CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG HUY ĐỘNG VỐN TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI 1. Tổng quan về Ngân hàng thương mại 1. Khái niệm về Ngân hàng thương mại Ngân hàng thương mại, là một tổ chức tài chính hoạt động với mục tiêu tạo lợi nhuận từ các giao dịch tiền tệ. Các ngân hàng thương mại chủ yếu dựa vào tiền gửi thường xuyên từ khách hàng để cung cấp các dịch vụ tài chính như cấp tín dụng, chiết khấu và thanh toán.
Với tư cách là doanh nghiệp thương mại, các ngân hàng thương mại tiến hành các hoạt động kinh doanh dựa trên quy tắc kinh tế và hướng đến mục tiêu tạo lợi nhuận. Các ngân hàng thương mại được quy định bởi pháp luật và được ủy quyền thực hiện nhiều loại hình kinh doanh ngân hàng.( Luật số TCTD 17/2017/QH14) Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh các có liên quan ( Luật số 2/1997/QH10 luật tổ chức tín dụng VN ) Từ những nhận đinh trên có thể thấy Ngân hàng thương mại là trụ cột của hệ thống tài chính, đóng vai trò trung gian quan trọng giữa người gửi tiền và người vay tiền. Bằng cách thu hút và cung cấp vốn, ngân hàng thương mại không chỉ tạo điều kiện cho sự phát triển kinh tế mà còn hỗ trợ trong việc quản lý tài chính cho cá nhân và doanh nghiệp 1.2 Bản chất của ngân hàng thương mại - Ngân hàng thương mại là một loại hình doanh nghiệp và là một đơn vị kinh tế - Hoạt động của Ngân hàng thương mại là hoạt động kinh doanh. Để hoạt động kinh doanh, các Ngân hàng thương mại phải có vốn, phải tự chủ về tài chính.
Đặc biệt hoạt động kinh doanh cần đạt đến mục tiêu tài chính cuối cùng là lợi nhuận, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng thương mại cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Tuy nhiên việc tìm kiếm lợi nhuận là phải chính đáng trên cơ sở chấp hành luật pháp của nhà nước 4 1.3 Chức năng của ngân hàng thương mại 1.1 Chức năng trung gian tín dụng: Ngân hàng thương mại là cầu nối giữa thừa vốn và người thiếu vốn. Theo đó, ngân hàng thuơg mại hinh thành quỹ và cho vay để phân bổ vốn tới nền kinh tế thông qua việc huy động những nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của các nhà đầu tư trong kinh tế. Với chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng thương mại đóng vai trò tạo ra lợi ích cho các bên tham gia đồng thời thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế, tạo nên nguồn vốn để kinh doanh và tăng thu lợi nhuận, góp phần đẩy nhanh quá trình lưu thông của vốn tiền tệ trong xã hội và tăng thu giá trị thặng dư cho các chủ thể kinh tế.
Vậy nên thực hiện chức năng trung gian tín dụng không những có lợi cho NHTM mà còn có lợi cho các khách hàng có nhu cầu và cho cả nền kinh tế 1.2 Chức năng trung gian thanh toán: Với chức năng này, ngân hàng thương mại thay mặt khách hàng trích tiền trên tài khoản trả cho người thụ hưởng hoặc nhận tiền vào tài khoản. Nhờ chức năng thanh toán của ngân hàng, người dân tiết kiệm được thời gian và chi phí. Chức năng này tạo điều kiện thu hút nguồn vốn tiền thông qua cung ứng một dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt có chất lượng cao. Mang lại nhiều tiện ích to lớn đối với khách hàng, tạo điều kiện thuận lợi trong thanh toán với các phương thức đa dạng nhiều tiện ích, nhanh chóng, dễ dàng, tiết kiệm chi phí và tăng nhanh tốc độ thanh toán.
