phần mở đầu, kết luận, danh mục bảng biểu, sơ đồ, danh mục các tài liệu tham khảo và Phụ lục thì kết cấu của luận văn bao gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1: Lý luận cơ bản về trả lƣơng cho lao động gián tiếp trong doanh nghiệp. Chƣơng 2: Thực trạng trả lƣơng cho lao động gián tiếp tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn. Chƣơng 3: Giải pháp nhằm hoàn thiện việc trả lƣơng cho lao động gián tiếp tại Công ty cổ phần xi măng Vicem Bút Sơn. 8 CHƢƠNG 1 LÝ LUẬN CƠ BẢN VỀ TRẢ LƢƠNG LAO ĐỘNG GIÁN TIẾP TRONG DOANH NGHIỆP 1.
Một số khái niệm 1. Lao động Lao động là sự tiêu dùng sức lao động trong hiện thực. Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con ngƣời nhằm tạo các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu của đời sống xã hội. Lao động gián tiếp, phân loại lao động gián tiếp và vị trí lao động gián tiếp trong doanh nghiệp 1.
Lao động gián tiếp Lao động gián tiếp là bộ phận lao động tham gia một cách gián tiếp vào quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Lao động gián tiếp bao gồm những ngƣời chỉ đạo, phục vụ và quản lý kinh doanh trong doanh nghiệp. Phân loại lao động gián tiếp và vị trí của lao động gián tiếp trong doanh nghiệp - Lao động gián tiếp là lãnh đạo, quản lý trong doanh nghiệp: Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc, Giám đốc, Phó Giám đốc, Trƣởng phòng, Phó Trƣởng phòng, Quản đốc, Phó quản đốc, … - Lao động gián tiếp làm công tác chuyên môn, phục vụ: Kỹ sƣ điện, Kỹ sƣ công nghệ thông tin, Kỹ sƣ Silicát, Nhân viên kỹ thuật, nhân viên quản lý kinh tế, nhân viên quản lý hành chính, nhân viên lao động tiền lƣơng, … - Lao động gián tiếp làm công tác kinh doanh nhƣ: nhân viên thị trƣờng, nhân viên bán hàng, … 1. Tiền lương Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau về tiền lƣơng: 9 Theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO - International Labour Orgazination), tiền lƣơng (salary) là số tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động theo một số lƣợng nhất định không căn cứ vào số giờ làm việc thực tế, thƣờng đƣợc trả theo tháng hoặc nửa tháng.
Theo từ điển kinh tế thị trƣờng “Tiền lƣơng là tiền trả hàng tháng cho một nhân viên làm việc trong văn phòng hay nhân viên quản lý”. Định nghĩa này mới chỉ đề cập đến nhóm lao động hay đối tƣợng lao động là nhân viên văn phòng, nhân viên quản lý hay đối tƣợng lao động gián tiếp mà chƣa đề cấp đến nhóm đối tƣợng lao động trực tiếp sản xuất. Mặt khác tiền lƣơng không phải nhất thiết phải trả theo tháng, có thể trả theo tuần, nửa tháng tùy theo thỏa thuận của ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động. Với cách hiểu này về tiền lƣơng, có thể thấy trách nhiệm của ngƣời mua sức lao động là chủ yếu vì tiền lƣơng mà họ phải trả chứ chƣa nói lên đƣợc những gì mà họ nhận đƣợc hay nói cách khác định nghĩa chƣa nói lên trách nhiệm của ngƣời lao động đối với ngƣời sử dụng lao động trong việc mua và bán sức lao động.
