Chương 1 TỎNG QUAN 1. Tổng quan tài liệu nghiên cứu 1. Các nghiên cứu nước ngoài Ghosh (2022) đã thực nhiện nghiên cứu nhằm đánh giá những thành công và thất bại trong quá trình chuyền đổi năng lượng diễn ra xung quanh công viên năng lượng mặt trời Pavagada ở Karnataka, An Độ. Kết quả cho thay mô hình chuyên đổi năng lượng này đã gây ra sự bất bình đẳng giới và giai cấp, đặc biệt là đối với những người lao động nông nghiệp không có đất, những người đã mat nguồn sinh kế.
Ablo và cộng sự (2018) đã xem xét các tác động của việc thu hồi đất cho một nhà máy chế biến khí đốt tại Atuabo đối với sinh kế của những người nông dân bị ảnh hưởng. Nghiên cứu đã đánh giá mức độ mà những người nông dân bị ảnh hưởng, việc xác định khoản bồi thường được trả cho họ và đánh giá ảnh hưởng của gói bồi thường đến sinh kế của người dân. Nghiên cứu này đã sử dụng cách tiếp cận sinh kế và dữ liệu được thu thập từ phỏng van, quan sát, nghiên cứu trường hợp và các cuộc thảo luận không chính thức. Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng sự tham gia của nông dân vào quá trình đền bù không nằm ngoài việc xác định và đo lường trang trại của họ.
Với sự tham gia hạn chế vào quá trình thu hồi và đền bù, người nông dân cảm thay bị tước đoạt quyền lợi và coi việc đền bu là không thỏa đáng đối với sinh kế bị mất và tài sản thừa kế của thế hệ sau. Sayatham và cộng sự (2015) đã lấy dự án thủy điện Nậm Mang 3 làm nghiên cứu điển hình nhằm xem xét tác động của việc phát triển thủy điện đối với các hộ nông dan có tai sản và nguồn lực sinh kế khác nhau, và cách mà họ đã ứng phó với những tác động này như thé nào. Gắn kết việc thay đổi tài sản sinh kế với các kết qua sinh kê, tác giả đã xem xét các yêu tô hạn chê sự thích ứng với sinh kê và cách những yêu t6 này định hình chiến lược của các hộ gia đình nông thôn để đối phó với các tác động kinh tế xã hội và môi trường từ phát triển thủy điện. Kết quả cho thấy mặc dù việc thay thé tài sản nói chung có thé cải thiện sinh kế của người dân, nhưng khả năng tiếp cận đất đai vẫn tiếp tục đóng một vai trò quan trọng trong quá trình tái tạo sinh kế và định hình các kết quả sinh kế.
Kusiluka và cộng sự (2011) đã xem xét tác động tiêu cực của các chương trình thu hồi đất đối với sinh kế và môi trường của cộng đồng bản địa. Nghiên cứu được thực hiện tại bốn phường bao gồm các vùng ngoại ô của Thành phố Morogoro và một số khu vực của khu bảo tồn rừng núi Uluguru. Nghiên cứu sử dụng các kỹ thuật Đánh giá đô thị có sự tham gia (PUA) và các quan sát trực tiếp của các nhà nghiên cứu đã được sử dụng dé thu thập dir liệu chính cho nghiên cứu. Kết quả cho thay các chương trình thu hôi đất trong khu vực nghiên cứu có tác động tiêu cực đến sinh kế của người dân bản địa và môi trường.
