Tổng quan nghiên cứu

Long An là địa bàn giàu truyền thống cách mạng với những đóng góp to lớn trong sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc. Đến năm 2014, toàn tỉnh đã xác nhận gần 30.000 liệt sĩ, trên 10.000 thương bệnh binh, gần 4.000 Bà mẹ Việt Nam anh hùng và trên 25.000 người cùng gia đình có công với cách mạng. Hàng năm, ngân sách nhà nước chi trả chế độ trợ cấp ưu đãi thường xuyên cho gần 22.000 đối tượng với tổng kinh phí hơn 300 tỷ đồng. Mức trợ cấp hàng tháng dao động từ 684.000 đồng đến khoảng 7.000.000 đồng/người, đều cao hơn chuẩn nghèo quy định tại cùng thời điểm (400.000 đồng/người/tháng ở khu vực nông thôn và 500.000 đồng/người/tháng ở thành thị).

Tuy nhiên, nghịch lý thực tiễn đặt ra là toàn tỉnh vẫn còn 130 hộ nghèo thuộc diện người có công trong tổng số 11.000 hộ nghèo trên địa bàn 384.000 hộ dân cư, chiếm tỷ lệ 0,034%. Vấn đề nghiên cứu trọng tâm của luận văn là làm rõ nguyên nhân vì sao những hộ gia đình đã có nguồn thu nhập trợ cấp ưu đãi cố định cao hơn chuẩn nghèo nhưng vẫn rơi vào tình trạng đói nghèo kéo dài.

Mục tiêu cụ thể của công trình tập trung phân tích thực trạng công tác giảm nghèo cho người có công giai đoạn 2010 - 2014, xác định các nhân tố chủ quan và khách quan chi phối mức sống của nhóm đối tượng này, đồng thời đề xuất hệ thống chính sách hỗ trợ bền vững. Nghiên cứu được triển khai trên phạm vi toàn tỉnh Long An với dữ liệu tổng điều tra thực địa năm 2014. Kết quả nghiên cứu có ý nghĩa thực tiễn sâu sắc, cung cấp luận cứ khoa học để chính quyền địa phương hoàn thiện chính sách an sinh, hướng đến mục tiêu xóa 100% hộ nghèo có công và đảm bảo mức sống gia đình chính sách bằng hoặc cao hơn mức trung bình của cộng đồng dân cư.

Cơ sở lý thuyết và phương pháp nghiên cứu

Khung lý thuyết áp dụng

Luận văn vận dụng lý thuyết phát triển kinh tế bền vững của Nguyễn Trọng Hoài (năm 2007) kết hợp với các cách tiếp cận nghèo tuyệt đối và nghèo tương đối của Đinh Phi Hổ (năm 2006). Khái niệm nghèo tuyệt đối phản ánh tình trạng cá nhân hoặc hộ gia đình có mức thu nhập thấp hơn mức tối thiểu để chi trả các nhu cầu sinh hoạt cơ bản, trong khi nghèo tương đối phản ánh sự chênh lệch thu nhập so với mức sống chung của cộng đồng theo không gian và thời gian.

Nghiên cứu tích hợp lý thuyết tăng trưởng nông nghiệp và sự nghèo đói nông thôn của Rao và Shepherd (năm 1998) cùng mô hình vòng luẩn quẩn của nghèo đói do Rao và Chopra (năm 1991) khởi xướng. Mô hình này chỉ ra rằng năng suất lao động thấp dẫn đến thu nhập thấp, hạn chế tích lũy dinh dưỡng và giáo dục, từ đó đẩy các hộ dân vào bẫy nghèo đói truyền đời. Dựa trên khung phân tích 8 nhân tố của Madajewicz (năm 2000), nghiên cứu xác định các biến số then chốt gồm: nghề nghiệp, trình độ học vấn, giới tính chủ hộ, quy mô hộ, số người phụ thuộc, quy mô đất đai, khả năng tiếp cận vốn vay chính thức và cơ sở hạ tầng nông thôn. Về mặt pháp lý, đề tài bám sát Pháp lệnh ưu đãi Người có công với cách mạng số 26/2005/PL-UBTVQH11 và chuẩn nghèo quốc gia giai đoạn 2011 - 2015 theo Quyết định 09/2011/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Phương pháp nghiên cứu

Nghiên cứu thực hiện phương pháp tổng điều tra toàn bộ với cỡ mẫu là 130 hộ nghèo người có công (chiếm 100% tổng thể đối tượng trên toàn địa bàn tỉnh Long An vào năm 2014). Phương pháp chọn mẫu toàn diện được áp dụng thay vì chọn mẫu ngẫu nhiên nhằm đảm bảo không bỏ sót bất kỳ trường hợp đặc thù nào, giúp phản ánh chân thực bức tranh nghèo đói của nhóm đối tượng chính sách.

