Phân tích thực trạng kê đơn thuốc trong quản lý nội trú bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp - BV Hữu Nghị

Nghiên cứu phân tích thực trạng kê đơn thuốc tại Bệnh viện Hữu Nghị, tập trung vào quản lý nội trú bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp. Cung cấp cái nhìn tổng

Trường đại học

Đại học Dược Hà Nội

Chuyên ngành

Dược lâm sàng

Người đăng

Ẩn danh

Thể loại

Luận văn thạc sĩ

2021

152
0
0

Phí lưu trữ

45 Point

Tóm tắt

I. Tổng quan về hội chứng mạch vành cấp và kê đơn thuốc

Hội chứng mạch vành cấp (HCMVC) là nguyên nhân hàng đầu gây tử vong do tim mạch trên toàn cầu. Bệnh biểu hiện qua nhồi máu cơ tim ST chênh lên, nhồi máu cơ tim không ST chênh lên và cơn đau thắt ngực không ổn định. Tại Việt Nam, gánh nặng bệnh lý này ngày càng gia tăng. Quản lý nội trú bệnh nhân HCMVC đòi hỏi phác đồ điều trị chuẩn hóa. Các nhóm thuốc chủ chốt bao gồm kháng kết tập tiểu cầu, thuốc chẹn beta giao cảm, statin và thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể. Bệnh viện Hữu Nghị Hà Nội là cơ sở y tế tuyến trung ương, tiếp nhận số lượng lớn bệnh nhân tim mạch. Nghiên cứu phân tích thực trạng kê đơn tại đây giúp đánh giá mức độ tuân thủ hướng dẫn điều trị quốc gia. Kết quả nghiên cứu cung cấp bằng chứng khoa học cho việc cải thiện chất lượng chăm sóc bệnh nhân HCMVC.

1.1. Định nghĩa và phân loại hội chứng mạch vành cấp

Hội chứng mạch vành cấp là nhóm bệnh lý tim mạch xảy ra khi dòng máu đến cơ tim bị giảm đột ngột. Nguyên nhân thường do vỡ mảng xơ vữa động mạch vành, hình thành huyết khối gây hẹp hoặc tắc lòng mạch. Phân loại HCMVC dựa trên điện tâm đồ gồm ba thể chính. Thể nhồi máu cơ tim có ST chênh lên chiếm khoảng 13,9% trong mẫu nghiên cứu tại Bệnh viện Hữu Nghị. Thể hội chứng vành cấp không ST chênh chiếm tỷ lệ cao hơn, đạt 86,1%. Mỗi thể có phác đồ điều trị và tiên lượng khác nhau. Việc phân loại chính xác giúp bác sĩ lựa chọn chiến lược điều trị phù hợp.

1.2. Các nhóm thuốc điều trị cơ bản trong quản lý nội trú

Điều trị nội trú HCMVC sử dụng nhiều nhóm thuốc với cơ chế tác dụng khác nhau. Nhóm kháng kết tập tiểu cầu ngăn ngừa hình thành huyết khối mới. Thuốc chẹn beta giao cảm giảm nhu cầu oxy cơ tim và kiểm soát nhịp tim. Statin hạ mỡ máu và ổn định mảng xơ vữa. Thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể bảo vệ chức năng tim. Ngoài ra, thuốc chống đông heparin được sử dụng trong giai đoạn cấp. Mỗi nhóm thuốc đều có chỉ định cụ thể theo hướng dẫn của Bộ Y tế. Bác sĩ cần đánh giá toàn diện tình trạng bệnh nhân trước khi kê đơn.

II. Phân tích thực trạng kê đơn thuốc tại bệnh viện Hữu Nghị

Nghiên cứu tiến hành trên 187 bệnh nhân HCMVC nhập viện Bệnh viện Hữu Nghị. Kết quả cho thấy đặc điểm kê đơn có nhiều điểm đáng chú ý. Nhóm statin được kê đơn phổ biến nhất với tỷ lệ 60% bệnh nhân có tiền sử sử dụng. Atorvastatin là statin được ưu tiên lựa chọn, chiếm 45 trên tổng số 48 trường hợp. Thuốc ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể đứng thứ hai với 44,4%. Nhóm kháng kết tập tiểu cầu đơn đạt 34,5%. Tỷ lệ kê đơn thuốc chẹn beta còn thấp, chỉ 23,5%. Kháng kết tập tiểu cầu kép được sử dụng ở 11,2% bệnh nhân. Về biện pháp điều trị can thiệp, 63,6% bệnh nhân được can thiệp mạch vành qua da. Tỷ lệ nong bóng chiếm 5%. Các yếu tố nguy cơ phổ biến gồm tăng huyết áp 81,8%, đái tháo đường 31,6%, rối loạn lipid máu 19,8%. Tiền sử suy thận chiếm 15%. Những số liệu này phản ánh thực tế kê đơn tại cơ sở nghiên cứu.

