CHƯƠNG 1: GIỚI THIỆU THỐNG KÊ VÀ SPSS Chương này giúp người học hiểu được vai trò và ý nghĩa của phân tích thống kê trong kỹ thuật và trong xã hội. Nội dung bao gồm giới thiệu tổng quan về thống kê và các giao diện của SPSS nhằm giúp người đọc có cái nhìn tổng quan tốt hơn trước khi bắt đầu. Kết quả phân tích thống kê thực sự đúng và có ý nghĩa khi người nghiên cứu hiểu đúng bản chất của vấn đề nghiên cứu, mục đích của các công cụ phân tích và ý nghĩa của từng kết quả. Tổng quan về thống kê Để hiểu về thống kê, hãy đọc các ví dụ bên dưới và trả lời các câu hỏi: Ví dụ 1: Số liệu giá đất của Thành phố Thủ Đức từ năm 2015 đến năm 2019 được trình bày như Bảng 1.
Giá đất Thành phố Thủ Đức [1] ĐVT: 1,000 đồng/m2 Đoạn đường STT Tên đường Giá Từ Đến Đường số 5, Bà Ranh tỉnh Bình 1 Quốc lộ 1K 3,700 Giang Dương Ranh Quân 2 Bình Chiểu Tỉnh lộ 43 3,700 đoàn 4 3 Đường số 14 Linh Trung Quốc lộ 1 3,700 4 Cây Keo Tô Ngọc Vân Cuối đường 4,800 5 Chương Dương Võ Văn Ngân Kha Vạn Cân 6,600 Dương Văn 6 Đặng Thị Rành Tô Ngọc Vân 6,600 Cam 7 Đặng Văn Bi Võ Văn Ngân Nguyễn Văn Bá 7,000 Ranh tỉnh Bình 8 Đào Trinh Nhất Kha Vạn Cân 4,400 Dương Ngã Ba Hồ Văn 9 Đoàn Công Hớn Võ Văn Ngân Tư 8,400 10 Đường số 19 Kha Vạn Cân Cuối đường 4,800 1. Phương pháp thu thập là gì? Công cụ nào để phân tích? Số liệu được trình bày dưới dạng nào? 11 2. Giá đất của đường Đặng Văn Bi là bao nhiêu và có đặc điểm vị trí gì? 3. Giá đất trung bình của 10 tuyến đường? 4.
Nhận xét và diễn giải sự khác nhau giữa giá đất trung bình và giá đất của 01 tuyến đường bất kỳ? Gợi ý trả lời: 1. Phương pháp: khảo sát thống kê. Công cụ phân tích: giá trị trung bình. Số liệu trình bày: dưới dạng bảng.
Giá đất đường Đặng Văn Bi: 7 triệu đồng/m2. Đường Đặng Văn Bi tiếp giáp hai đầu là đường Võ Văn Ngân và đường Nguyễn Văn Bá. Đặc điểm đường này là một trong số các đường chính của trung tâm TP. Thủ Đức với nhiều cửa hàng, đơn vị sản xuất kinh doanh nên có giá đất cao hơn một số tuyến đường khác.
Giá đất trung bình của 10 tuyến đường là: 5. Giả sử chọn Đường số 19, Phường Hiệp Bình Chánh có giá đất trung bình là 4. Đây cũng là một tuyến đường nhánh trên Đại lộ Phạm Văn Đồng, chủ yếu phục vụ cho mục đích ở, ít sản xuất kinh doanh nên giá đất thấp hơn các tuyến đường khác. Tuy nhiên, tuyến đường này gần Sân bay Tân Sơn Nhất (cách khoảng 8km) và dễ di chuyển qua các Quận khác.