Một số vấn đề được ghi nhận bao gồm mất đất, mất phương tiện sinh kế, gián đoạn các hoạt động kinh tế, xung đột dai dang liên quan đến đất đai, và tái định cư đến các khu vực kém phát triển, đền bù không đầy đủ và chậm trễ, và suy thoái môi trường. Bất đồng trong việc thực hiện các quy định của pháp luật về thu hồi đất được ghi nhận là một trong những nguyên nhân chính dẫn đến các tranh chấp liên quan đến thu hồi đất. Trình độ học van thấp và sự thiếu hiểu biết pháp luật của đa số người dân bản địa là một nguyên nhân khác dẫn đến các tranh chấp liên quan đến đất đai. Dé giải quyết các van dé, tác giả đã đưa ra một số khuyến nghị bao gồm việc thực hiện tham van và thoả thuận đầy đủ trước khi thực hiện thu hồi đất, chi trả đền bù đầy đủ, công bằng và nhanh chóng cho những người bị ảnh hưởng, thúc đây bảo tồn nông nghiệp trên các sườn núi, tăng cường các chương trình nâng cao nhận thức về luật pháp và chính sách đất đai, và cải thiện quyền tiếp cận của người dân đối với các thê chế chính thức chịu trách nhiệm về việc cung cấp công lý.
Các nghiên cứu trong nước Nguyễn Tran Tuấn (2021) đã nghiên cứu mối quan hệ giữa chuyên đổi mục đích sử dụng đất và sinh kế hộ gia đình ở Nghệ An. Nghiên cứu đã mô tả mối quan hệ giữa chuyền đôi mục đích sử dụng đất và sinh kế của các hộ gia đình ở ngoại thành Thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An. Trong cuộc khảo sát với 170 hộ dân bị thu hồi đất cho xây dựng dự án khu công nghiệp VSIP Nghệ An, Kết quả cho thấy, (1) Về mặt tích cực, chất lượng cuộc song của các hộ gia đình trong giai đoạn hiện nay có sự cải thiện đáng kể, điều kiện tốt hơn với những ngôi nhà khang trang và tiện nghi hiện đại hơn trước. Thu nhập bình quân của các hộ gia đình tăng 900 USD so với trước đây.
(2) Về mặt tiêu cực, tỷ lệ thất nghiệp tăng ở phụ nữ trên 35 tuổi và nam giới trên 40 tudi. Cùng với việc sử dung không đúng các khoản tiền đền bù đã nhận, tính bền vững của thu nhập là một vấn đề đối với tương lai của các hộ gia đình này. Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Chí Phong (2021) cho thấy trong giai đoạn vừa qua, tỉnh Đồng Nai đã tiếp tục đây mạnh việc mở rộng hoặc xây dựng mới các khu công nghiệp nhằm đây nhanh việc chuyên dich cơ cau ngành kinh tế địa phương cũng như tạo thêm nhiều việc làm, góp phần tang thu nhập cho người dân ở nông thôn. Tuy nhiên, một vấn đề khó khăn, phức tạp nảy sinh khi thực hiện việc quy hoạch phát triển khu công nghiệp đó chính là việc thu hồi đất nông nghiệp.
Điều này sẽ tác động không nhỏ đến cuộc sống, thu nhập, việc làm của các nông hộ. Nghiên cứu đã phân tích, đánh giá sinh kế của hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất cho dự án khu công nghiệp Tân Phú, huyện Tân Phú, tỉnh Đồng Nai. Tác giả đã thu thập dữ liệu của 50 hộ gia đình bị ảnh hưởng do thu hồi đất và tiễn hành phân tích, đánh giá nguồn vốn sinh kế của hộ gia đình cũng như những hoạt động sinh kế, kha năng chuyền đổi nghề nghiệp và kết quả sinh kế. Dựa trên những kết quả thu được, nghiên cứu đề xuất, khuyến nghị và gợi ý một số hàm ý quản trị, chính sách nhằm giảm thiêu ở mức tối da các tác động tiêu cực đối với sinh kế, đảm bảo sinh kế 6n định, bền vững.
