sai sót này cho toàn bộ các hồ sơ còn lại. Hệ thống căn cứ pháp lý cốt lõi bao gồm Thông tư số 30/2018/TT-BYT về danh mục và tỷ lệ thanh toán thuốc hóa dược, Thông tư số 35/2016/TT-BYT về điều kiện thanh toán dịch vụ kỹ thuật, Thông tư số 39/2018/TT-BYT và Thông tư số 15/2018/TT-BYT quy định thống nhất giá dịch vụ khám chữa bệnh, cùng Thông tư số 52/2017/TT-BYT về quy chế kê đơn thuốc ngoại trú.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu áp dụng thiết kế mô tả cắt ngang hồi cứu toàn bộ dữ liệu khám chữa bệnh diễn ra từ ngày 01/01/2020 đến hết ngày 31/12/2020 tại Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai. Cỡ mẫu nghiên cứu chọn theo phương pháp điều tra toàn bộ, thu thập 100% hồ sơ đề nghị thanh toán và hồ sơ bị từ chối thanh toán phát sinh trong năm 2020, bao gồm 108.322 lượt kê đơn thuốc ngoại trú và 5.226 lượt hồ sơ điều trị nội trú. Phương pháp chọn mẫu toàn bộ được lựa chọn nhằm triệt tiêu sai số chọn mẫu, phản ánh chính xác bức tranh tài chính và cơ cấu sai sót của bệnh viện.

Nguồn dữ liệu được trích xuất trực tiếp từ phần mềm quản lý thông tin bệnh viện, bảng kê thanh toán chi phí điều trị tại phòng Tài chính Kế toán, biên bản giám định định kỳ của Bảo hiểm Xã hội tỉnh Đồng Nai và báo cáo chuyên môn của phòng Kế hoạch Tổng hợp. Các biến số nghiên cứu được chuẩn hóa thành hai nhóm: nhóm biến số cơ cấu chi phí gồm 8 hạng mục chi phí điều trị và nhóm biến số phân loại nguyên nhân từ chối chi trả. Dữ liệu được làm sạch, mã hóa theo danh mục phân loại bệnh tật quốc tế ICD-10 và phân tích bằng phần mềm Microsoft Excel thông qua các công cụ lọc nâng cao, hàm tổng phụ và liên kết đối chiếu dữ liệu. Phương pháp phân tích thống kê mô tả, phân tích tỷ trọng cơ cấu và phương pháp so sánh tương đối, tuyệt đối được áp dụng để làm rõ bản chất các sai lệch tài chính.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Tổng hợp cơ cấu thanh quyết toán năm 2020 cho thấy tỷ lệ thanh toán thành công của toàn bệnh viện đạt 97,79%, trong khi tỷ lệ từ chối thanh toán chiếm 2,21% với tổng giá trị 614.365.000 đồng. Tỷ lệ xuất toán có sự phân hóa rõ rệt giữa các nhóm chi phí điều trị:

  • Nhóm phẫu thuật, thủ thuật và dịch vụ kỹ thuật khác ghi nhận tỷ lệ từ chối thanh toán cao nhất toàn viện với 4,08%, tương ứng số tiền 175.057.000 đồng bị xuất toán trên tổng số 4.290.638.000 đồng đề nghị thanh toán.
  • Nhóm chi phí xét nghiệm cận lâm sàng đứng thứ hai về tỷ lệ từ chối với 3,28%, tương đương 129.063.000 đồng bị loại bỏ trên tổng số 3.940.618.000 đồng đề nghị. Tỷ lệ xuất toán xét nghiệm ở khu vực ngoại trú đạt 3,41% với 106.736.000 đồng, cao hơn khu vực nội trú ở mức 2,75% với 22.327.000 đồng.
  • Nhóm chi phí khám bệnh ghi nhận tỷ lệ từ chối 2,68%, tương ứng 78.070.000 đồng, trong đó 100% sai sót phát sinh tại khu vực ngoại trú, khu vực nội trú đạt tỷ lệ thanh toán tuyệt đối 100%.
  • Nhóm tiền ngày giường bệnh nội trú bị từ chối thanh toán 2,15%, gây thất thoát 77.771.000 đồng trên tổng số 3.616.995.000 đồng đề nghị.
  • Nhóm chẩn đoán hình ảnh và thăm dò chức năng bị từ chối 1,80%, tương đương 49.058.000 đồng, tập trung chủ yếu ở ngoại trú với 41.981.000 đồng chiếm tỷ lệ 1,99%.
  • Nhóm chi phí thuốc chiếm tỷ trọng ngân sách lớn nhất với 10.272.518.000 đồng đề nghị thanh toán. Dù tỷ lệ từ chối thanh toán chỉ ở mức 1,01%, giá trị tiền bị xuất toán lại đứng ở mức rất cao với 104.139.000 đồng, trong đó ngoại trú chiếm 94.382.000 đồng và nội trú chiếm 9.757.000 đồng.
  • Nhóm vật tư y tế và chi phí vận chuyển có mức thất thoát thấp nhất. Chi phí vật tư y tế chỉ bị từ chối 119.000 đồng, đạt tỷ lệ thanh toán 99,48%, trong khi chi phí vận chuyển bệnh nhân nội trú đạt 8.623.000 đồng được thanh toán, mức từ chối không đáng kể.