2.1. Đặc điểm sử dụng thuốc kháng kết tập tiểu cầu và statin

Thuốc kháng kết tập tiểu cầu đóng vai trò nền tảng trong điều trị HCMVC. Nghiên cứu ghi nhận 34,5% bệnh nhân dùng kháng kết tập đơn và 11,2% dùng kép. Tỷ lệ kháng kết tập kép thấp hơn kỳ vọng so với khuyến cáo. Nhóm statin đạt tỷ lệ kê đơn cao nhất trong các thuốc dự phòng thứ phát. Atorvastatin chiếm ưu thế rõ rệt với 93,7% trong tổng số trường hợp dùng statin. Rosuvastatin chỉ được kê đơn cho một trường hợp duy nhất. Điều này cho thấy xu hướng kê đơn tập trung vào một hoạt chất. Việc đa dạng hóa lựa chọn statin cần được xem xét thêm.

2.2. Đặc điểm sử dụng thuốc chẹn beta và thuốc ức chế men chuyển

Thuốc chẹn beta được khuyến cáo sử dụng rộng rãi cho bệnh nhân HCMVC. Tuy nhiên, tỷ lệ kê đơn tại bệnh viện Hữu Nghị chỉ đạt 23,5%. Đây là con số thấp so với hướng dẫn điều trị quốc gia. Các thuốc chẹn beta được lựa chọn gồm carvedilol, bisoprolol và metoprolol. Nhóm ức chế men chuyển hoặc chẹn thụ thể có tỷ lệ kê đơn cao hơn, đạt 44,4%. Thuốc nhóm này bảo vệ cơ tim và ngăn remodeling thất trái. Cần đánh giá nguyên nhân dẫn đến tỷ lệ kê đơn chênh lệch giữa các nhóm thuốc. Rào cản có thể đến từ kiến thức bác sĩ hoặc lo ngại tác dụng phụ.

III. Giải pháp nâng cao chất lượng kê đơn thuốc HCMVC

Cải thiện kê đơn thuốc HCMVC đòi hỏi tiếp cận đa chiều. Hệ thống bệnh viện cần xây dựng phác đồ nội bộ dựa trên hướng dẫn quốc gia và quốc tế. Đào tạo liên tục cho đội ngũ bác sĩ lâm sàng là yếu tố then chốt. Dược sĩ lâm sàng đóng vai trò quan trọng trong kiểm tra và tư vấn kê đơn. Ứng dụng công nghệ thông tin hỗ trợ ra quyết định kê đơn giúp giảm sai sót. Cảnh báo tương tác thuốc và chống chỉ định trên hệ thống máy tính có hiệu quả thiết thực. Xây dựng bảng kê đơn tiêu chuẩn cho từng thể HCMVC giúp chuẩn hóa quy trình. Giám sát và đánh giá định kỳ mức độ tuân thủ khuyến cáo cần được thực hiện. Nghiên cứu rào cản trong kê đơn giúp xác định nguyên nhân gốc rễ. Từ đó, can thiệp đúng mục tiêu và cải thiện kết quả điều trị bệnh nhân.

3.1. Xây dựng phác đồ điều trị chuẩn hóa và đào tạo nhân viên

Phác đồ điều trị chuẩn hóa là nền tảng cho kê đơn hợp lý. Bệnh viện cần ban hành hướng dẫn nội bộ dựa trên khuyến cáo của Bộ Y tế và các tổ chức tim mạch quốc tế. Chương trình đào tạo liên tục giúp cập nhật kiến thức cho bác sĩ. Nội dung đào tạo bao gồm chỉ định, liều dùng, chống chỉ định và theo dõi tác dụng phụ của từng nhóm thuốc. Hội thảo chuyên đề với sự tham gia của chuyên gia tim mạch nâng cao hiệu quả học tập. Đánh giá kiến thức trước và sau đào tạo giúp đo lường hiệu quả. Sự phối hợp giữa khoa Dược và khoa Tim mạch cần được tăng cường.

