đặt vấn đề, đây cũng là nơi giao thoa giữa các môn xã hội học về nghệ thuật, về văn hóa, truyền thông đại chúng, xuất bản, dịch thuật. Nhờ đối thoại thường xuyên với các nhà văn học sử, nên môn này cũng có những nhãn giới nghiên cứu gần gũi với xu hướng nghiên cứu về giới cũng như xu hướng nghiên cứu hậu thuộc địa [57, tr. Nói một cách tổng quát, sở dĩ môn xã hội học văn chương quan tâm tới các thể loại văn chương như anh hùng ca (hay sử thi), văn chương dân gian, thơ ca, kịch hay tiểu thuyết là vì hai lẽ sau đây: một mặt, những thể loại văn chương này thường mang dấu ấn của nền văn hóa mà trong đó chúng được sáng tác và được đọc hoặc nghe; và mặt khác, chúng kiến tạo nên những vũ trụ tưởng tượng (hay vũ trụ hư cấu) vốn tuân theo lô-gic nội tại của mình. Như vậy, đối tượng của môn xã hội học văn chương là khảo sát và nghiên cứu về cả hai khía cạnh ấy, khía cạnh xã hội và khía cạnh văn chương, cũng như các mối quan hệ đa diện giữa hai khía cạnh này.
Môn xã hội học văn chương, theo Trần Hữu Quang thường có những hướng nghiên cứu quan trọng như sau [57]: Hướng nghiên cứu đầu tiên là tìm cách tái hiện thế giới xã hội đã được trình bầy trong tác phẩm. Người ta thường làm điều này chẳng hạn đối với các tiểu thuyết theo xu hướng hiện thực (của Balzac, Maupassant, Zola ở Pháp; hay Nguyễn Công Hoan, Ngô Tất Tố, Nam Cao ở Việt Nam), hay kể cả với thể loại bi kịch cổ điển (như các vở kịch của Corneille) mà nhờ đó người ta có thể tái hiện diện mạo của một thế giới chính trị cụ thể với những xung đột, hệ thống tôn ti thứ bậc, các qui tắc, luật lệ, giá trị, những cuộc thương lượng và giằng co. Lối tiếp cận này coi tác phẩm văn chương như một khối tư liệu phong phú có ý nghĩa về mặt xã hội học. Hướng nghiên cứu kế tiếp là tìm cách trả lời cho một câu hỏi xã hội học chính yếu sau đây: đâu là những mối quan hệ giữa các thực tại xã hội của thời đại với các sản phẩm văn chương? Nhiều công trình đã đi theo quan điểm lý thuyết mác-xít khi nghiên cứu về những mối quan hệ giữa các cấu trúc xã hội với các nội dung văn chương.
Một hướng nghiên cứu khác là không chỉ khảo sát những mối quan hệ giữa các hình thái xã hội với nội dung văn chương, mà còn tìm hiểu mối quan hệ giữa các hình thái xã hội với các thể loại văn chương, cách lựa chọn ngôn ngữ thể hiện, và các phong cách hành văn. Một hướng nữa là nghiên cứu xã hội học về các nhà văn, vị trí xã hội cũng như vai trò thực tế của họ trong xã hội đương thời. Đây cũng là một lãnh vực nghiên cứu quan 13 trọng vì vị trí của các nhà văn thường thay đổi một cách lớn lao qua các thế kỷ. Chẳng hạn vào thời kỳ lãng mạn của thế kỷ 19, người ta thấy xuất hiện vai trò nổi bật của giới nghệ sĩ khi họ đảm nhiệm sứ mệnh miêu tả và tố cáo thực trạng xã hội (Balzac, Zola) hay sứ mệnh hướng dẫn tư tưởng cho cả giới trí thức lẫn giới bình dân (Hugo).
