Chương 1 QUAN NIỆM NGHỆ THUẬT VỀ CON NGƯỜI 1. Một số vấn đề lí luận Con người là đối tượng chủ yếu của văn học. Sáng tạo văn chương là một hoạt động tinh thần, nhận thức nên bao giờ cũng mang tính quan niệm. Phản ánh và thể hiện con người, tất nhiên văn học không thể không có quan niệm về con người.
Quan niệm nghệ thuật về con người là một trong những phạm trù quan trọng nhất của thi pháp học. Quan niệm đó hướng ta nhìn về đối tượng chủ yếu của văn học - đối tượng trung tâm của quan niệm thẩm mĩ của người nghệ sĩ. Hình tượng nghệ thuật (nhân vật - con người) xuất hiện trong tác phẩm bao giờ cũng mang tính quan niệm của tác giả. Với đặc trưng là ngành nghệ thuật ngôn từ, văn học đã khám phá con người bằng cách thức riêng của mình với tất cả sự phong phú, phức tạp và bí ẩn của thế giới nội tâm con người.
Vì vậy, thi pháp học đưa ra khái niệm: “Quan niệm nghệ thuật về con người là sự lý giải, cắt nghĩa, sự cảm thấy con người đã được hóa thân thành các nguyên tắc, phương tiện, biện pháp thể hiện con người trong văn học, tạo nên giá trị nghệ thuật và thẩm mĩ cho các hình tượng trong đó” [81;tr. Bởi con người trong văn học chính là nơi thể hiện trình độ tổng hợp của nhận thức và thể hiện nghệ thuật, là phương pháp sáng tác, phong cách, thế giới quan trong sự vận động của chính tác giả. Con người trong văn học thực chất là sự cắt nghĩa và quan niệm về con người được thể hiện bằng hình tượng nghệ thuật, trong cách miêu tả con người, trong các hệ thống, các hình ảnh tượng trưng, các nguyên tắc miêu tả tính cách, tâm lý… Con người trong văn học không phải là con người có trong thực tế và tâm hồn nhà văn cũng không phải là tấm gương đơn thuần cho sự vật phản chiếu vào một cách cơ học, máy móc. Nhà văn sáng tạo ra nhân vật bao giờ cũng theo những cách hình dung, cũng như cách cảm nhận của riêng mình.
Bởi trong nghệ thuật, sự miêu tả bao giờ cũng nhằm đạt một lúc hai mục đích: Thứ nhất, gợi ra khách thể, sự vật được hiện diện trước mắt; thứ hai, gợi ra chủ thể, sự cảm thụ, cách nhìn chủ quan với z 15 chúng. Như nhà nghiên cứu Trần Đình Sử đã nhận định: “Chính phương diện cảm thụ này (tức bản thân nhà văn - TVT), cách nhìn này là quan niệm nghệ thuật về con người đối với nhân vật, mà muốn cảm thụ nhân vật một cách chỉnh thể, toàn vẹn thì không thể bỏ qua được” [81;tr. Như vậy, muốn khám phá sự cảm nhận về con người tới mức độ nào thì cần phải khám phá quan niệm nghệ thuật về con người thể hiện trong hình thức miêu tả nhân vật. Theo Trần Đình Sử: “Phân tích thi pháp là khám phá cách cảm nhận con người qua việc miêu tả nhân vật chứ không phải chỉ ra những nội dung phong phú được thể hiện trong nhân vật [81;tr.
Tuy nhiên, hai nhiệm vụ này không thể tách rời nhau, giữa chúng có mối quan hệ biện chứng với nhau. Một khi đã hiểu quan niệm con người được miêu tả thì sẽ hiểu nhân vật sâu sắc và toàn diện hơn. Phạm trù quan niệm nghệ thuật mà chúng tôi đang nói đến ở đây thuộc phạm vi ý thức và nó gắn liền với ý thức về chức năng, nhiệm vụ, khả năng của văn học. Để hiểu một tác phẩm, một tác giả, một trào lưu, một giai đoạn văn học, không thể không xem xét đến quan niệm nghệ thuật về con người.
