Chương 1: DAC DIEM TIEU THUYET HO ANH THAT TỪ GÓC NHÌN KÍ HIỆU HỌC VĂN HỌC. iới thuyết một số thuật ngữ liên quan 1. Kí hiệu học và kí hiệu học văn học 'Kí hiệu học dù manh nha lâu đời song thực tế sự xuất hiện và phát triển chỉ bắt đầu từ thế kỉ XX, rằm rộ hơn là từ những năm 1960 trở lại đây. Kí hiệu học (semiotics) là khoa học nghiên cứu về bản chất, chức năng, cơ chế hoạt động của kí hiệu và hệ thống kí hiệu.
Ferdinand de Saussure (1857 - 1913) và Charles Sander Pierce (1839 - 1914) được xem là những người đặt nền móng cho ngành khoa học này. Saussure - nhà ngôn ngữ học người Thụy Sĩ, người được coi là cha đẻ của ngành ngôn ngit hoe thé ky XX, quan niệm ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, mỗi kí hiệu ngôn ngữ có hai phương diện không thể tách rời nhau như hai mặt của một tờ giấy. Đó Tà cái biểu đạt và cái được biều đạt, Cái biểu đạt là mặt hình ảnh ~ âm thanh còn cái được biểu đạt là mặt khái niệm của kí hiệu. Saussure cho rằng nghĩa nảy sinh trên cơ sở mỗi quan hệ cái biểu đạt và cái được biểu đạt chứ không phải nảy sinh bởi sự quy chiếu đến đối tượng có trong hiện thực khách quan bên ngoài hệ thống ngôn ngữ.
Cụ thể, cái được biểu đạt là quan niệm của chúng ta về sự vật. Nhà ngôn ngữ học Thụy Sĩ quan niệm ngôn ngữ là hệ thống kí hiệu (sign) nhiều tầng được người bản ngữ chấp nhận, ghi nhớ, biễu và sử dụng trong khi giao tiếp với cộng đồng. Ông đặc biệt quan tâm đến thể lưỡng phân của ngôn ngữ gồm: năng biểusở biểu, tính có nguyên dofnh võ đoán, ngôn ngữilời nói, đồng đạiịch đại, trục kết hợp/ưrục liên tưởng, ngữ trgng/chuyén bin. Nếu mô hình: kí hiệu (sign) = cái biểu dat (significr) + cái được bigu dat (signified) của Saussure được xem là mô hình nhị phân thì Charles Sander Pierce - là một trí mô hình kí hiệu theo tương quan ba mặt gồm những yếu tố tồn tại trong sự tương tác lẫn nhau: đối tượng (object), ki higu (sign), si diễn giải (interpretaions) được gọi là mô hình tam phân.
Pieree, một kí hiệu luôn là cái gì đó trong quan hệ hoặc khả năng nào đó” và nó là "mọi thứ để xác định một thứ. gì khác” để ám chỉ đến một đổi tượng m nó được quy vào” Nhu vay, néu Saussure xem một kỉ hiệu được tạo thành trong mỗi quan hệ của nó với các kí hiệu khác rong một hệ théng thi Pierce xem một kí hiệu được tao thành trong mỗi quan hệ của nó với đối tượng được thay thể (Cé thé thay ca Peirce, lin Saussure du chon một đơn vị nhỏ nhất, không thé chia lầm đơn vị khởi điểm, có ý nghĩa nền tăng. Với Peirce, don vi nhd nhit nay la ki hiệu. Theo ông, kí hiệu không thể phân rã thành các thảnh phin nhỏ hơn và mang tỉnh thiết yêu từ góc độ kí hiệu học.
Những kí hiệu riêng lẻ giản đơn có thể tạo thành các tổ hợp kí hiệu phức tap hơn, thành các phát ngôn mà tổng thể của nó sẽ tạo thành ngôn. Cho nên, kí hiệu là thành tổ quan trọng hơn rắt nhiều so với ngôn ngũ: việc miêu tả chính xác các kí hiệu và quy tắc cú pháp của chúng sẽ tự động đảm bảo cho việc miều tả ngôn ngữ đúng đắn. Còn Saussure lấy cặp đổi lập ngôn ngữ và lời nói làm nền mồng xây dựng lí thuyết. Trong hệ thống lí thuyết này, hành vỉ giao tiếp riêng lẻ - sự trao đổi thông tin giữa người gửi và người nhận - được chọn làm đối tượng nghiên cứu như là nhân tổ khởi nguyên và là mô hình mẫu của mọi hành vi kí hiệu học.