Chênh lệch so với giá đất trung bình: 280,000 đồng/m2 (5. Ví dụ 2: Chỉ số tiêu thụ một số sản phẩm công nghiệp của yếu của Việt Nam năm 2018 được thể hiện trong Bảng 2. Một số sản phẩm công nghiệp chủ yếu năm 2018 [2] (+/-) % so Tên sản phẩm ĐVT 2018 với 2017 Đá xây dựng các loại 1,000 m3 205.5% Sữa hoặc kem đặc có hoặc không có 1,000 tấn 101.4% đường Bia chai, lon triệu lít 1,660.9% Thuốc lá điếu triệu bao 2,119.8% Quần áo các loại trừ quần áo thể thao triệu cái 1,662.8% Sổ sách, vở, giấy và các sản phẩm 1,000 tấn 12.6% bằng giấy Bột giặt và các chế phẩm dùng để tẩy 1,000 tấn 554.0% rửa Xi măng 1,000 tấn 9,532.4% 12 (+/-) % so Tên sản phẩm ĐVT 2018 với 2017 Sắt, thép các loại 1,000 tấn 455.2% Ti vi 1,000 tấn 12,913.0% Điện thương phẩm triệu Kwh 24,414.9% Nước uống triệu m3 675.7% Phân khoáng hoặc phân hóa học 1,000 tấn 243. Cho biết mức tiêu thụ và đơn vị tính của đá, xi măng và sắt thép xây dựng? 2.
Nhận xét về mức tiêu thụ này? Dự báo xu thế tương lai? 3. Phương pháp tính mức tiêu thụ này? Gợi ý trả lời: 1. Mức tiêu thụ và đơn vị tính của đá, xi măng và sắt thép lần lượt là 205,500 tấn, 9,532,100 tấn và 455,500 tấn. Nhận xét về mức tiêu thụ: đá tăng 11.5%, xi măng tăng 6.4% và sắt thép các loại tăng 28.
Như vậy, trong các mức tăng thì sắt thép các loại có mức độ tiêu thụ tăng nhiều nhất. Dự báo mức tiệu thụ trong tương lai: chưa thể dự báo được do nguồn số liệu chỉ có 2 năm. Phương pháp tính mức tiêu thụ: tính chênh lệch giữa 2 năm liền kề 2017 và 2018, được tính dưới dạng phần trăm (%). Ví dụ 3: Hãy xem Hình 1.1 và trả lời các câu hỏi bên dưới: Tuổi thọ (Life expectancy) 86.0 2006 2008 2010 2012 2014 2016 EU 28 - Nam EU 28 - Nữ Ireland - Nam Ireland - Nữ Hình 1.
Tuổi thọ theo giới tính của Ireland và EU [3] 1. Tuổi thọ (life expectancy) giữa EU và Ireland? 13 2. Giữa nam và nữ của Ireland? 3. Năm 2017 liệu tuổi thọ có tăng lên không? Gợi ý trả lời: 1.
Tuổi thọ giữa EU và Ireland có sự tương đồng cao về nam giới, nhưng giữa nữ giới thì có sự khác biệt rõ rệt. Riêng Ireland, tuổi thọ của nữ giới cao hơn so với nam giới. Sự khác biệt này có xu hướng giảm dần từ năm 2007 chênh lệch khoảng 5 năm đến năm 2016 giảm xuống khoảng 3. Năm 2017, dự báo sẽ tăng vì theo số liệu quá khứ từ năm 2007 đến năm 2016 có xu hướng tăng rõ rệt.
Độ tăng đối với nam giới EU là (78.21 năm và nữ giới EU là (83. Độ tăng đối với nam giới Ireland là (80-77.28 năm và nữ giới Ireland giống với nữ giới EU. Nhìn nhận chung, độ tăng về tuổi thọ của nam giới lớn hơn so với nữ giới cho cả EU và Ireland. Tuy nhiên, độ tăng này sẽ đạt đến một ngưỡng nhất định do tuổi thọ con người không thể nào không có giới hạn.
Nhờ phân tích thống kê, các ví dụ trên đã cung cấp cho chúng ta các thông tin của vấn đề nghiên cứu như giá trị trung bình, độ lệch, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ nhất, phần trăm, và xu hướng liên hệ (thuận chiều hay nghịch chiều). Cụ thể, nếu không có phân tích thống kê, chúng ta không biết được giá trị trung bình của các tuyến đường ở Thành phố Thủ Đức ở Ví dụ 1, hoặc không có tính phần trăm thì chúng ta đâu biết được mức tiêu thụ của năm 2018 tăng hay giảm so với năm 2017 ở Ví dụ 2, hoặc không có thể hiện đồ thị thì chúng ta không thể nhìn ra được xu hướng tăng của tuổi thọ, thậm chí là không thấy được mức độ khác nhau giữa tuổi thọ của EU và Ireland. Như vậy, thông qua các ví dụ trên, thống kê là gì? Thống kê là một phương pháp phân tích sử dụng các công thức toán học bên trong để xử lý và biểu diễn dữ liệu theo một thể thức khoa học nhất định. Ngoài ra, nó cũng là một môn khoa học cơ bản trong khối kiến thức khoa học tự nhiên và xã hội giúp tìm hiểu về dữ liệu, sau đó tính toán, giải thích và trình bày cho một vấn đề nghiên cứu cụ thể ở cả mức độ học thuật và thực tiễn.