Phân tích nguyên nhân gốc rễ cho thấy các lỗi kỹ thuật và hành chính chiếm ưu thế. Đối với dịch vụ kỹ thuật nội trú, nguyên nhân áp sai giá giữa kỹ thuật gây tê sang mức giá gây mê chiếm tới 66,70% tổng giá trị xuất toán của nhóm, tương ứng 30.200.000 đồng. Đối với ngày giường nội trú, lỗi thanh toán ngày giường sai quy định chiếm 73,56% tương ứng 57.208.000 đồng. Đối với thuốc nội trú, 48,68% chi phí bị từ chối xuất phát từ việc chỉ định không đúng điều kiện thanh toán theo Thông tư số 30/2018/TT-BYT, điển hình như thuốc Flunarizin và Piracetam dạng tiêm, cùng 37,38% do kê đơn không phù hợp chẩn đoán như dùng Alphachymotrypsin trong chống viêm thông thường.

Tại khu vực ngoại trú, lỗi công khám không phù hợp do tính phí hai phòng khám cùng chuyên khoa chiếm 71,67% chi phí khám bệnh bị từ chối, tương ứng 55.950.000 đồng. Đối với xét nghiệm ngoại trú, việc thực hiện sai quy chế chuyên môn chiếm 63,27% tương ứng 67.530.000 đồng và chỉ định xét nghiệm HbA1c sai quy định chiếm 36,73% tương ứng 39.206.000 đồng. Đối với dịch vụ kỹ thuật ngoại trú, nguyên nhân dịch vụ đã kết cấu trong giá của kỹ thuật khác chiếm 45,29% tương ứng 58.750.000 đồng. Đối với chẩn đoán hình ảnh ngoại trú, việc thiếu chữ ký xác nhận của người bệnh trên phiếu chụp chiếm tới 50,40% tương ứng 21.157.000 đồng. Đối với thuốc ngoại trú, lỗi vi phạm thông tư hướng dẫn chiếm 48,05% tương ứng 50.039.000 đồng trên 356 hồ sơ sai phạm, lỗi kê đơn không phù hợp chẩn đoán chiếm 29,79% tương ứng 31.023.000 đồng trên 237 hồ sơ.

Thảo luận kết quả

Dữ liệu nghiên cứu phản ánh mối tương quan phức tạp giữa áp lực chuyên môn lâm sàng và các rào cản tuân thủ quy chế hành chính bảo hiểm y tế. Các kết quả phân tích có thể được mô hình hóa trực quan thông qua biểu đồ hình tròn thể hiện cơ cấu nguồn thu và biểu đồ Pareto phân tầng các nhóm nguyên nhân gây xuất toán chính, kết hợp bảng ma trận so sánh chéo giữa chi phí nội trú và ngoại trú.