Dữ liệu sơ cấp được thu thập thông qua bảng câu hỏi khảo sát cấu trúc trực tiếp tại hộ gia đình, kết hợp phỏng vấn sâu các chuyên gia quản lý thuộc Ủy ban Nhân dân tỉnh, Sở Lao động - Thương binh và Xã hội, Ủy ban Mặt trận Tổ quốc và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh Long An. Dữ liệu thứ cấp được tổng hợp từ báo cáo kinh tế - xã hội giai đoạn 2010 - 2014 của các sở, ban ngành. Tác giả lựa chọn phương pháp thống kê mô tả, phân tích so sánh tỷ trọng và tổng hợp dữ liệu trên phần mềm Excel. Phương pháp này hoàn toàn phù hợp để định lượng các chỉ tiêu kinh tế hộ, phân tầng dữ liệu theo địa bàn và đánh giá chính xác tác động của các gói hỗ trợ công.

Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Những phát hiện chính

Thứ nhất, công tác giảm nghèo hộ người có công tại Long An đạt tốc độ tích cực nhưng tồn tại sự phân hóa lớn theo địa bàn. Tổng số hộ nghèo có công giảm mạnh từ 315 hộ năm 2010 xuống 305 hộ năm 2011, 213 hộ năm 2012, 178 hộ năm 2013 và chỉ còn 130 hộ năm 2014 (tương đương mức giảm 58,73% sau 5 năm). Năm 2014, huyện Đức Huệ có số hộ và tỷ lệ nghèo người có công cao nhất với 29 hộ (chiếm 0,173% tổng số hộ dân), tiếp theo là huyện Châu Thành với 24 hộ (0,089%), huyện Đức Hòa có 16 hộ (0,027%) và huyện Vĩnh Hưng có 9 hộ (0,069%). Ngược lại, huyện Tân Thạnh đã hoàn thành mục tiêu xóa trắng hộ nghèo có công (0 hộ), thành phố Tân An và huyện Mộc Hóa chỉ còn 1 hộ.

Thứ hai, quy mô hộ đông và tỷ lệ người sống phụ thuộc cao là nguyên nhân cốt lõi khiến các hộ rơi vào chuẩn nghèo. Dù mỗi hộ đều có thành viên nhận trợ cấp từ 684.000 đồng đến khoảng 7.000.000 đồng/tháng, nhưng do phải gánh vác nhiều nhân khẩu không có khả năng lao động, người già yếu và người tàn tật chịu di chứng chiến tranh, thu nhập bình quân đầu người bị chia nhỏ xuống dưới mức 400.000 đồng/tháng.

Thứ ba, các gói chính sách trợ giúp phát huy hiệu quả hỗ trợ an sinh nhưng hạn mức hỗ trợ kinh tế còn eo hẹp. Giai đoạn 2010 - 2014, chương trình tín dụng ưu đãi đã giải ngân cho 328 lượt hộ vay vốn sản xuất với tổng kinh phí hơn 4 tỷ đồng và 319 lượt hộ vay nước sạch với hơn 1 tỷ đồng. Tỉnh thực hiện hỗ trợ 82 căn nhà tình nghĩa theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg (xây mới 55 căn, sửa chữa 27 căn với kinh phí hơn 2,74 tỷ đồng), cấp phát 4.026 thẻ bảo hiểm y tế cho người nghèo và 4.620 thẻ cho người cận nghèo. Tuy nhiên, định mức cho vay 10 triệu đồng/hộ và tiền điện hỗ trợ 30 kWh/hộ/tháng cho 1.342 lượt hộ vẫn còn quá thấp so với chi phí sản xuất và sinh hoạt thực tế.

Thảo luận kết quả

Thực trạng nghèo của hộ người có công tại Long An là hệ quả tổng hòa giữa yếu tố lịch sử và kinh tế hộ. Khi trình bày dữ liệu thông qua các bảng thống kê phân tầng kết hợp biểu đồ cột thể hiện diễn tiến giảm nghèo giai đoạn 2010 - 2014 và biểu đồ tròn về cơ cấu chi tiêu, ta thấy rõ tỷ trọng chi phí y tế và chăm sóc sức khỏe chiếm phần lớn nguồn thu nhập trợ cấp. Rào cản học vấn thấp, thiếu tư liệu sản xuất và các biến cố sức khỏe phát sinh đã tạo nên bẫy nghèo dai dẳng.