Bởi con người bao giờ cũng là cái đích khám phá của nghệ thuật. Hiểu được các nguyên tắc cắt nghĩa và cảm nhận con người, sẽ hiểu được vai trò sáng tạo của nhà văn trong việc thâm nhập và chiếm lĩnh đời sống. Hơn nữa, tác phẩm văn học nói chung và truyện ngắn nói riêng bao giờ cũng phản ánh đời sống bằng hình tượng và diễn đạt bằng nghệ thuật ngôn từ nhằm phản ánh tư tưởng và tình cảm của con người. Trong thế giới hình tượng đó thì hình tượng nhân vật của truyện ngắn không phải là sự sao chép mọi chi tiết của con người có thực ngoài đời mà chỉ là những “lát cắt” về một thời điểm, một biến cố nhất định trong cuộc đời của nhân vật.
Trong hệ thống nhân vật, xét theo vai trò thì có nhân vật chính, nhân vật phụ, nhân vật trung tâm, trong đó nhân vật chính là phương tiện cơ bản để nhà văn phát biểu quan niệm của mình về con người, cũng như về hiện thực đời sống. Và ở đây, chúng tôi đi tìm hiểu và lí giải quan niệm nghệ thuật về con người và các kiểu nhân vật của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn trước Cách mạng. Quan niệm về con người của Nguyễn Tuân trong truyện ngắn 1. Nguyễn Tuân là nhà văn suốt đời đi tìm kiếm “cái Đẹp” và “cái thật” (Nguyễn Đình Thi).
Ông là một nghệ sĩ theo đúng nghĩa của danh từ ấy. Chính vì thế, các nhân vật của ông thường là những con người tài hoa, nghệ sĩ có cốt cách nho nhã, ung dung tự tại, đi tìm cái Đẹp trong các thú chơi tao nhã trong văn hoá ứng xử, văn hoá ẩm thực của dân tộc như: nghệ thuật thư pháp, hội hoạ, âm nhạc, nghệ thuật uống trà, chơi hoa quý… Ở VBMT, trong thiên truyện Những chiếc ấm đất, Nguyễn Tuân dường như có dụng ý lấy đôi câu đối của cụ Tú Hải Văn để đưa ra tuyên ngôn nghệ thuật về xây dựng kiểu nhân vật tài hoa nghệ sĩ: “Họ lịch sự như tiên, phú quý như giời, quất con ngựa rong chơi ngoài ngõ liễu. Ta trồng cỏ đầy vườn, vãi hoa đầy đất, gọi hề đồng pha nước trước hiên mai” [9;tr. Và xét trong hệ thống nhân vật mà Nguyễn Tuân đã dày công xây dựng ta thấy rất rõ quan niệm này của nhà văn.
Nguyễn Tuân trước Cách mạng là một hiện tượng văn học phức tạp. Trong ông luôn tồn tại nhiều tư tưởng, quan niệm đối lập, đấu tranh với nhau. Điều đó phần nào tạo nên nhưng mâu thuẫn trong thế giới quan của ông. Tuy nhiên, như K.
Marx chỉ ra: Sự thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập là động lực của sự phát triển. Phức tạp là thuộc tính vốn có của văn học nói chung và của tư tưởng nhà văn nói riêng. Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng: Nguyễn Tuân là nhà văn “nghệ thuật vị nghệ thuật”. Bản thân ông trong tác phẩm của mình đã hơn một lần thừa nhận điều đó: “Mỹ Thuật vốn không bà con với Luân Lý của thời đại.
Một thằng ăn cắp đã trở nên đẹp đẽ vô cùng khi hắn cắt túi người ta rất gọn và nhanh” [9;tr. Và ở trong một tác phẩm khác, ông cũng từng mong muốn: “Đã có bao giờ tôi được viết để ca ngợi những cái gì mà người khác đều gọi là vô ích… được cùng ngậm ngùi với đời tình ái của một cánh bèo” (Những đứa con hoang). z 17 Về điểm này, ta thấy Nguyễn Tuân có nhiều điểm “gặp gỡ” Thạch Lam và các nhà văn Tự Lực văn đoàn. Thạch Lam cũng quan niệm: Văn chương là văn chương, văn chương chỉ vì nghệ thuật, vì cái Đẹp mà thôi.