Cho đến nay, phân tích thống kê đã và đang được sử dụng trong nhiều lĩnh vực kỹ thuật và xã hội khác nhau. Nhờ có thống kê, chúng ta có thể tìm ra các lỗ hổng và các vấn đề phức tạp trong quá trình thực hiện và vận hành công việc. Trên cơ sở đó, chúng ta đưa ra các nghiên cứu để cải thiện tình hình, đặc biệt là trong giai đoạn cần đưa ra các quyết định tiềm ẩn các 14 yếu tố rủi ro. Để phân tích thống kê đạt yêu cầu, chúng ta cần phải: hiểu rõ lý do vì sao phải thực hiện thống kê trước khi thực hiện, xây dựng mô hình thống kê gồm những biến (hay yếu tố) nào, xác định các điều kiện của phân tích thống kê đã lựa chọn, định nghĩa và phân loại số liệu, diễn đạt các kết quả phân tích, và cuối cùng kiểm tra độ phù hợp giữa kết quả phân tích với thực tiễn.
Có nhiều trường hợp cho thấy có sự khác biệt đáng kể, thậm chí rất lớn, giữa kết quả thống kê và kết quả thực tế. Chúng ra cần cẩn trọng với những sự khác biệt này. Chúng ta chỉ có thể đưa ra kết luận có ý nghĩa về mặt thống kê nhưng không đưa ra được kết luận có ý nghĩa thực tiễn. Từ đó, chúng ra có những kết luận đúng đắn cho vấn đề nghiên cứu.
Thống kê gồm hai loại là thống kê mô tả (descriptive statistics) và thống kê suy luận (inferential statistics). Thống kê mô tả là loại thống kê giúp chúng ra có những kết luận bên ngoài cho vấn đề nghiên cứu. Những kết luận này, chúng ra có thể cảm nhận trực quan và đo lường được. Trong khi đó, thống kê suy luận là loại thống kê giúp chúng ta có những kết luận bên trong cho vấn đề nghiên cứu.
Những kết luận này, chúng ra không thể cảm nhận trực quan được nhưng có thể đo lường được dựa vào những công cụ thống kê phù hợp. Có 4 mức thống kê cơ bản thường được sử dụng tùy theo mức độ yêu cầu của người phân tích: (1) thu thập và xử lý số liệu, (2) phân tích và trình bày các kết quả mô tả, (3) kiểm định các mối liên hệ (hay hiện tượng) giữa các sự kiện (hay yếu tố), và (4) ứng dụng dự báo. - Mức 1 "Thu thập và xử lý số liệu": Mức này thường hay được sử dụng trong hầu hết các phân tích thống kê. Để có thể tiến hành phân tích thống kê, chúng ta cần phải có dữ liệu của vấn đề nghiên cứu.
Dữ liệu này cần phải có tính đại diện cho tất cả đối tượng khảo sát (hay còn gọi là quần thể). Để đảm bảo tính đại diện, việc thu thập dữ liệu phải đảm bảo ba nguyên tắc sau: cỡ mẫu đủ lớn, lấy mẫu ngẫu nhiên, và có tính khách quan. Tuy nhiên, khi vấn đề nghiên cứu phức tạp hoặc ít phổ biến, rất khó để đảm bảo lấy mẫu có tính đại diện, đặc biệt khó đảm bảo được số lượng mẫu. Một số trường hợp, thậm chí không thu thập được số liệu, hoặc thu thập được nhưng lại không đảm bảo được điều kiện phân tích, hoặc phân tích được nhưng lại không đáp ứng được mục tiêu đề ra.
Có hai phương pháp lấy mẫu là lấy mẫu xác suất (probability sampling) và lấy mẫu phi xác suất hay còn gọi là lấy mẫu thuận tiện (non-probability sampling).