So sánh với kinh nghiệm thực tiễn từ các tỉnh lân cận, mô hình giảm nghèo tại Tiền Giang với 19 dự án chăn nuôi gia súc an toàn sinh học thu hút 424 hộ tham gia, hay mô hình ba trong một (ba hộ khá giúp một hộ nghèo) tại Đồng Tháp cho thấy sự can thiệp trực tiếp vào quy trình tạo sinh kế mang lại tính bền vững cao hơn việc chỉ dựa vào trợ cấp thụ động. Mặt khác, hạ tầng giao thông kết nối kém tại các huyện biên giới Long An như Đức Huệ tương tự rào cản tại Tây Ninh, khẳng định phát triển hạ tầng nông thôn chính là đòn bẩy tiên quyết để người nghèo tiếp cận thị trường.

Đề xuất và khuyến nghị

Thứ nhất, nâng cao định mức vốn vay tín dụng ưu đãi và mở rộng hạn mức sản xuất. Sở Lao động - Thương binh và Xã hội phối hợp Ngân hàng Chính sách Xã hội tỉnh nâng hạn mức vay vốn sản xuất từ 10 triệu đồng lên mức 30 đến 50 triệu đồng/hộ, triển khai cho toàn bộ 130 hộ nghèo và các hộ cận nghèo trong giai đoạn 2015 - 2017 nhằm đảm bảo đủ tiềm lực đầu tư cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế.

Thứ hai, đẩy mạnh xã hội hóa nguồn lực cải thiện nhà ở và nước sinh hoạt. Ủy ban Mặt trận Tổ quốc tỉnh Long An chủ trì huy động Quỹ Vì người nghèo và Quỹ Đền ơn đáp nghĩa, phối hợp triển khai nâng mức hỗ trợ xây mới nhà ở từ 40 triệu lên 60 triệu đồng/căn đối với vùng sâu, vùng trũng Đồng Tháp Mười, phấn đấu hoàn thành sửa chữa và xóa bỏ 100% nhà tạm dột nát cho gia đình chính sách trước năm 2017.

Thứ ba, chuyển giao mô hình sinh kế nông nghiệp thích ứng và tạo việc làm phi nông nghiệp. Hội Nông dân và Hội Liên hiệp Phụ nữ tỉnh chủ động nhân rộng mô hình chăn nuôi dê, gà an toàn sinh học từ Tiền Giang và mô hình tổ hợp tác nông nghiệp từ Đồng Tháp, tổ chức đào tạo nghề ngắn hạn theo Quyết định 1956/QĐ-TTg cho trên 500 lao động là con em người có công giai đoạn 2015 - 2018.

Thứ tư, hoàn thiện cơ chế an sinh xã hội đặc thù và hỗ trợ y tế chuyên sâu. Ủy ban Nhân dân tỉnh chỉ đạo ngành y tế mở rộng danh mục hỗ trợ chi trả các khoản phí điều trị gián tiếp ngoài bảo hiểm y tế cho các thương bệnh binh nặng, duy trì chính sách trợ cấp Tết với mức tối thiểu 500.000 đồng/hộ và mở rộng đối tượng thụ hưởng sang nhóm hộ cận nghèo từ năm 2016.

Đối tượng nên tham khảo luận văn

Nội dung luận văn mang lại giá trị tham khảo thiết thực cho 4 nhóm đối tượng chính:

Thứ nhất, các nhà hoạch định chính sách và cán bộ quản lý an sinh xã hội thuộc ngành Lao động - Thương binh và Xã hội tại Long An cũng như các tỉnh khu vực Đồng bằng sông Cửu Long. Luận văn cung cấp bằng chứng thực nghiệm để xây dựng các chương trình mục tiêu giảm nghèo đặc thù cho người có công.

Thứ hai, lãnh đạo Ủy ban Nhân dân cấp huyện, xã và các tổ chức đoàn thể địa phương. Nghiên cứu cung cấp công cụ phân loại, đánh giá chính xác nguyên nhân nghèo đói của 130 hộ gia đình, hỗ trợ công tác lập kế hoạch giải ngân và phân bổ nguồn lực trợ cấp đúng đối tượng.

Thứ ba, giảng viên, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành Chính sách công, Kinh tế phát triển và Quản lý công. Đây là tài liệu học thuật giá trị về phương pháp khảo sát toàn bộ tổng thể, phân tích chính sách kinh tế - xã hội và đánh giá hiệu quả các chương trình mục tiêu quốc gia.

Thứ tư, các tổ chức phi chính phủ, quỹ từ thiện và doanh nghiệp thực hiện trách nhiệm xã hội. Dữ liệu luận văn giúp định vị chính xác địa bàn ưu tiên như huyện Đức Huệ, Châu Thành để tài trợ nhà tình nghĩa, sổ tiết kiệm và các dự án sinh kế cộng đồng.