“Tiền lƣơng là giá cả của sức lao động, đƣợc hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa ngƣời lao động với ngƣời sử dụng lao động thông qua hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng phù hợp với quan hệ cung - cầu sức lao động trên thị trƣờng lao động và phù hợp với các quy định tiền lƣơng của pháp luật lao động. Tiền lƣơng đƣợc ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động một cách thƣờng xuyên, ổn định theo tháng hoặc nửa tháng. Tiền công là số tiền ngƣời thuê lao động trả cho ngƣời lao động để thực hiện một khối lƣợng công việc hoặc trả cho một thời gian làm việc (thường theo giờ), 10 trong những hợp đồng thỏa thuận thuê nhân công phù hợp với quy định của pháp luật lao động và pháp luật dân sự về thuê mƣớn lao động” [23,tr. Theo quy định tại Điều 55 Bộ Luật lao động nƣớc Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt nam khóa XIII kỳ họp thứ 3 thông qua ngày 18 tháng 6 năm 2012 thì “Tiền lƣơng của ngƣời lao động do hai bên thỏa thuận trong hợp đồng lao động và đƣợc trả theo năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả công việc.
Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Nhà nƣớc quy định”. Tại Điều 56 Bộ Luật lao động ghi “Mức lƣơng tối thiểu đƣợc ấn định theo giá sinh hoạt, đảm bảo cho ngƣời lao động làm công việc đơn giản nhất trong điều kiện lao động bình thƣờng có thể bù đắp sức lao động giản đơn và một phần tích lũy tái sản xuất sức lao động, mở rộng và đƣợc dùng làm căn cứ để tính các mức lƣơng cho các loại lao động khác”. Qua đó có thể thấy, mức lƣơng tối thiểu là một trong những căn cứ quan trọng buộc ngƣời sử dụng lao động phải quan tâm khi tiến hành trả lƣơng cho ngƣời lao động. Mức lƣơng tối thiểu đƣợc Nhà nƣớc bảo hộ bằng pháp luật, chống lại sự bóc lột quá mức đối với ngƣời lao động, hạn chế phân hóa xã hội về thu nhập, tuy nhiên đây cũng chính là nguyên nhân làm giảm tính linh hoạt của thị trƣờng lao động bởi tiền lƣơng cũng phải tuân theo quy luật cung cầu lao động, là sự mặc cả sòng phẳng giữa ngƣời sử dụng lao động và ngƣời lao động hay giữa những ngƣời đi mua hoặc thuê sức lao động và những ngƣời bán sức lao động.
Theo quan điểm của tác giả, có thể hiểu tiền lƣơng là số tiền mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động sau khi đã hoàn thành một số lƣợng hoặc khối lƣợng công việc theo thỏa thuận. Tiền lƣơng bao gồm tiền lƣơng danh nghĩa và tiền lƣơng thực tế: 11 Tiền lƣơng danh nghĩa có thể đƣợc hiểu là số lƣợng tiền tệ mà ngƣời sử dụng lao động trả cho ngƣời lao động căn cứ vào hợp đồng lao động bằng văn bản hoặc bằng miệng. Tiền lƣơng thực tế đƣợc hiểu là số lƣợng hàng hóa dịch vụ mà ngƣời lao động có thể mua đƣợc từ tiền lƣơng danh nghĩa mà họ nhận đƣợc. Trên thực tế, số tiền mà ngƣời lao động nhận đƣợc từ việc cung ứng sức lao động của mình đều là tiền lƣơng danh nghĩa bởi ngƣời sử dụng lao động trả lƣơng cho ngƣời lao động bằng tiền chứ không trả bằng số lƣợng tƣ liệu sinh hoạt, tƣ liệu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ.
Tiền lƣơng danh nghĩa và tiền lƣơng thực tế có mối quan hệ mật thiết với nhau. Tuy nhiên không phải ở bất cứ nơi đâu và bất cứ thời điểm nào tăng tiền lƣơng danh nghĩa tỷ lệ thuận với tăng tiền lƣơng thực tế mà phải xét đến yếu tố chỉ số giá cả hàng hóa dịch vụ tiêu dùng (CPI). Nếu tăng tiền lƣơng danh nghĩa mà CPI không đổi hoặc giảm thì tiền lƣơng thực tế đã tăng lên một cách tƣơng đối và ngƣợc lại. Thực tế những năm qua cho thấy, khi Chính phủ có sự điều chính tiền lƣơng danh nghĩa thì tốc độ tăng của giá cả hàng hóa dịch vụ cũng tăng theo, do đó đôi khi việc tăng tiền lƣơng danh nghĩa nhằm cải thiện và nâng cao đời sống ngƣời lao động nếu không đƣợc tính toán kỹ có khi mang lại tác dụng ngƣợc.