Như vậy, hoạt động giao tiếp kỉ hiệu của cá nhân được xem là mô hình ngôn ngữ tự nhiên, những mô hình của các ngôn ngữ tự nhiên thì được xem là mô hình kí hiệu bọc tổng hợp, còn bản thân kí hiệu học thì được diễn giải như là sự ứng dụng mở rộng các phương pháp ngôn ngữ hoc vio những đối tượng không thuộc phạm vỉ ngôn ngữ học truyền thống. "Ngoài Saussure va Pierce thi Roland Barthes vi Umberto Beo cũng được biết đến như những nhà kí hiệu học nổi tiếng. Roland Barthes la một nhà lí luận văn hoe, Được xem như một trí thức hàng đầu ở Pháp thập niên 1960-1970, các ông đã có ảnh hưởng sâu rộng lên các lĩnh vực trong ngôn ngữ học như. cả nhân chủng học và đặc biệt là kí hiệu hoe.
Roland Barthes, tng hap những khái niệm ngữ học và kí hiệu học từ đầu thế kỹ đưa vào phê bình, tạo ra một cái nhìn khá toàn diện về các ngành nghệ thuật, và ngoài nghệ thuật. Dưới con mắt Barthes, mỗi hệ thống kí hiệu, đ có thể đối tượng khảo sát của phê bình. Ngoài ngôn ngữ viết, cở có các hệ thống kí hiệu khác như ngôn ngữ máy móc, ngôn ngữ điện ảnh, ngôn ngữ hội họa, ngôn ngữ truyền hình, ngôn ngữ vi tính v. Như vậy, phê bình kí hiệu học thực sự đi vào mọi kẽ ngách của đời sống hàng ngày, trở nên một thực thể lưỡng diện, vừa bác học, qua cách phân tích, lý giải, vừa bình dân, vì đối tượng của nó là những sinh hoạt của đời sống.
Lủi xa hơn trong bức tranh học thuật sôi động néi trên, Umberto Eco, mét triét gia, nhà văn, nhà phê bình và một nhà ký hiệu học người Ý, từng quan c đến ý thuyết kí hiệu học của Peiree luôn có ý thức gắn lý thuyết kí hiệu học với triết học nhân văn. Vấn đề mà Peiree từng day dứt đặt ra: "Con người là gì? Con người phải chăng là một kí hiệu?” đã được Eco tiếp tục tìm cách trảlời qua hệ thống lý thuyết kí hiệu học của mình: Con người là một động vật có tín ngưỡng; Con người luôn mang trên mình bai tín hiệu gắn với cãi xấu và cái đẹp; Con người là một cỗ máy sản xu hiệu khéng Id. Theo Eco, tin higu phải gắn với sự diễn giải. Đó là một sự pht triển cao nhất quan điểm mã văn bản của Barthes (ma văn hoá, mã giải thích, mã tượng trưng, mã ký hiệu, mã trằn thuật.
Chính trong kha năng diễn giải, ý nghĩa kỉ sản sinh. Tôm lại, đồng góp của Eco có tính đột biển đối với khoa nghĩ "Nếu R. Barthes đồng vai trò là người xây dựng phân môn kí hiệu học, Tả người có công phát triển và đổi mới căn bản. " Ngày nay, văn bản được nhiễu nhà kí hiệu học xem là đối tượng nghiên cứu trung tâm.
Các nhà ngôn ngữ học định nghĩa văn bản như là chuỗi kí hiệu trên câu, là một chỉnh thể thống nhất có tính trọn vẹn về nội dung và hoàn chỉnh về hình thức. Họ chủ yếu đi sâu vào các dạng văn bản ngôn ngữ thuộc các phong cách chức năng khác nhau. Trong khi đó, các nhà cấu trúc - kí hiệu học đi sâu vào vấn đề "nghĩa”, coi “nghĩa” như là Ốt lõi của văn bản. Văn bản nghệ thuật cũng là trung tâm nghiên cứu của cả trường phái Taru-Moskva mà người đi đầu là lu.