Phạm Hữu Ty và cộng sự (2020) đã nghiên cứu thực trạng sử dụng đất và sinh kế của người dân tái định cư dé có cơ sở đề xuất giải pháp bố trí đất đai hợp lý cho việc phát triển sinh kế của người dân tái định cư thủy điện Bình Điền (tinh nào?). Cac phương pháp nghiên cứu đã sử dụng bao gồm: điều tra thu thập số liệu thứ cấp, sơ cấp; phỏng vấn chuyên gia và người am hiéu thông tin; phỏng van hộ gia đình; phỏng van sâu và phương pháp xử lý số liệu. Kết quả nghiên cứu cho thay việc di dan, tái định cư trong xây dựng thủy điện vừa đem lại những tác động tích cực như người dân tiếp cận cơ sở hạ tầng tốt và dịch vụ tốt hơn, nhưng khó khăn lớn nhất của đồng bào dân tộc thiểu số bị đi đời là khôi phục và phát triển sản xuất thời kỳ hậu tái định cư khi mà đất dai mà người dân có thé tiếp cận rất ít hơn rất nhiều so với nơi ở cũ, đặc biệt là đất sản xuất nông nghiệp. Theo ý kiến của người dân tái định cư, ckhông phù hợp với các loại cây trồng truyền thống như sắn địa phương, lúa nương, ngô địa phương, và cây ăn quả có múi.
Bài học kinh nghiệm là cần phải tính toán giao quỹ đất sản xuất trước khi di dời nếu không sau khi tái định cư hầu hết các hộ gia đình không được giao thêm đất sản xuất do quỹ dat này hiện nay đã giao ôn định cho cá nhân, tô chức khác. Can có chương trình dao tạo nghề và chuyền đổi nghề nghiệp cho thanh niên dé thích ứng với điều kiện sống khi về nơi ở mới tại khu tái định cư tập trung. Trần Hải Đăng (2019) cho rằng việc thu hồi đất của người dân do Nhà nước thực hiện vì mục tiêu phát triển kinh tế, xã hội đã và đang là xu thế của quá trình phát triển đất nước. Trong quá trình đó, người dân bị mat đất sản xuất, phải chuyên đổi nghề nghiệp và sinh kế cũng thay đổi.
Sử dụng khung phân tích sinh kế bền vững do Cơ quan Phát trién Quốc tế Anh, (Department for International Development — DFID) tác giả đã phân tích, đánh giá thực trang, các yêu tố anh hưởng đến sinh kế của người dân bị thu hồi đất trong vùng thực hiện dự án Khu D, Khu Đô thị Cửa ngõ Đông Bắc, Thành phố Cà Mau, tỉnh Cà Mau. Từ kết quả khảo sát, tng hop, phân tích cho thấy có sự thay đổi lớn về tài sản sinh kế, của các hộ gia đình, chiến lược sinh kế đa dạng, đời sống của họ ngày cảng thay đổi theo, hướng cải thiện tốt hơn so với trước khi bị thu hồi đất. Vấn đề quan trọng là chính sách bồi thường, giải phóng mặt bằng đã được triển khai thực hiện khá tốt, kịp thời và day đủ, từ đó, góp phan cải thiện được đời sống của các hộ gia đình có đất bị thu hồi. Tuy nhiên, bên cạnh đó, cũng còn một sé hộ gia đình gặp khó khăn sau khi bị thu hồi dat, các hộ này thuộc điện không có dat, mà chỉ ở tạm trên đất người khác, thuê mướn dé canh tác hoặc sở hữu diện tích đất quá ít, do đó sau khi bị thu hồi, chỉ nhận được phần hỗ trợ từ chính sách, hỗ trợ bồi thường của Nhà nước.
Trong khi dự án chưa bố trí được quỹ đất khu tái định cư khi thu hồi đất của các hộ dân. Do đó, đời sống kinh tế của các hộ gia đình này là khá khó khăn sau khi bị thu hồi đất. Việc tìm kiếm việc làm, chuyên đổi nghề nghiệp đối với các hộ gia đình sau khi bị thu hồi đất cũng tương đối khó khăn, do chủ yếu lao động phô thông, chưa qua đào tạo.