3.2. Vai trò của dược sĩ lâm sàng trong kiểm tra kê đơn

Dược sĩ lâm sàng là cầu nối giữa bác sĩ kê đơn và người bệnh. Họ tham gia kiểm tra tính hợp lý của đơn thuốc hàng ngày. Phát hiện các vấn đề như tương tác thuốc, liều không phù hợp hoặc thiếu thuốc khuyến cáo. Tư vấn cho bác sĩ điều chỉnh đơn thuốc khi cần thiết. Theo dõi đáp ứng điều trị và tác dụng không mong muốn ở bệnh nhân. Giáo dục bệnh nhân về cách sử dụng thuốc đúng cách trước khi xuất viện. Nghiên cứu cho thấy can thiệp của dược sĩ lâm sàng giảm tỷ lệ sai sót thuốc. Mô hình làm việc nhóm đa chuyên ngành cải thiện kết quả lâm sàng.

IV. Kết luận và ứng dụng thực hành kê đơn thuốc tim mạch

Nghiên cứu cung cấp bức tranh toàn cảnh về kê đơn thuốc HCMVC tại bệnh viện Hữu Nghị. Kết quả cho thấy mức độ tuân thủ hướng dẫn điều trị ở một số nhóm thuốc tốt. Tuy nhiên, tỷ lệ kê đơn thuốc chẹn beta còn thấp so với khuyến cáo. Statin và thuốc ức chế men chuyển được sử dụng tương đối đầy đủ. Đặc điểm bệnh nhân phù hợp với đặc thù bệnh viện tuyến trung ương. Tỷ lệ can thiệp mạch vành qua da cao phản ánh năng lực chuyên môn kỹ thuật. Các yếu tố nguy cơ phổ biến cần được kiểm soát tích cực hơn. Nghiên cứu đề xuất cần tăng cường kê đơn thuốc chẹn beta theo hướng dẫn. Ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực hành giúp nâng cao chất lượng điều trị. Các nghiên cứu tiếp theo nên mở rộng mẫu và đa trung tâm để có kết quả đại diện hơn.

4.1. Tóm tắt các phát hiện chính của nghiên cứu

Nghiên cứu phân tích 187 bệnh nhân HCMVC nội trú tại bệnh viện Hữu Nghị. Đặc điểm nhân khẩu học cho thấy bệnh nhân nam chiếm đa số, tuổi trung bình cao. Hội chứng vành cấp không ST chênh phổ biến hơn thể có ST chênh lên. Tỷ lệ can thiệp mạch vành qua da đạt 63,6%. Về kê đơn, statin dẫn đầu với 60% bệnh nhân có tiền sử sử dụng. Thuốc ức chế men chuyển đạt 44,4%, kháng kết tập tiểu cầu đơn 34,5%. Tỷ lệ thuốc chẹn beta chỉ 23,5%, cần cải thiện. Tăng huyết áp là yếu tố nguy cơ phổ biến nhất.

4.2. Hướng phát triển và đề xuất cho thực hành lâm sàng

Bệnh viện cần xây dựng quy trình kê đơn dựa trên bằng chứng khoa học. Thiết lập hệ thống giám sát kê đơn liên tục giúp phát hiện sai sót sớm. Nghiên cứu đa trung tâm trên diện rộng giúp đánh giá thực trạng toàn quốc. Ưu tiên đào tạo về chỉ định thuốc chẹn beta cho bác sĩ lâm sàng. Tích hợp dược sĩ lâm sàng vào đội ngũ chăm sóc bệnh nhân tim mạch. Ứng dụng trí tuệ nhân tạo hỗ trợ kê đơn là hướng đi tiềm năng. Đánh giá hiệu quả can thiệp qua tỷ lệ biến cố tim mạch và tử vong. Xây dựng tiêu chí đánh giá chất lượng kê đơn theo chuẩn quốc tế.

Tóm tắt và mô tả trên trang này được tạo với sự hỗ trợ của AI từ nội dung tài liệu gốc; tài liệu do người dùng đóng góp và được kiểm duyệt trước khi xuất bản. Báo lỗi nội dung.