Việc phát triển chức năng trung gian thanh toán góp phần tiết kiệm các khoản chi phí in ấn tiền, bảo quản tiền, kiểm đếm Với nền kinh tế, chức năng này thúc đẩy quá trình kinh doanh, lưu thông hàng hóa, đẩy nhanh tốc độ luân chuyển vốn 1.3 Chức năng tạo tiền Tạo tiền là chức năng phản ánh rõ bản chất của ngân hàng thương mại với mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận. Thông qua chức năng trung gian tín dụng, ngân hàng sử dụng nguồn vốn huy động để được đi vay. Hướng tới lợi nhuận là mục tiêu hàng đầu để tồn tại và phát triển, trong hoạt động kinh doanh. Sau đó, số tiền được đưa vào nền kinh tế thông qua hoạt động mua hàng hóa, trong khi những người có số dư tài khoản tiếp lại tiêu dùng thông qua các hình thức thanh toán qua thẻ tín dụng.4 Chức năng thủ quỹ Với chức năng này, ngân hàng thương mại nhận tiền gửi, giữ tiền, bảo quản tiền, thực hiện yêu cầu rút tiền, chi tiền cho khách hàng là các chủ thể trong nền kinh tế.
Chức năng thủ quỹ của ngân hàng thương mại góp phần tạo ra lợi ích cho các chủ thể khác nhau. Với khách hàng, chức năng thủ quỹ giúp đảm bảo an toàn tài sản và sinh lời được đồng vốn tạm thời thừa. Với ngân hàng, có được nguồn vốn để thực hiện chức năng tín dụng và là cơ sở để ngân hàng thực hiện được chức năng trung gian thanh toán. Với nền kinh tế, chức năng thủ quỹ khuyến khích tích lũy trong xã hội đồng thời tập trung nguồn vốn tạm thời thừa để phục vụ phát triển kinh tế.4 Các nghiệp vụ chủ yếu của Ngân hàng thương mại Nghiệp vụ tài sản nợ Tài sản nợ bao gồm những khoản nợ mà NHTM nợ thị trường và vốn của NHTM.
Các khoản nợ được thể hiện trên thị trường thông qua vốn của người dân gửi vào ngân hàng thương mại hoặc vốn do ngân hàng thương mại vay từ các tổ chức kinh tế như cá nhân, hộ gia đình, doanh nghiệp trong và ngoài nước, các tổ chức trung gian tài chính khác, NHNN,. - Vốn tiền gửi Là nghiệp vụ phản ánh hoạt động huy động vốn của NHTM dưới hình thức nhận các khoản tiền gửi của cá nhân và doanh nghiệp vào ngân hàng để thanh toán nhằm mục đích an toàn hoặc hưởng lãi. Gồm : + Tiền gửi thanh toán: là số tiền tạm thời nhàn rỗi của tổ chức kinh tế, cá nhân gửi vào ngân hàng thương mại để chủ động chi trả hoặc thu lợi nhuận trong quá trình hoạt động kinh doanh. Tùy theo tính chất nhàn rỗi của nguồn vốn, tổ chức, cá nhân có thể gửi tiền gửi không kỳ hạn hoặc tiền gửi có kỳ hạn tại ngân hàng.
Ngân hàng có thể sử nguồn vốn này vào nghiệp vụ cho vay các thành phần kinh tế. + Tiền gửi tiết kiệm: là hình thức huy động vốn truyền thống của các ngân hàng thương mại. Đối tượng của loại tiền gửi này là các cá nhân, tổ chức có tiền tạm thời nhàn rỗi muốn gửi ngân hàng với mục đích an toàn và sinh lời, khách hàng có thể gửi tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn và có kỳ hạn tùy theo nhu cầu. 6 - Phát hành giấy tờ có giá Việc phát hành giấy tờ có giá để hình thành vốn sử dụng có tính ổn định cao, đồng thời giải quyết những khoản vốn thiếu hụt do khả năng thu hút bằng nguồn tiết kiệm hạn chế.
