CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ THU HÚT VỐN ĐẦU TƯ VÀO KHU CÔNG NGHIỆP 1. Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tư 1. Cơ sở lý luận về thu hút vốn đầu tư 1. Khái niệm đầu tư và vốn đầu tư Khái niệm đầu tư Có rất nhiều định nghĩa về đầu tư như: “Đầu tư là sự hy sinh các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động nào đó nhằm thu về các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn các nguồn lực đã bỏ ra để đạt được các kết quả đó”.
Như vậy, mục tiêu của mọi công cuộc đầu tư là đạt được các kết quả lớn hơn so với những hy sinh về nguồn lực mà người đầu tư phải gánh chịu khi tiến hành đầu tư. Nguồn lực phải hy sinh đó có thể là tiền, là tài nguyên thiên nhiên, là sức lao động và trí tuệ. Theo tác giả Từ Quang Phương (2007) Hay theo Luật đầu tư 2014: “Đầu tư là việc sử dụng một khoản tiền tiết kiệm tiêu dùng ở hiện tại đã tích lũy được vào việc tạo ra hoặc tăng cường cơ sở vật chất cho nền kinh tế nhằm thu được các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn khoản tiền đã bỏ ra để đạt được kết quả đó”.Nguồn lực của hoạt động đầu tư tạo ra có thể là sự tăng thêm các tài sản tài chính (tiền vốn), tài sản vật chất (nhà máy, đường sá, các của cải vật chất khác.), tài sản trí tuệ (trình độ văn hóa, chuyên môn, khoa học kỹ thuật.) và nguồn nhân lực có đủ điều kiện để làm việc với năng suất cao hơn trong nền sản xuất xã hội. Khái niệm vốn đầu tư Vốn đầu tư là phần tích lũy của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh – dịch vụ, là tiền tiết kiệm của dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt cho mỗi gia đình, cũng như thực hiện các chi phí cần thiết tạo điều kiện cho sự bắt đầu hoạt động của các cơ sở vật chất kỹ thuật mới được bổ sung hoặc mới được đổi mới.
SVTH: Phạm Mỹ Giang 5 Lớp: K52A KH-ĐT Khóa luận tốt nghiệp Theo tác giả Hồ Tú Linh (2014), “Vốn đầu tư là phần tích luỹ của xã hội, của các cơ sở sản xuất kinh doanh - dịch vụ, là tiền đề tiết kiệm của nhân dân và vốn huy động từ các nguồn khác được đưa vào sử dụng trong quá trình tái sản xuất xã hội, nhằm duy trì tiềm lực sẵn có và tạo ra tiềm lực lớn hơn cho sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, sinh hoạt xã hội và sinh hoạt cho mỗi gia đình.” Theo Luật đầu tư (Quốc hội, 2020), “Vốn đầu tư là tiền và tài sản khác theo quy định của pháp luật về dân sự và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thực hiện hoạt động đầu tư kinh doanh”. Phân loại vốn đầu tư Vốn đầu tư được định nghĩa theo nhiều quan điểm khác nhau thì việc phân loại vốn đầu tư cũng được phân ra theo nhiều cách khác nhau, tùy vào mỗi khía cạnh sẽ có những cách phân loại riêng Nguồn vốn trong nước: bao gồm nguồn vốn đầu tư nhà nước, nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân và thị trường vốn. - Nguồn vốn đầu tư nhà nước bao gồm: nguồn vốn ngân sách nhà nước, nguồn vốn tín dụng đầu tư phát triển của nhà nước và nguồn vốn đầu tư phát triển của doanh nghiệp nhà nước. - Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Được hình thành chủ yếu từ nguồn thu thuế, phí, lệ phí, bán hoặc cho thuê tài sản của nhà nước quản lý, bán tài nguyên.
Có vai trò quan trọng trong chiến lựơc phát triển kinh tế - xã hội của mỗi quốc gia, thường được sử dụng cho các dự án kết cấu kinh tế - xã hội, quốc phòng - an ninh, hỗ trợ cho các dự án của doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực cần sự tham gia của Nhà nước - Nguồn vốn tín dụng đầu tư của nhà nước: Nguồn vốn tín dụng đầu tư của Nhà nước có tác dụng tích cực trong việc giảm đáng kể việc bao cấp vốn trực tiếp của Nhà nước. Với cơ chế tín dụng, các đợn vị sử dụng nguồn vốn này phải đảm bảo nguyên tắc hoàn trả vốn vay. Vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước là một hình thức quá độ chuyển từ hình thức cấp phát ngân sách sang phương thức tín dụng đối với các dự án có khả năng thu hồi vốn trực tiếp - Nguồn vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước: Dù có một số hạn chế nhưng đánh giá một cách công bằng thì khu vực kinh tế Nhà nước với sự tham gia của các doanh nghiệp Nhà nước vẫn đóng một vai trò chủ đạo trong nền kinh tế nhiều thành SVTH: Phạm Mỹ Giang 6 Lớp: K52A KH-ĐT Khóa luận tốt nghiệp phần. Do đó, các doanh nghiệp nhà nước có đóng góp lớn cho ngân sách nhà nước (40% tổng thu ngân sách), đóng góp lớn cho tăng trưởng kinh tế tạo việc làm, đóng góp chủ yếu vào cân đối hàng hóa của nền kinh tế - Nguồn vốn đầu tư từ khu vực tư nhân: Nguồn vốn này trung bình thường chiếm khoảng 30% tổng vốn đầu tư toàn xã hội và 50% vốn đầu tư trong nước, bao gồm nguồn vốn từ doanh nghiệp tư nhân và nguồn vốn từ các hộ gia đình.