21/04/2026
Phân tích thực trạng kê đơn sử dụng thuốc trong quản lý nội trú bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp tại bệnh viện hữu nghị

Trích đoạn nội dung tài liệu

ĐẶT VẤN ĐỀ Hội chứng mạch vành cấp (HCMVC) là tình trạng bệnh mạch vành cấp đặc trưng bởi thiếu máu cơ tim gây ra bởi sự xơ vữa mạch vành diễn ra đột ngột, dẫn tới chuỗi phản ứng, gây ra chèn ép thành mạch, hậu quả cuối cùng dẫn tới cơn đau thắt ngực không ổn định hoặc nhồi máu cơ tim cấp (NMCT), thậm chí đột tử [42]. Theo số liệu thống kê bệnh mạch vành là một trong những nguyên nhân phổ biến dẫn tới tử vong tim mạch ,cũng như gây biến chứng nặng nề về sau và có xu hướng tăng lên (theo WHO ước tính 17,9 triệu người tử vong vào năm 2016, 85% do đột quỵ và đau tim) [41]. Thậm chí, nhiều nghiên cứu đã chỉ ra tỷ lệ tử vong do biến cố tim mạch còn cao hơn sau nhồi máu cơ tim, do nguy cơ tái phát nhồi máu cơ tim tăng tuyến tính đến 5 năm [40], [53], [127]. Sự ra đời của biện pháp tái tưới máu sớm như PCI, đồng thời sử dụng các nhóm thuốc kháng kết tập tiểu cầu kép, chống đông, chẹn beta, ức chế men chuyển/chẹn thụ thể AT1 và statin đã cải thiện đáng kể tỉ lệ biến chứng cũng như tử vong do HCMVC [39], [40], [82], [121].

Hiện nay đã có các nhiều hướng dẫn điều trị dựa trên bằng chứng, có tính cấp nhật như ESC, ACC/AHA về sử dụng thuốc trong quản lý HCMVC [7], [41]. Các nghiên cứu trên thế giới đã ghi nhận tỷ lệ kê đơn các nhóm thuốc trên thấp (<70%), riêng nhóm kháng kết tập tiểu cầu được kê với tỷ lệ cao hơn (>80%) [8], [14], [105]. Tuân thủ kém các hướng dẫn điều trị có thể gây gia tăng tỷ lệ tử vong và biến cố tim mạch hơn so với tuân thủ tốt [40], [80]. Các rào cản đã được chỉ ra ở một số nghiên cứu dẫn đến kém tuân thủ trong kê đơn thuốc điều trị HCMVC theo hướng dẫn gồm rào cản liên quan bác sĩ điều trị hoặc do các yếu tố bên ngoài (hệ thống điều trị, hướng dẫn, bệnh nhân …) [89], [106].

Hiện hay chưa có nhiều thống kê về HCMVC tại Việt Nam. Theo WHO bệnh tim mạch vẫn là một trong những nguyên nhân tử vong đứng đầu Việt Nam với tỷ lệ tử vong năm 2016 là 31% tương đương với 170 000 người. Tại Việt Nam vào năm 2019, Bộ Y tế đã ban hành phác đồ “Hướng dẫn chẩn đoán và xử trí hội chứng mạch vành cấp”, tuy nhiên cho tới nay chưa có số liệu chính thức về tỷ lệ kê đơn phù hợp theo đúng hướng dẫn điều trị của Bộ y tế hay các hướng dẫn khác tại Việt Nam. Trong một nghiên cứu 1 của Nguyễn Thắng và cộng sự vào năm 2015 khi nghiên cứu về tỷ lệ bác sĩ kê đơn bám sát điều trị theo hướng dẫn cho thấy chưa đạt được sự tối ưu, cụ thể trong kê đơn chẹn beta và liều nạp của clopidogrel [115].

Bệnh viện Hữu Nghị là bệnh viện đa khoa hạng I trực thuộc Bộ Y tế và là bệnh viện chăm sóc sức khỏe tuyến đầu, chăm sóc cho chủ yếu là người bệnh cao tuổi, tỉ lệ cao mắc các bệnh lý tim mạch. Qua hoạt động của dược sĩ lâm sàng ghi nhận một số vấn đề sử dụng thuốc chưa tối ưu trên nhóm bệnh nhân này như các nhóm kháng kết tập tiểu cầu, chống đông, thuốc chẹn beta, statin. Tại đây chưa có nghiên cứu một cách toàn diện về thực trạng kê đơn thuốc điều trị hội chứng mạch vành cấp cũng như chưa có nghiên cứu tìm hiểu về quan điểm của bác sĩ kê đơn trong việc áp dụng các khuyến cáo trong quản lý hội chứng mạch vành cấp. Do đó, nghiên cứu “Phân tích thực trạng kê đơn thuốc trong quản lý nội trú bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp tại Bệnh viện Hữu Nghị” được tiến hành với hai mục tiêu sau: 1.