Câu hỏi thường gặp

Thành viên người có công có trợ cấp hàng tháng cao hơn chuẩn nghèo nhưng vì sao hộ gia đình vẫn bị xếp vào diện hộ nghèo?
Khoản trợ cấp ưu đãi hàng tháng từ 684.000 đồng đến khoảng 7.000.000 đồng/người là thu nhập của cá nhân người có công. Khi tính thu nhập bình quân đầu người của cả hộ gia đình có quy mô đông nhân khẩu, nhiều người phụ thuộc già yếu hoặc tàn tật, mức bình quân tụt xuống dưới 400.000 đồng/người/tháng.

Địa phương nào tại tỉnh Long An có tỷ lệ hộ nghèo người có công cao nhất trong năm 2014?
Huyện Đức Huệ là địa phương có tỷ lệ cao nhất với 29 hộ nghèo có công, chiếm tỷ lệ 0,173% tổng số hộ dân, tiếp theo là huyện Châu Thành với 24 hộ nghèo (0,089%) và huyện Vĩnh Hưng với 9 hộ (0,069%), nguyên nhân chủ yếu do hạ tầng giao thông chia cắt và kinh tế thuần nông.

Chính sách hỗ trợ nhà ở cho hộ gia đình chính sách tại Long An giai đoạn 2010 - 2014 đạt kết quả như thế nào?
Theo Quyết định 22/2013/QĐ-TTg, tỉnh Long An đã hoàn thành hỗ trợ nhà ở cho 82 hộ nghèo người có công với tổng ngân sách hơn 2,74 tỷ đồng, bao gồm xây mới 55 căn nhà kiên cố (mức 40 triệu đồng/hộ) và sửa chữa 27 căn nhà (mức 20 triệu đồng/hộ).

Những kinh nghiệm giảm nghèo tiêu biểu nào từ các tỉnh lân cận có thể ứng dụng trực tiếp tại Long An?
Long An có thể vận dụng mô hình liên kết ba trong một và trạm bơm nông nghiệp từ Đồng Tháp, phát triển các mô hình chăn nuôi an toàn sinh học từ Tiền Giang và xã hội hóa phong trào đêm nhạc từ thiện xây nhà tình nghĩa từ Bến Tre.

Phương pháp chọn mẫu và thu thập dữ liệu của đề tài có ưu điểm khoa học gì nổi bật?
Nghiên cứu tiến hành tổng điều tra toàn bộ 100% tổng thể 130 hộ nghèo người có công trên 15 huyện, thị xã, thành phố của tỉnh Long An, kết hợp phỏng vấn sâu lãnh đạo các sở ngành, giúp loại bỏ sai số chọn mẫu và phản ánh toàn diện thực trạng chính sách.

Kết luận

  • Tỷ lệ hộ nghèo người có công tại tỉnh Long An đã giảm ấn tượng 58,73% trong giai đoạn 2010 - 2014, từ 315 hộ xuống còn 130 hộ.
  • Quy mô nhân khẩu đông, tỷ lệ người sống phụ thuộc cao và chi phí y tế phát sinh ngoài bảo hiểm là những nguyên nhân chính tạo nên bẫy nghèo dai dẳng.
  • Chính sách tín dụng, hỗ trợ 82 căn nhà ở, cấp hơn 4.000 thẻ bảo hiểm y tế và miễn giảm học phí đã phát huy vai trò an sinh cơ bản nhưng cần nâng cao hạn mức vốn vay.
  • Chuyển đổi phương thức hỗ trợ từ trợ cấp thụ động sang trao quyền sinh kế tự chủ và liên kết cộng đồng là chìa khóa then chốt để thoát nghèo bền vững.
  • Bài học mô hình sinh kế và xã hội hóa từ Tiền Giang, Bến Tre, Đồng Tháp là cơ sở thực tiễn giá trị để Long An hoàn thiện chính sách địa phương.

Đóng góp lớn nhất của luận văn là làm sáng tỏ bản chất kinh tế - xã hội đằng sau nghịch lý nghèo đói của nhóm hộ có công nhận trợ cấp ưu đãi, đồng thời hệ thống hóa bộ giải pháp chính sách công có tính khả thi cao. Để hiện thực hóa mục tiêu xóa hoàn toàn hộ nghèo người có công trong giai đoạn 2015 - 2020, chính quyền tỉnh Long An cần khẩn trương nâng định mức cho vay sản xuất lên 30 - 50 triệu đồng/hộ và đẩy mạnh xã hội hóa nhà ở. Các nhà nghiên cứu và cơ quan quản lý được khuyến khích tiếp tục mở rộng mô hình phân tích nghèo đa chiều này trên phạm vi toàn vùng Đồng bằng sông Cửu Long.