Trả lƣơng cho lao động gián tiếp tại doanh nghiệp 1. Trả lương cho lao động quản lý lãnh đạo Theo Điều 8 Nghị định 51/2013/NĐ-CP thì việc trả lƣơng, thù lao, tiền thƣởng cho lao động là quản lý, lãnh đạo nhƣ sau: - Tiền lƣơng, thù lao, tiền thƣởng đƣợc trả cho viên chức quản lý gắn với mức độ đóng góp vào hiệu quả sản xuất, kinh doanh và kết quả quản lý, điều hành của viên chức quản lý theo quy chế trả lƣơng, thù lao, tiền thƣởng của công ty. 12 - Quy chế trả lƣơng, thù lao, tiền thƣởng đƣợc xây dựng theo quy định của pháp luật, bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch, có sự tham gia của Ban Chấp hành công đoàn cơ sở và có ý kiến chấp thuận của chủ sở hữu trƣớc khi thực hiện. - Đối với trƣờng hợp Chủ tịch Hội đồng thành viên chuyên trách hoặc Chủ tịch công ty chuyên trách kiêm Tổng giám đốc hoặc Giám đốc thì chỉ đƣợc nhận tiền lƣơng của một chức danh cao nhất.
Trả lương cho lao động làm công tác chuyên môn, phục vụ Theo Bộ luật Lao động, tiền lƣơng trả cho ngƣời lao động căn cứ vào năng suất lao động, chất lƣợng và hiệu quả công việc. Mức lƣơng của ngƣời lao động không đƣợc thấp hơn mức lƣơng tối thiểu do Chính phủ quy định. Mức lƣơng tối thiểu đƣợc xác định, căn cứ vào nhu cầu tối thiểu của ngƣời lao động và gia đình ngƣời lao động, vào điều kiện kinh tế xã hội, mức tiền công trên thị trƣờng lao động và đƣợc Chính phủ xác định theo từng thời kỳ. Trả lƣơng cho đội ngũ lao động làm công tác chuyên môn, phục vụ thƣờng dựa trên hệ thống thang bảng lƣơng theo chức vụ và vị trí công việc đƣợc ấn định cứng, kèm theo hệ thống tiền thƣởng và các tiêu chí khấu trừ lƣơng thích hợp.
Trả lương cho lao động làm công tác kinh doanh Hiện nay, đối với các nhân viên kinh doanh, hình thức trả lƣơng theo doanh số đang rất thịnh hành. Cách trả lƣơng này tạo động lực cho nhân viên làm việc hết mình, bán đƣợc nhiều sản phẩm thì lƣơng càng cao. Đây cũng là một hình thức đƣợc khá nhiều doanh nghiệp trẻ Việt Nam áp dụng. Nhìn chung, dù có áp dụng cách thức nào, hệ thống thang bảng lƣơng của doanh nghiệp cần đáp ứng đƣợc ba yêu cầu: cân bằng trong nội bộ, phân cấp ngạch bậc và cạnh tranh với thị trƣờng.
Tiền lƣơng có vai trò rất quan trọng đối với ngƣời lao động, nhân viên sẽ làm việc hiệu quả nhất khi họ nhận 13 đƣợc một mức lƣơng xứng đáng với công sức họ bỏ ra. Vì thế, để có thể hợp tác về lâu về dài, các doanh nghiệp có thể giảm bớt chút lợi nhuận của bản thân và thay vào đó là tăng thêm thu nhập cho nhân viên.