Việc khảo sát về các hệ thống sản xuất và phân phối cũng là một hướng nghiên cứu đem lại nhiều kết quả đáng chú ý. Mạng lưới các nhà xuất bản, các ấn phẩm, các tờ báo và tạp chí, với tất cả các chủ trương và các phương tiện tài chánh của mình, có thể tạo điều kiện, thúc đẩy, lèo lái hoặc ngăn trở việc công bố các tác phẩm văn chương. Những biện pháp kiểm duyệt khác nhau cũng có thể can thiệp vào đây một cách hết sức đa dạng, theo các tiêu chuẩn thương mại, chính trị, tôn giáo hoặc đạo đức, tùy từng trường hợp cụ thể. Lãnh vực phân phối và phát hành cũng thường phải tuân theo lô-gic thương mại trong tình thế cạnh tranh giữa các nhà xuất bản, tuân theo lô-gic của những định chế chính đáng hóa, khả năng tài chánh của bộ phận quảng cáo.
Thông qua khái niệm “trường văn chương”, Bourdieu từng đề nghị nghiên cứu các tác giả, các nhà phê bình và các bộ máy “tấn phong” như một trường tự trị với những qui tắc chính đáng hóa và ưu biệt hóa riêng của nó (Pierre Bourdieu, Các qui tắc của nghệ thuật). Nguồn gốc sinh thành và cấu trúc của trường văn chương. Cuối cùng là hướng nghiên cứu về độc giả, về sự lựa chọn, thị hiếu, và thói quen đọc sách báo của họ. Điều này ngày nay càng quan trọng khi mà nền văn hóa đại chúng ngày càng tạo ra một không gian mông mênh cho lãnh vực sản xuất văn chương.
Lãnh vực xã hội học này đề cập tới những vấn đề như: cách thức tập luyện và làm quen với việc đọc sách báo văn chương, quá trình xã hội hóa thông qua việc đọc, những hiệu ứng của sự sản xuất và sự tiêu thụ các sản phẩm văn chương. Lãnh vực nghiên cứu này cũng quan tâm tới hiệu ứng xã hội của các thể loại văn chương, các lối văn phong, các chủ đề hư cấu, cũng như quan tâm tới vai trò quan trọng của các phương tiện truyền thông đại chúng trong khâu lựa chọn và khâu phân phối các sản phẩm văn chương [57, tr. Giữa văn chương và xã hội học, người ta thấy từng có những mối liên hệ xung khắc hay cạnh tranh nhau, nhưng cũng thường trao đổi và thâm nhập hòa lẫn vào nhau [57, tr. Văn chương thường quan tâm tới đời sống xã hội dưới nhiều góc cạnh đa dạng.
Với những bức tranh xã hội sống động và sắc sảo như của Balzac hay Flaubert, truyền thống hiện thực trong văn chương Pháp ngay từ cuối thế kỷ 18 đã đi vào mô tả nền phong hóa của những tầng lớp xã hội khác nhau (từ quí tộc đến tiện dân và tư sản), những nhóm nghề nghiệp (nhà báo, giới y tế, giới chứng khoán.), những định chế như hôn nhân, gia đình, nhà trường, hay những sự biến đổi của xã hội và những hiện tượng di động xã hội [57, tr. Như vậy, văn chương là một nỗ lực của con người “nhằm hiểu được kinh nghiệm xã hội của mình”. Nếu văn chương mô tả những kinh nghiệm xã hội đặc thù, không mang tính chất đại diện cho toàn bộ từng tầng lớp hay toàn bộ xã hội, thì có thể nói môn 14 xã hội học văn chương thường quan tâm tới những xu thế tổng quát của quá trình phát triển văn chương hơn là tới từng tác giả cụ thể. Việc phân tích những tác giả cụ thể nào đó có thể giúp chúng ta hiểu biết về những kinh nghiệm xã hội đặc thù của họ, nhưng việc khảo cứu về những nguồn gốc xã hội của xu hướng hiện thực và xu hướng hiện đại trong văn chương chẳng hạn lại có thể cho phép chúng ta đi đến những kết luận tổng quát hơn.
