Chương 1: Cơ sở lý luận về ANMT dưới góc độ quản trị an ninh phi truyền thống. Chương 2: Thực trạng công tác quản trị ANMT tại KCN Hòa Cầm, Đà Nẵng. Chương 3: Thách thức và giải pháp nâng cao hiệu quả công tác quản tri ANMT tại KCN Hòa Cam, Đà Nẵng. CHUONG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VE AN NINH MOI TRƯỜNG DƯỚI GÓC ĐỘ QUAN TRI AN NINH PHI TRUYEN THONG 1.
Nhận thức chung về an ninh phi truyền thống và an ninh môi trường 1. Khái niệm chung về an ninh phi truyền thống ANPTT (Non-traditional Security) là khái niệm mới bắt đầu xuất hiện trên thế giới từ cuối thế ky XX và ngày càng trở nên phổ biến cho đến ngày nay, đặc biệt là từ sau giai đoạn Chiến tranh lạnh, trong bối cảnh hội nhập quốc tế, toàn cầu hóa diễn ra mạnh mẽ và khoa học, công nghệ phát triển nhanh chóng. Các quốc gia, tổ chức quốc tế thường sử dụng khái niệm ANPTT để thé hiện quan điểm, cách tiếp cận khác đối với van đề an ninh so với an ninh truyền thống. An ninh truyền thống lấy nhà nước làm trung tâm; tập trung vào mục tiêu bảo vệ độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn ven lãnh thé va sự 6n định, phát triển bền vững của hệ thống chính tri; nhiệm vụ dam bao an ninh thuộc về nhà nước, thông qua việc sử dụng sức mạnh quân sự, chính tri, ngoại giao.
Trong khi đó, ANPTT lấy con người là trung tâm; mục tiêu chính là đảm bảo sự an toàn, 6n định và phát trién bền vững của từng cá nhân, sau đó là cộng đồng, doanh nghiệp, nhà nước trước các mối de dọa, thách thức có nguồn gốc phi quân sự; trách nhiệm và nguồn lực dé đảm bảo ANPTT là của toàn xã hội. An ninh truyền thống và ANPTT có thé được coi như "hai mặt của một đồng xu", có mối quan hệ biện chứng, tác động qua lại và có khả năng chuyền hóa lẫn nhau, cùng nhau hợp thành an ninh toàn diện của quốc gia. Nội hàm của vấn đề ANPTT luôn có sự biến động, khác nhau trong từng thời điểm, bối cảnh cụ thê và phụ thuộc vào quan điểm của từng quốc gia, khu vực, cộng đồng. Ví dụ, Tuyên bó chung về hop tác trên lĩnh vực ANPTT tại Hội nghị Thượng đỉnh ASEAN - Trung Quốc lần thứ sáu vào ngày 01 tháng 11 năm 2002 đã xác định các van đề ANPTT gồm buôn bán ma túy bat hợp pháp, mua bán người, cướp biến, khủng bó, buôn lậu vũ khí, rửa tiền, tội phạm kinh tế quốc tế và tội phạm mạng; Liên Hợp Quốc lại xác định ANPTT gồm các mối đe dọa khủng bố, ma túy, cướp biển, rửa tiền, tin tặc, thảm họa môi trường, dịch bệnh, mua bán người, di cư trái phép và cực đoan dân tộc, tôn giáo.