Bản thân Lotman đã đưa ra những quan niệm hết sức hiện đại về vẫn dé nay. Lotman (1928 - 1993) đã phát triển quan điểm kí hiệu học dựa trên truyền thống kí hiệu học ngôn ngữ khởi nguén tir Saussure, Lotman cho rằng: *Kí hiệu học văn hóa là bộ môn khoa học có nhiệm vụ khảo sát sự tương tắc giữa các hệ thống kí hiệu có cấu trúc khác nhau, khám phá sự vénh lệch, không đồng bộ tự bên trong của không gian kí hiệu học, nghiên cứu sự cằn thiết phải hiểu biết nhiều ngôn ngữ văn hóa hiệu học 36, tr. Vì thế, kí hiệu học có mỗi quan hệ chặt chẽ, gắn bó hữu cơ với văn hóa. Trong ngôn ngữ học cấu trúc của Saussure, ngôn ngữ là một hệ thống kí hiệu, là trung tâm của mọi mô tả học, Còn với kí hiệu học văn văn bản là trừng tâm trong quan niệm kí hiệu học của nó, Kí hiệu học văn hóa nghiên cứu các văn bản ‘Vain ban văn học sử dụng ngôn ngữ văn học nên nó là một hệ thống kí hiệu phục vụ cho giao tiếp.
Đó là sự giao tiếp giữa tác giả và bạn đọc. Nhưng hơn thể nữa, nếu ngữ là được sắp đặt bằng một dang thức đặc biệt! [35, tr25] thì văn bản văn học cũng chính là một ngôn ngữ. Đi đặc biệt là hệ thống ngôn ngữ này được cấu thành từ bệ thống kí hiệu trước đỗ là ngôn ngữ tự nhiên, song đã được tải mã hóa. Mỗi văn bản được tii mi héa theo một cách khác nhau, ngữ.
Đến lượt độc giả, muốn đọc được “ngôn ngữ” này, độc giả nỈ ngữ của nó, Ở Việt Nam, cho đến nay, công trình lí luận về kí hiệu học không nhiều. Các nhà lí luận quan tâm đến kí hiệu học đều tìm cách định nghĩa hái niệm có nội hàm tông này. “heo Từ điển thuật ngữ Văn học (Lê Bá Hán - Trần Đình Sử- Nguyễn Khắc Phi đồng chủ biên): “Ki higu học là khoa học về các kí hiệu và hệ thống kí hiệu (semiology) nghiên cứu mọi phương thức giao tiếp (truyền thông tin) bing các biểu trưng, Ki hiệu học khảo sắt sự gián tiếp của động vật, của con người và các quan hệ trong hệ thống "người - máy”. Những khách thể nào có thể khảo sát được như những ngôn ngữ đều là đối tượng của kí hiệu học” [21, tr.
Theo các tác giả việc *Vận dụng kí hiệu học vào văn học nghệ thuật cho phép nhìn nhận phương diện bắt biến của 2 chúng như những ngôn ngữ độc lập: "ngôn ngữ ba lê”, "ngôn ngữ xiếc”, "ngôn ngữ phim câm”, "ngôn ngữ kịch nói”, *Ngôn ngữ các thể loại”. Kí hiệu học cũng chú ý đến các đặc điểm cá nhân ở văn bản. Nếu trước đó văn bản chỉ được coi như sự thực hiện các mô hình ngôn ngữ thì lúc này nó được nghiên cứu trong sự sung đột với ngôn ngữ ~ như kẻ tham dự trở chơi *thực thì - không thực thi” ede quy tắc cấu trúc. Qua chức ig nay, van ban hiện diện không chỉ như vật truyền thông tin thụ động mả còn như nguồn phát thông tìn, văn bản trở thành kẻ tham dự tích cực vào một hệ thống năng động: ngôn ngữ - tác giả - công chúng.
Mặc khác, kí hiệu học cũng tương quan giữa văn bản với ngữ cảnh văn hóa rộng” [21, tr 166] ‘Trong công trình Từ kí hiệu đổn biểu tượng, Trịnh Ba Binh cho ring: “Ki hiệu học trước hếtlà kí hiệu văn hóa.