Khi đối chiếu với công trình nghiên cứu của tác giả Ngô Thanh Thông thực hiện tại Trung tâm Y tế huyện Phú Giáo năm 2017, có thể nhận thấy nhiều điểm tương đồng và khác biệt mang tính thời kỳ. Tại Trung tâm Y tế huyện Phú Giáo, lỗi vượt tuyến chiếm tỷ trọng cao nhất với 22,32% và lỗi vật tư y tế không được thanh toán riêng chiếm 45,19% do việc áp dụng các quy định mới chưa kịp thời. Trong khi đó, tại Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai năm 2020, lỗi vật tư y tế đã được kiểm soát rất tốt, chỉ chiếm 0,52% với 119.000 đồng bị xuất toán nhờ chuẩn hóa danh mục tiêu hao. Tuy nhiên, sự xuất hiện của các văn bản mới như Thông tư số 39/2018/TT-BYT và Thông tư số 30/2018/TT-BYT lại làm phát sinh các điểm nóng mới về áp giá gây tê và điều kiện hạn chế chỉ định thuốc chuyên khoa.

Sự bất cập trong quy định mã hóa dùng chung toàn quốc và việc thiếu cập nhật phạm vi hoạt động chuyên môn đã khiến nhóm dịch vụ kỹ thuật bị từ chối tới 175.057.000 đồng. Tình trạng bác sĩ kê đơn thuốc bao vây như chỉ định Omeprazol để phòng ngừa loét dạ dày không đúng tiêu chuẩn, chỉ định Ginkgo biloba cho các chứng đau đầu không rõ nguyên nhân, hay kết hợp đồng thời hai thuốc chống viêm phản ánh thói quen điều trị chưa bám sát danh mục bảo hiểm. Hơn nữa, việc bệnh nhân ngoại trú không ký xác nhận phim X-quang gây mất 21.157.000 đồng chứng minh lỗ hổng nghiêm trọng trong khâu kiểm soát thủ tục hành chính tại khoa Cận lâm sàng.

Đề xuất và khuyến nghị

Dựa trên các phát hiện thực nghiệm, nghiên cứu đưa ra 4 nhóm giải pháp chiến lược nhằm tối ưu hóa công tác thanh quyết toán và hạn chế thất thoát tài chính:

  • Thiết lập quy trình kiểm soát chỉ định thuốc và cận lâm sàng tự động: Ban Giám đốc chỉ đạo Hội đồng Thuốc và Điều trị phối hợp với khoa Dược cài đặt bộ lọc cảnh báo tự động trên phần mềm quản lý bệnh viện. Hệ thống cần chặn các chỉ định vi phạm Thông tư số 30/2018/TT-BYT đối với các thuốc hạn chế như Flunarizin, Glucosamin, Piracetam tiêm và tự động cảnh báo tương tác kê đơn trùng lặp hai thuốc chống viêm. Mục tiêu đặt ra là cắt giảm tối thiểu 80% số lượng hồ sơ kê đơn thuốc sai quy chế chuyên môn trong vòng 3 tháng đầu triển khai.
  • Chuẩn hóa quy trình kỹ thuật và hoàn thiện hồ sơ bệnh án: Phòng Kế hoạch Tổng hợp phối hợp với các khoa lâm sàng và cận lâm sàng rà soát lại toàn bộ danh mục dịch vụ kỹ thuật, phân định chính xác mã giá giữa thủ thuật gây tê và phẫu thuật gây mê theo đúng Thông tư số 39/2018/TT-BYT. Khoa Cận lâm sàng phải ban hành quy chế bắt buộc kiểm tra chữ ký xác nhận của bệnh nhân trước khi hoàn tất hồ sơ chụp X-quang và nội soi, đặt mục tiêu triệt tiêu 100% lỗi xuất toán do thiếu thủ tục hành chính trong vòng 1 tháng.
  • Nâng cấp cấu hình hệ thống công nghệ thông tin y tế: Tổ Công nghệ thông tin phối hợp phòng Tài chính Kế toán cập nhật phiên bản phần mềm quản lý bệnh viện, tích hợp thuật toán kiểm tra tính hợp lệ của công khám ngoại trú. Hệ thống cần tự động khóa chức năng tính phí khám thứ hai nếu bệnh nhân chuyển khám giữa hai phòng khám có cùng chuyên khoa và giới hạn số ngày giường nội trú vượt định mức phê duyệt. Kế hoạch hoàn thành cấu hình phần mềm trong thời hạn 2 tháng.
  • Đào tạo liên tục và thiết lập cơ chế tự giám định nội viện định kỳ: Phòng Tổ chức Cán bộ chủ trì tổ chức các lớp tập huấn hàng quý cho 100% đội ngũ gồm 24 bác sĩ và 48 điều dưỡng về các quy định thanh toán bảo hiểm y tế mới ban hành. Đồng thời, thành lập Tổ Giám định bảo hiểm y tế nội bộ trực thuộc Ban Giám đốc để tiến hành kiểm tra ngẫu nhiên 30% hồ sơ bệnh án trước khi đẩy dữ liệu lên cổng thông tin giám định, cam kết duy trì tỷ lệ từ chối thanh toán chung toàn viện dưới mức 0,5% trong năm kế tiếp.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung và dữ liệu thực chứng của luận văn mang lại giá trị tham khảo thực tiễn cao cho 4 nhóm đối tượng chính:

  • Ban Giám đốc và cán bộ quản lý bệnh viện tuyến huyện, bệnh viện hạng ba: Cung cấp khung phương pháp nhận diện các rủi ro tài chính và cơ chế thất thoát doanh thu từ bảo hiểm y tế, hỗ trợ hoạch định chiến lược tự chủ tài chính bền vững và phân bổ nguồn lực hiệu quả.
  • Dược sĩ phụ trách quản trị dược bệnh viện và dược sĩ lâm sàng: Cung cấp dữ liệu chi tiết về 773 hồ sơ thuốc ngoại trú và 223 hồ sơ thuốc nội trú bị từ chối thanh toán, làm cơ sở xây dựng danh mục thuốc đấu thầu sát nhu cầu điều trị và thiết lập quy trình duyệt đơn thuốc hợp lý theo các thông tư của Bộ Y tế.
  • Bác sĩ điều trị và nhân viên y tế tại các khoa lâm sàng, cận lâm sàng: Giúp nắm vững các lỗi sai sót chuyên môn thường gặp như áp sai mã thủ thuật gây tê, kê trùng nhóm thuốc kháng viêm, hay chỉ định xét nghiệm HbA1c sai hướng dẫn, từ đó nâng cao ý thức tuân thủ quy chế hồ sơ bệnh án.
  • Học viên sau đại học, nghiên cứu sinh chuyên ngành Tổ chức Quản lý Dược và Quản lý Y tế: Tài liệu cung cấp phương pháp luận chuẩn mực về phân tích hồi cứu dữ liệu bảo hiểm y tế, quy trình xử lý số liệu lớn bằng phần mềm quản lý và kinh nghiệm xây dựng các biến số nghiên cứu định lượng.

Câu hỏi thường gặp

  • Nguyên nhân nào khiến chi phí thuốc bị từ chối thanh toán cao nhất về mặt giá trị tuyệt đối? Chi phí thuốc bị từ chối tới 104.139.000 đồng xuất phát từ việc vi phạm điều kiện thanh toán theo Thông tư số 30/2018/TT-BYT với 50.039.000 đồng ở ngoại trú và 4.750.000 đồng ở nội trú. Các bác sĩ thường chỉ định thuốc điều trị triệu chứng như Flunarizin, Glucosamin, Alphachymotrypsin và Piracetam không đúng chẩn đoán xác định hoặc kê đơn trùng lặp hai hoạt chất kháng viêm cùng lúc.

  • Tại sao việc phân loại giữa phẫu thuật gây tê và gây mê lại dẫn đến tỷ lệ xuất toán dịch vụ kỹ thuật nội trú lên tới 66,70%? Khoa lâm sàng thực tế thực hiện kỹ thuật bằng phương pháp gây tê cục bộ nhưng khi lập bảng kê đề nghị quyết toán lại áp mã giá chi phí theo phẫu thuật gây mê toàn thân quy định tại Thông tư số 39/2018/TT-BYT. Sự chênh lệch đơn giá lớn giữa hai kỹ thuật này đã khiến cơ quan bảo hiểm xã hội xuất toán tới 30.200.000 đồng trên tổng số 45.273.000 đồng chi phí dịch vụ kỹ thuật nội trú bị từ chối.