- Nguồn vốn từ doanh nghiệp tư nhân: Được lấy từ vốn sở hữu và tiết kiệm (là các khoản thu nhập của doanh nghiệp sau khi trả thuế và trả cổ tức), vốn đi vay, tăng vốn cổ đông bằng cách phát hành cổ phiểu mới - Thị trường vốn: Thị trường vốn mà cốt lõi là thị trường chứng khoán như một trung tâm thu gom mọi nguồn vốn tiết kiệm của từng hộ dân cư, thu hút mọi nguồn vốn nhàn rỗi của các doanh nghiệp, các tổ chức tài chính, Chính phủ Trung ương và chính quyền địa phương tạo thành một nguồn vốn khổng lồ cho nền kinh tế. Có ý nghĩa quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của các nước có nền kinh tế thị trường Nguồn vốn nước ngoài: bao gồm vốn phát triển chính thức (ODF) và dòng vốn tư nhân. - Vốn phát triển chính thức (ODF): bao gồm các nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA chiếm tỷ trọng chủ yếu trong nguồn ODF và các khoản cho vay (không < 25%). + Nguồn vốn viện trợ phát triển chính thức ODA: Đây là hình thức tài trợ có tính ưu đãi cao, ưu đãi về lãi suất, thời hạn cho vay, khối lượng vốn vay tương đối lớn, có yếu tố không hoàn lại (cho không), yếu tố hỗ trợ ít nhất 25%.
Nguồn vốn này thường lớn nên có tác dụng nhanh và mạnh đối với việc giải quyết dứt điểm các nhu cầu kinh tế xã hội của nước nhận đầu tư, tuy nhiên việc tiếp nhận loại vốn này thường gắn với sự trả giá về mặt chính trị và nợ nần chồng chất nếu sử dụng không có hiệu quả vốn vay và thực hiện không nghiệm ngặt việc trả nợ vốn vay. Vì vậy, để nhận được loại tài trợ hấp dẫn này với thiệt thòi ít nhất, cần phải xem xét dự án trong điều kiện tài chính tổng thể. + Nguồn vốn tín dụng từ các ngân hàng thương mại: Điều kiện ưu đãi dành cho loại vốn này không dễ dàng như nguồn vốn ODA tuy nhiên nó có ưu đãi rõ SVTH: Phạm Mỹ Giang 7 Lớp: K52A KH-ĐT Khóa luận tốt nghiệp ràng là không gắn với ràng buộc về chính trị xã hội. Mức lãi suất cao nên nguồn vốn này chủ yếu dùng để đáp ứng xuất nhập khẩu, thường là ngắn hạn, chỉ một bộ phận nhỏ của nguồn vốn này dùng để đầu tư phát triển.
- Dòng vốn tư nhân: Dòng vốn này bao gồm nguồn vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI + Đầu tư trực tiếp nước ngoài FDI: Đây là hình thức đầu tư quốc tế mà chủ đầu tư nước ngoài đã đóng góp một số vốn đủ lớn vào lĩnh vực sản xuất và dịch vụ để có thể trực tiếp quản lý hoặc tham gia quản lý quá trình sử dụng và thu hồi vốn bỏ ra. Là hình thức tiếp nhận đầu tư mà không phải lo trả nợ, tuy nhiên vẫn phải chia sẻ lợi ích kinh tế do đầu tư mang lại với người đầu tư theo mức đóng góp của họ. ● Theo thời gian sử dụng vốn + Vốn dài hạn: tiền được sử dụng để đầu tư có thời hạn từ 5 năm trở lên. + Vốn trung hạn: tiền được sử dụng để đầu tư có thời hạn từ 1 đến 5 năm.
+ Vốn ngắn hạn: tiền được sử dụng để đầu tư có thời hạn trong 1 năm. ● Theo vai trò và tính chất luân chuyển vốn + Vốn cố định: Là một bộ phận của vốn đầu tư ứng trước về tài sản cố định mà đặc điểm của nó là luân chuyển dần dần từng phần trong nhiều chu kỳ sản xuất và hoàn thành một vòng tuần hoàn khi tài sản cố định hết thời gian sử dụng. + Vốn lưu động: Là biểu hiện bằng tiền của tài sản lưu động nên đặc điểm vận động của vốn lưu động chịu sự chi phối bởi những đặc điểm của tài sản lưu động. ● Theo quan hệ quản lý của chủ đầu tư + Vốn đầu tư trực tiếp: là loại vốn được đầu tư vào hoạt động kinh tế do nhà đầu tư bỏ ra nhằm đem lại lợi ích cho họ và nhà đầu tư trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư.
+ Vốn đầu tư gián tiếp: là loại vốn được đầu tư vào hoạt động kinh tế nhằm đem lại lợi ích cho nhà đầu tư, nhưng họ không trực tiếp tham gia vào hoạt động đầu tư. Đặc điểm của đầu tư - Hoạt động đầu tư là hoạt động bỏ vốn nên quyết định đầu tư thường là quyết định tài chính. SVTH: Phạm Mỹ Giang 8 Lớp: K52A KH-ĐT Khóa luận tốt nghiệp - Đòi hỏi vốn lớn: có thể bằng tiền, bằng các loại tài sản khác như máy móc, thiết bị, nhà xưởng,. Vốn đầu tư có thể là vốn Nhà nước, vốn tư nhân, vốn góp, vốn cổ phần, vốn vay dài hạn, trung hạn, ngắn hạn.
- Hoạt động đầu tư là hoạt động luôn cần có sự cân nhắc giữa lợi ích trước mắt và lợi ích trong tương lai.