Phân tích đặc điểm kê đơn một số nhóm thuốc được khuyến cáo bởi Hướng dẫn điều trị trong quản lý nội trú bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp tại Bệnh viện Hữu Nghị. Xác định rào cản trong việc áp dụng khuyến cáo của Hướng dẫn điều trị đối với quản lý nội trú bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp tại Bệnh viện Hữu Nghị. Từ kết quả của nghiên cứu, xác định được tính phù hợp trong kê đơn thuốc trên bệnh nhân hội chứng mạch vành cấp và quan điểm của bác sĩ về vấn đề này, để có thể đưa ra các biện pháp thống nhất tốt hơn trong sử dụng thuốc phù hợp, hiệu quả, an toàn đối với điều trị nội trú hội chứng mạch vành cấp. Tổng quan quản lý hội chứng mạch vành cấp 1.1 Sơ lược hội chứng mạch vành cấp 1.1 Khái niệm Hội chứng động mạch vành cấp hay còn được gọi tắt là hội chứng mạch vành cấp (HCMVC) là một thuật ngữ dùng để miêu tả các nhóm biểu hiện lâm sàng bao gồm thiếu máu cơ tim cấp tính và/hoặc nhồi máu có liên quan đến biến cố tổn thương động mạch vành do giảm đột ngột lưu lượng động mạch vành [2], [7].

Theo Bộ Y tế Việt Nam hội chứng mạch vành cấp bao gồm: (1) Nhồi máu cơ tim cấp có đoạn ST chênh lên trên điện tâm đồ (ST Elevation Myocardial Infarction-NMCT cấp ST chênh); (2) Hội chứng mạch vành cấp không có ST chênh lên (Non ST Elevation Acute coronary syndrome - HCMVC ST không chênh) [2]. HCMVC ST không chênh bao gồm nhồi máu cơ tim cấp không ST chênh lên (Non-ST-Elevation Myocardial Infarction-NMCT cấp ST không chênh) và đau thắt ngực không ổn định (CĐTNKÔĐ) tương tự nhau về triệu chứng và điều trị [2]. Khác nhau là NMCT cấp ST không chênh có sự tăng lên của chất chỉ điểm sinh học cơ tim hay dấu ấn sinh học cơ tim, ngược lại trong CĐTNKÔĐ không có sự thay đổi này [2], [75].2 Dịch tễ Bệnh tim mạch vành (BTMV) là nhóm bệnh liên quan tình trạng rối loạn tim và mạch máu. Một dạng bệnh phổ biến của BTMV là bệnh tim thiếu máu cục bộ (TMCB) bao gồm HCMVC và đau thắt ngực ổn định.

Bệnh lý TMCB và đột quỵ là hai nguyên nhân chính dẫn tới tăng tỷ lệ biến chứng và tỷ lệ tử vong với 85,1% ca tử vong do bệnh lý tim mạch, được ghi nhận vào năm 2015 trên toàn thế giới [56]. Tại Việt Nam, BTMV là một trong những nguyên nhân hàng đầu dẫn đến tử vong [55], [108]. Tỷ lệ HCMVC ST không chênh và NMCT cấp ST chênh lên ngày càng tăng và giảm tương ứng. Bệnh nhân HCMVC ST không chênh có nhiều bệnh lý mắc kèm cả về tim mạch và không phải tim mạch hơn bệnh nhân NMCT cấp ST chênh [7], [41].

3 Độ tuổi: Khoảng 60-65% bệnh nhân nhồi máu cơ tim cấp ở độ tuổi ≥65, 33% xuất hiện ở độ tuổi ≥75. Thêm vào đó, 80% bệnh nhân tử vong liên quan đến nhồi máu cơ tim cấp xuất hiện ở bệnh nhân ≥ 65 tuổi. Thống kê cho thấy bệnh nhân cao tuổi thường mắc HCMVC ST không chênh hơn là NMCT cấp ST chênh, bệnh nhân độ tuổi ≥75 có tỷ lệ tử vong cao khi điều trị nội trú, tần suất tái NMCT và chảy máu đều cao [67]. Giới tính: Tỷ lệ mắc bệnh giữa nam và nữ khoảng 3:2 [7], [83].