Ngân hàng thường sử dụng các loại giấy tờ có giá dưới các hình thức: séc ngân hàng, trái phiếu ngân hàng, chứng chỉ tiền gửi và giấy tờ có giá khác. Các giấy tờ có giá của Ngân hàng là các công cụ nợ do ngân hàng phát hành để huy động vốn trên thị trường. Nguồn vốn này tương đối ổn định để sử dụng cho một mục đích nào đó của ngân hàng - Vốn đi vay Nguồn vốn vay làm tăng thêm khả năng thanh toán cho ngân hàng và được hình thành từ: + Vay ngân hàng nhà nước NHNN là Ngân hàng của các Ngân hàng và là Ngân hàng cho vay cuối cùng trong nền kinh tế. Vì vậy, các NHTM có thể được NHNN cho vay vốn khi cần thiết.
Đây là khoản vay nhằm đáp ứng nhu cầu chi trả tức thời của NHTM, nâng cao khả năng thanh toán. NHTM thường vay NHNN khi thiếu hụt dự trữ Các hình thức vay chủ yếu như: chiết khấu, cho vay cứu cánh và cho vay theo thời vụ. Các khoản vay thường là trong thời gian rất ngắn + Cho vay chiết khấu: Các thương phiếu đã được NHTM chiết khấu và trở thành tadi sản của họ, khi cần sẽ mang những thương phiếu này đến xin chiết khấu tại NHNN. Thông thường NHNN chỉ tái chiết khấu cho những thương phiếu chất lượng và phù hợp với mục tiêu của NHNN trong từng thời kỳ và chỉ cho vay trong những vấn đề cấp bách cần gải quyết sớm + Cho vay cứu cánh: NHNN sẽ cho vay cứu cánh trong trường hợp NHTM bị khủng hoảng trầm trọng, mất khả năng thanh toán và có nguy cơ phá sản gây ảnh hưởng tới toàn bộ hệ thống tài chính, tiền tệ quốc gia + Cho vay theo thời vụ: tại NHTM có những thời kỳ nhu cầu vay vốn và thanh toán của khách hàng diễn ra nhiều nhưng nguồn vốn của NHTM bị hạn chế không đáp ứng đủ và kịp thời thì NHNN có thể cho vay để đảm bảo hoạt động của NHTM - Vốn vay các Tổ chức tín dụng khác Khi có nhu cầu NHTM có thể đi vay từ các NHTM khác.
Có 2 loại vay từ NHTM khác: (i) vay qua đếm; (ii) vay có kì hạn. Đây là nguồn các Ngân hàng vay mượn lẫn nhau và vay từ các TCTD khác để đáp ứng nhu cầu dự trữ, đảm bảo thanh khoản trong 7 trường hợp bổ sung hoặc thay thế cho nguồn vay tạm từ NHNN. Quá trình vay mượn diễn ra khi Ngân hàng muốn vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua NHNN Khi vay vốn NHTM phải thực hiện quy định của chế độ tín dụng hiện hành và hợp đồng tín dụng với cương vị là người đi vay. Tuy nhiên, việc đi vay thường xuyên cũng sẽ làm giảm độ uy tín của NHTM trên thị trường ảnh hưởng đến hoạt động kinh doanh và khả năng cạnh tranh của ngân hàng.
Nghiệp vụ tài sản có + Là tài sản được hình thành trong quá trình sử dụng vốn của NHTM + Tài sản có của ngân hàng là toàn bộ tài sản có giá trị mà ngân hàng hiện có quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt một cách hợp pháp - Nghiệp vụ ngân quỹ Nghiệp vụ này à các khoản về dự trữ NHTM bao gồm: Tiền mặt tại quỹ, tiền gửi tại NHNN, tiền gửi tại các TCTD khác. Đây là loại tài sản không sinh lợi đước nắm giữ chủ yếu nhằm mục đích đảm bảo dự trữ bắt buộc của NHNN, đảm bảo khả năng thanh toán, chi trả cho người gửi tiền, thanh toán bù trừ và đáp ứng được nhu cầu vốn khả dụng của ngân hàng.