Đối với Việt Nam, trước Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam chưa chính thức sử dụng khái niệm ANPTT nhưng đã chi ra những van dé mới đe doa đến sự hòa bình, ôn định và phát trién bền vững của đất nước như môi trường tự nhiên bị hủy hoại, bùng nô dân số, bệnh tật hiểm nghèo, tội phạm quốc tế, đi cư, khan hiém năng lượng, cạn kiệt tài nguyên, thiên tai, biến đổi khí hậu. Từ Đại hội XI, Đảng Cộng sản Việt Nam đã chính thức sử dụng khái niệm ANPTT với các vấn đề được chỉ ra gồm chống khủng bố, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu, hạn chế bùng nổ dân số, phòng ngừa va hạn chế dịch bệnh hiểm nghèo; Đại hội XII va XIII của Đảng tiếp tục chỉ ra một số vấn đề như an ninh con người, an ninh tài chính, an ninh năng lượng, an ninh nguồn nước, an ninh lương thực, biến đồi khí hậu, thiên tai, dịch bệnh, an ninh mạng, xung đột sắc tộc, tôn giáo, khủng bó. Có thể nói, việc xác định những vấn đề cụ thê trong nội hàm ANPTT chỉ mang ý nghĩa tương đối, nhằm phục vụ cho việc hoạch định, xây dựng chính sách, chiến lược an ninh của đất nước trong từng giai đoạn và những cam kết hợp tác quốc tế về an ninh; mặt khác là để so sánh sự khác biệt với vấn đề an ninh truyền thống của từng quốc gia cũng như từng khu vực và trên toàn thế giới. Tuy nhiên, ở góc độ tổng quát, có thê đánh giá ANPTT gồm một số đặc điểm chính sau: - Xuất phát chủ yếu từ các nguồn phi quân sự.
- Không chỉ đe dọa sự an toàn, ôn định, phát triển bền vững của các quốc gia, các thé chế chính trị ma còn de doa trực tiếp tới các doanh nghiệp, tô chức, cộng đồng và từng cá nhân. - Có phạm vi tác động, ảnh hưởng tới nhiều quốc gia, khu vực hoặc toàn cầu, hay nói cách khác là có tính xuyên quốc gia. - Doi hỏi phải có sự hợp tác chặt chẽ giữa các quốc gia, tô chức, doanh nghiệp, cộng đồng và sử dụng các biện pháp ứng phó toàn diện về chính trị, kinh tế, xã hội, quân sự. Có nhiều quan niệm, định nghĩa về ANPTT, nhưng tôi thấy quan niệm về ANPTT của các tác giả Tô lâm, Nguyễn Xuân Yêm, Trần Vi Dân và cộng sự là hợp lý hơn cả: An ninh phi truyền thong là trạng thái an ninh, an toàn, không có hiểm nguy cho cá nhân con người, xã hội, quốc gia, dân tộc và toàn nhân loại trước các nguy cơ de dọa có nguồn gốc phi quân sự như tội phạm xuyên quốc gia, chủ nghĩa khủng bo, an ninh môi trường, an ninh nguồn nước, biên đôi khí hậu, an ninh y tế và dịch bệnh, 10 an ninh kinh tế, an ninh tài chính, an ninh doanh nghiệp, an ninh năng lượng, an ninh lương thực, an ninh đô thị, an ninh nông thôn, an ninh tôn giáo, an ninh giao thông, an ninh trường học, an ninh du lịch, an ninh hàng không, an ninh mạng, an ninh biển và hải đảo,.
Các nguy cơ, thách thức, moi đe dọa an ninh phi truyền thông thường lan tỏa nhanh, ảnh hưởng rộng mang tính khu vực hoặc toàn cầu, do tác động bởi mặt trái của kinh tế thị trường, của toàn câu hóa, của sử dụng thành tựu khoa học - công nghệ”. Khái niệm về an ninh môi trường Vấn đề ANMT từ lâu đã trở thành vấn đề cấp bách, đe doa sự an toàn, ôn định và phát triển bền vững không chỉ đối với Việt Nam mà với toàn thế giới. Năm 1972, Hội nghị Liên Hợp Quốc về Môi trường và Con người tại Thụy Điển đã lần đầu tiên đưa ra van đề ANMT và thông qua Tuyên bố Stockholm, trong đó có nêu lên nhiệm vụ bảo vệ tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ động vật hoang dã, giữ cho sự ô nhiễm không vượt quá khả năng tự làm sạch của môi trường. Tới năm 1992, Hội đồng Bảo an Liên Hợp Quốc đã xác định các nguy cơ đe dọa ANMT như "sự khan hiếm tài nguyên thiên nhiên, suy thoái va ô nhiễm môi trường và những hiểm họa có thé gây suy yếu nền kinh tế, gia tăng đói nghèo, gia tăng bất 6n chính trị, thậm chí trở thành ngòi nỗ cho các cuộc xung đột và chiến tranh"”.