Tuy nhiên, do cách tiếp cận, khám phá của mỗi nhà văn khác nhau mà trong tác phẩm của họ sự biểu hiện đậm nhạt cũng khác nhau. Nếu như cái Đẹp của Nguyễn Tuân thường hướng vào sự cầu kỳ, khác lạ ít ai làm được, gắn với một thời “vang bóng”, được thể hiện đa dạng, độc đáo, mỗi chữ dùng là một dụng công nghệ thuật và in dấu tài hoa của nhà văn thì Thạch Lam đi sâu vào cái Đẹp nhân tính, cái Đẹp của tình người, dù ở đâu, trong hoàn cảnh nào, tầng lớp người nào thì điều nhà văn quan tâm là phát hiện cho được nét đẹp bên trong, vẻ đẹp tâm hồn của họ để đồng cảm, để ngợi ca. Đó là nét độc đáo trong sáng tạo của mỗi nhà văn. Có thể nói, Nguyễn Tuân là một nhà văn thiên về cảm giác, thích “xê dịch”, viết là để trải lòng mình, để thể hiện cái tôi ngông nghênh bất chấp, ngang bướng với thiên hạ.
Tuy là một nhà văn thích những điều mới lạ, những sự nghịch lý nhưng nói như ý của Nguyễn Đăng Mạnh, ông giống mà lại không đồng chí hướng với quan niệm của Oscar Wilde - người muốn đặt nghệ thuật lên trên cuộc sống và từng cho rằng bản ngã của người nghệ sĩ là thực tại duy nhất mà nghệ thuật cần phản ánh. Nguyễn Tuân viết: “Đời sống chúng ta có rất nhiều động tác và biến cố, tự nhiên nó đã đủ chân giá kỳ thú rồi… Viết “Am sông Tô”, tôi muôn bắt trái lại câu của Oscar Wilde chủ trương cho rằng: Cuộc sống bắt chước nghệ thuật nhiều hơn là nghệ thuật phỏng theo cuộc đời” [57;tr. Trong truyện Nhà Nguyễn, Nguyễn Tuân cũng để cho nhân vật Nguyễn có một đoạn đối thoại về những kẻ bất tài mang tính triết lí và đậm chất nhân văn. Bằng so sánh, liên tưởng độc đáo, Nguyễn Tuân đã dựng nên chân dung kẻ bất tài thích huênh hoang học đòi, qua đó gửi gắm những quan niệm về vị trí, trách nhiệm và trên hết là thiên lương của người cầm bút đương thời.
Đoạn văn này đã được nhà nghiên cứu Vũ Ngọc Phan sánh ngang với những trang viết của La Bruyère trong tác phẩm Những tính cách (Les Caractères) khi lột tả được bộ mặt của những kẻ trí thức rởm đời. z 18 Những năm đầu thập kỷ 40 của thế kỷ XX, Nguyễn Tuân đã trở lại sáng tác các truyện ngắn theo mạch yêu ngôn mà khởi nguyên từ truyện ngắn đầu tiên đăng báo Vườn xuân lan tạ chủ (1935). Nguyễn Tuân đã làm người đọc say lòng trước vẻ đẹp diễm ảo của một “Túy lan trang”. Sở dĩ vườn lan có tên ấy vì lẽ giống lan quý trong vườn có gốc tích tận núi thiêng Yên Tử và chăm bón cũng rất công phu và đặc biệt: “Mỗi bận xuân về, sớm sớm, chủ nhân lại phải cho cả vườn Túy lan say với hương rượu thời cái vương giả hương ấy mới còn ở với người thế gian.
Ngày xuân phải bón lan bằng hương rượu” [9;tr. Mà phải là thứ “rượu khê” cất ở làng Vĩnh Trị, một làng cất rượu ngon nổi tiếng bên hữu ngạn sông Mã. Tuy nhiên, vườn lan “tạ chủ” thì nghề cất rượu khê cũng thất truyền từ thuở ấy.