  • Lỗi hành chính nào tại khu vực ngoại trú dễ khắc phục nhưng lại gây thất thoát tài chính lớn cho bệnh viện? Lỗi thiếu chữ ký xác nhận của người bệnh sau khi thực hiện dịch vụ chẩn đoán hình ảnh tại khoa Cận lâm sàng gây thất thoát 21.157.000 đồng, chiếm 50,40% tổng số tiền bị từ chối của nhóm này. Đây hoàn toàn là sơ suất trong khâu tiếp đón và hoàn thiện thủ tục hành chính của kỹ thuật viên, có thể khắc phục triệt để bằng việc kiểm soát phiếu chỉ định.

  • Quy trình giám định theo tỷ lệ của cơ quan Bảo hiểm Xã hội vận hành như thế nào và tác động ra sao đến nguồn thu bệnh viện? Giám định viên trích xuất ngẫu nhiên tối thiểu 30% tổng số hồ sơ bệnh án trên hệ thống phần mềm để kiểm tra chi tiết tính hợp lệ. Tỷ lệ sai sót phát hiện được trong mẫu giám định sẽ được tính toán theo từng nhóm chi phí và nhân quy đổi để giảm trừ thanh toán trên toàn bộ 70% số lượng hồ sơ còn lại trong kỳ quyết toán, làm gia tăng đáng kể số tiền bị xuất toán nếu bệnh viện để xảy ra các lỗi mang tính hệ thống.

  • Bệnh viện hạng ba thực hiện tự chủ tài chính cần ưu tiên kiểm soát khâu nào để giảm thiểu rủi ro xuất toán bảo hiểm y tế? Bệnh viện cần tập trung kiểm soát hai khâu then chốt gồm cấu hình kiểm tra tự động trên phần mềm quản lý bệnh viện để loại bỏ lỗi công khám trùng chuyên khoa, đồng thời tăng cường giám sát việc tuân thủ Thông tư số 30/2018/TT-BYT và Thông tư số 39/2018/TT-BYT nhằm ngăn chặn việc kê đơn thuốc không đúng chỉ định và áp sai mã giá dịch vụ kỹ thuật.

Kết luận

  • Năm 2020, Bệnh viện Đa khoa Cao su Đồng Nai đề nghị thanh toán 27.791.459.000 đồng, được chấp thuận 27.177.094.000 đồng đạt 97,79% và bị từ chối thanh toán 614.365.000 đồng chiếm 2,21%.
  • Chi phí điều trị ngoại trú chiếm tỷ trọng thất thoát lớn hơn với 343.009.000 đồng tương ứng 55,80% tổng giá trị từ chối thanh toán toàn viện.
  • Nhóm dịch vụ kỹ thuật và xét nghiệm có tỷ lệ bị từ chối thanh toán cao nhất, lần lượt đạt 4,08% với 175.057.000 đồng và 3,28% với 129.063.000 đồng.
  • Nhóm thuốc ghi nhận số tiền bị xuất toán tuyệt đối rất lớn lên đến 104.139.000 đồng, chủ yếu do kê đơn không phù hợp điều kiện chỉ định và chẩn đoán bệnh.
  • Các nguyên nhân từ chối chi trả chủ yếu bắt nguồn từ việc chậm cập nhật thông tư y tế mới, sai sót mã hóa phần mềm và thiếu sót thủ tục ký nhận hồ sơ hành chính.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là cung cấp bức tranh toàn cảnh định lượng về cơ cấu thanh quyết toán bảo hiểm y tế tại một bệnh viện đa khoa hạng ba đang trong lộ trình tự chủ tài chính hoàn toàn. Trong giai đoạn 6 đến 12 tháng tiếp theo, bệnh viện cần khẩn trương số hóa toàn diện quy trình kiểm duyệt hồ sơ và thành lập tổ giám định chuyên trách để bảo vệ an toàn nguồn thu y tế. Các nhà quản trị bệnh viện và chuyên viên phụ trách bảo hiểm y tế cần chủ động nghiên cứu, ứng dụng ngay các khuyến nghị từ công trình này để nâng cao năng lực quản lý tài chính và chất lượng phục vụ người bệnh.