Tuy nhiên, phụ nữ càng lớn tuổi tỷ lệ mắc bệnh càng tăng, thường trên 70 tuổi, và nhồi máu cơ tim cấp vẫn là nguyên nhân tử vong hàng đầu ở phụ nữ. Mặc dù độ tuổi phát triển bệnh lý thiếu máu cơ tim ở nữ giới chậm hơn so với nam giới từ 7-10 năm, nhưng NMCT vẫn là nguy cơ gây tử vong hàng đầu ở nữ. Mặt khác, dù tần suất HCMVC thường xảy ra nhiều hơn ở nam giới so với nữ ở độ tuổi 60, nhưng sau 75 tuổi nữ giới lại chiếm ưu thế hơn [41].3 Chẩn đoán • Lâm sàng: - Cơn đau thắt ngực: Vị trí: vùng ngực, dưới xương ức, đau lan tỏa, khu trú kém. Cơn đau bóp nghẹt sau xương ức, có thể lan lên vai trái, lên cằm, lên cả hai vai, cơn đau thường xuất hiện sau một đợt gắng sức nhưng đau có thể xảy ra trong khi nghỉ.

Thời gian cơn đau thường kéo dài 20 phút hoặc hơn [2], [78]. - Triệu chứng thần kinh: lo lắng, sợ hãi, bồn chồn, kích động, mệt mỏi và yếu [78]. - Dấu hiệu trên hô hấp: khó thở – cảm giác nghẹt thở, tức ngực, khò khè, ho do co thắt, có đờm thường có màu hồng hoặc lẫn máu đỏ. - Dấu hiệu trên tiêu hóa: Nôn, buồn nôn, khát, mất vị giác [78].

• Cận lâm sàng: - Điện tâm đồ: Trường môn tim mạch học Mỹ (American College of Cardiology/ACC) và Hội tim mạch học Mỹ (American Heart Association/AHA) khuyến cáo ở những bệnh nhân có cơn đau thắt ngực và dấu hiệu nghi ngờ HCMVC, khi bệnh nhân tới cơ sở cấp cứu 4 nên được đo và đánh giá điện tâm đồ 12 chuyển đạo trong vòng 10 phút [59]. Nếu ST chênh lên bền vững hoặc mới có xuất hiện block nhánh trái thì cần phải nghĩ đến NMCT. Trong HCMVC không ST chênh, thường gặp nhất là đoạn ST chênh xuống (nhất là kiểu dốc xuống), T âm nhọn, đảo chiều, ST có thể chênh lên thoáng qua. Hình ảnh điện tâm đồ trong HCMVC thể hiện qua hình 1.

Hình ảnh điện tâm đồ tim trong hội chứng mạch vành cấp [11] Chú thích: NMCT cấp ST không chênh: ST bất thường hoặc T nhọn; NMCT cấp ST chênh: ST chênh lên. - Chất chỉ điểm sinh học cơ tim + NMCT cấp ST không chênh và NMCT cấp ST chênh: có sự tăng lên chất chỉ điểm sinh học của cơ tim. + Đau thắt ngực không ổn định: không có sự thay đổi của chất chỉ điểm sinh học. Chất chỉ điểm sinh học thường dùng là troponin T và I [78].

Theo hướng dẫn chẩn đoán HCMVC của Bộ Y tế năm 2019, tốt nhất nên dùng các xét nghiệm siêu nhạy (như TroponinT hs hoặc I hs) [2]. Chất chỉ điểm sinh học loại CK-MB mặc dù còn sản sinh ở các tế bào khác ngoài cơ tim (não, thận, cơ vân…) nhưng cũng có thể được dùng để đánh giá nhồi máu cơ tim, nếu xét nghiệm được tiến hành sớm (<4 giờ) 5 để chẩn đoán NMCT tái phát trong giai đoạn bán cấp của NMCT vì giai đoạn này troponin vẫn tăng [78]. - Siêu âm tim: Siêu âm tim giúp đánh giá rối loạn vận động vùng (nếu có), đánh giá chức năng thất trái (đặc biệt sau NMCT) và các bệnh lý thực tổn van tim kèm theo hoặc giúp cho việc chẩn đoán phân biệt (với các nguyên nhân gây đau ngực khác). Quá trình chẩn đoán HCMVC có thể dựa vào sơ đồ hình 1.2 [2], [41] tóm tắt dưới đây: Hình 1.

Nội dung được bảo vệ bản quyền — Tải xuống đầy đủ