Nếu văn học có thể tận dụng được lối tiếp cận xã hội học để hiểu sâu hơn vào nội dung văn bản văn chương, thì ngược lại, xét về phía xã hội học, ngành này cũng có thể đạt được nhiều cái lợi khi nghiên cứu về văn chương. Điểm thứ nhất, xã hội học không thể tự cho mình cái độc quyền tìm ra sự thật của xã hội; văn chương có một khả năng to lớn là giúp cho nhà xã hội học trở nên nhạy cảm hơn đối với xã hội nói chung và những phản ứng của các cá nhân trong xã hội nói riêng. Thứ hai, “trí tưởng tượng văn chương” (literary imagination) là một điều hết sức đáng trân trọng, bởi lẽ nó có khả năng khảo sát và đi vào chiều sâu những cảm nghĩ và xúc cảm thực tế của các cá nhân. Thứ ba, nếu bằng chứng văn chương được sử dụng một cách đúng đắn (tức là được sử dụng như một “vật sở chỉ xã hội” chứ không phải như một “vật phản ánh xã hội”), thì nhiều khi nó đem lại những thông tin sắc sảo về những vấn đề cụ thể nào đó mà người ta không thể tìm được qua bất cứ kênh nào khác.
Và cuối cùng, điểm thứ tư, bằng chứng mà văn chương cung cấp có thể mang lại một lối lý giải hết sức tổng hợp và toàn diện: những cuốn tiểu thuyết mà trong đó nhà văn Conrad khảo sát những thân phận cá nhân đơn độc thường kết thúc bằng cái chết có lẽ mang lại cho chúng ta một cách nhìn sâu sắc và trọn vẹn hơn về thực tại cảm xúc của con người so với những công trình xã hội học của Durkheim về hiện tượng tự tử hay về tình trạng “phi chuẩn mực” hay mất phương hướng của cá nhân trong xã hội [57, tr.6] Ngược với giả định cho rằng tác phẩm nghệ thuật hoàn toàn độc lập với xã hội và không hề chịu sự chi phối hay tác động gì bởi xã hội (như quan niệm lãng mạn coi nghệ sĩ là “người sáng tạo” thuần túy), và cũng trái với lối tiếp cận duy hình thức (formalism) hoặc lối tiếp cận duy văn bản, môn xã hội học văn chương quan niệm rằng văn chương là một hoạt động xã hội luôn luôn phụ thuộc vào những hoàn cảnh sản xuất tác phẩm và tiêu thụ tác phẩm, đồng thời cũng thường gắn liền với những giá trị, với một thế giới quan hay nhân sinh quan nhất định nào đó. Do vậy, khi khảo cứu về mối quan hệ giữa văn bản với bối cảnh xã hội, môn này thường bao hàm cả hai vế: phân tích nội tại và phân tích ngoại tại. Việc phân tích nội tại tập trung vào cấu trúc của tác phẩm. Còn việc phân tích ngoại tại thì chú trọng tới bối cảnh xã hội và chức năng xã hội của tác phẩm.
Các khuynh hướng nghiên cứu xã hội học văn học ở Việt Nam Trước khi ra đời môn xã hội học văn chương, cũng đã có không ít tác giả và công trình đề cập tới những ý tưởng liên quan tới ảnh hưởng xã hội của văn chương cũng như mối quan hệ giữa văn chương với xã hội. Lý thuyết này được hình thành từ thực tế nghiên cứu đời sống văn học Pháp nửa 15 cuối thế kỉ XIX. Vì vậy, khi áp dụng vào thực tế văn chương Việt Nam, chắc chắn cần những điều chỉnh nhất định. Được tiếp nhận một cách khoa học, lí thuyết này sẽ có thể là một công cụ hữu hiệu giải quyết vấn đề mà chúng tôi đặt ra, đồng thời cũng có thể góp phần tìm hiểu văn chương Việt Nam đương đại, cụ thể là góp phần lí giải vị thế xã hội mà văn chương đã có và đang có.