Theo Dự án Thiên niên kỷ: "ANMT là việc duy trì môi trường vật chất xung quanh xã hội cho nhu cầu của con người, đồng thời không làm suy giảm các nguồn tài nguyên thiên nhiên". Hội đồng An ninh Nga lại đưa ra định nghĩa: "ANMT là việc bảo vệ môi trường tự nhiên và các lợi ích thiết yếu của công dân, xã hội, nhà nước khỏi các quá trình, xu hướng phát triển và tác động tiêu cực từ cả bên trong và bên ngoài đe dọa sức khỏe con người, đa dạng sinh học, hoạt động bền vững của các hệ sinh thái và sự sống còn của nhân loại". Ở Việt Nam, van đề bảo đảm ANMT nhăm phát triển bền vững về kinh tế đã sớm được Đảng, Nhà nước quan tâm và cụ thé hóa trong các chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật. Biểu hiện rõ nét được thể hiện qua các văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc của Đảng Cộng sản Việt Nam.
Ngay từ Đại hội VII, trong Cương lĩnh xây dựng ? Tô Lâm, Nguyễn Xuân Yêm, Trần Vi Dân & và các tác giả (2017). An ninh phi truyền thống trong thời kỳ hội nhập quốc tê (tr. 3 United Nations Conference on the Human Environment (1972). 11 đất nước thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Đảng đã đề ra phương hướng "Tuân thủ nghiêm ngặt việc bảo vệ môi trường, giữ gìn cân bằng sinh thái cho thế hệ mai sau".
Đến Đại hội XI, Dang đã đề cập toàn diện, cụ thé và chi tiết hơn về van đề ANMT, theo đó cần "quản lý, khai thác, sử dụng hợp lý, tiết kiệm, hiệu quả và bền vững tài nguyên; lấy bảo vệ môi trường sống và sức khỏe của nhân dân là mục tiêu hàng dau; kiên quyết loại bỏ những dự án gây ô nhiễm môi trường, bảo đảm chất lượng môi trường sống, bảo vệ đa dạng sinh học và hệ sinh thái; xây dựng nền kinh tế xanh, kinh tế tuần hoàn, thân thiện với môi trường". Văn kiện Đại hội XIII cũng khăng định trách nhiệm bảo vệ môi trường là của toàn xã hội trong đó Nhà nước đóng vai trò chủ đạo; cần xây dựng hệ thống và cơ chế giám sát tài nguyên, môi trường; chan chỉnh công tác bảo vệ, thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm trong lĩnh vực quản lý tài nguyên, môi trường và thích ứng với biến đổi khí hậu; đấu tranh, ngăn chặn và xử lý nghiêm mọi hành vi vi phạm pháp luật về tài nguyên và môi trường, đây lùi tình trạng ô nhiễm, xâm hại môi trường, suy thoái tài nguyên và suy giảm đa dạng sinh học; thúc day xã hội hóa các hoạt động bảo vệ tài nguyên, môi trường. Từ những quan điểm trên, hệ thống chính sách pháp luật của Việt Nam về ANMT cũng đã dần hoàn thiện. Điều 3 Luật Bảo vệ môi trường 2014 quy định "An ninh môi trường là việc bảo đảm không có tác động lớn của môi trường đến sự ồn định chính trị, xã hội và phát triển kinh tế của quốc gia"*; Luật Công an nhân dân 2018 cũng quy định lực lượng Công an nhân dân có nhiệm vụ "Lam nòng cốt xây dựng nền an ninh nhân dân và thế trận an ninh nhân dân, xây dựng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc.