Chương 1 – Giới thiệu chung; _Chương 2 – Tổng quan lý thuyết và cơ sở lý luận; _Chương 3 – Phân tích và đánh giá tính thanh khoản nhóm các ngân hàng TMCP niêm yết; _Chương 4 – Giải pháp hoàn thiện tính thanh khoản các NHTMCP niêm yết tại Việt Nam. Nguyễn Văn Thuận 3 2013 Phân tích tình hình thanh khoản nhóm các NHTMCP niêm yết CHƯƠNG 2 – TỔNG QUAN LÝ THUYẾT 2. CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG 2. Hoạt động ngân hàng thương mại (NHTM) 2.
Khái niệm, định nghĩa NHTM Luật các tổ chức tín dụng do Quốc hội khóa X thông qua vào ngày 12 tháng 12 năm 1997 định nghĩa: “Ngân hàng thương mại (NHTM) là một loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện toàn bộ hoạt động ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan. Luật này còn định nghĩa: Tổ chức tín dụng (TCTD) là loại hình doanh nghiệp được thành lập theo quy định của Luật này và các quy định khác của pháp luật để hoạt động kinh doanh tiền tệ, làm dịch vụ ngân hàng với nội dung nhận tiền gửi và sử dụng tiền gửi để cấp tín dụng và cung ứng các dịch vụ thanh toán toán (Nguyễn Minh Kiều, 2011). NHTM là một trung gian tài chính đóng vai trò trong việc đảm bảo nền kinh tế hoạt động nhịp nhàng, hiệu quả. NHTM là loại hình ngân hàng giao dịch trực tiếp với các tổ chức kinh tế và cá nhân bằng cách nhận tiền gửi, tiền tiết kiệm rồi sử dụng vốn đó để cho vay, chiết khấu, cung cấp các phương tiện thanh toán và dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng nêu trên.
NHTM là loại hình ngân hàng có số lượng lớn và rất phổ biến trong nền kinh tế thị trường. sự có mặt của loại hình ngân hàng này trong hầu hết các hoạt động kinh tế xã hội chứng tỏ rằng: ở đâu có một hệ thống ngân hàng thương mại phát triển, thì ở đó sẽ có sự phát triển với tốc độ cao của nền kinh tế. Như vậy NHTM là một định chế tài chính trung gian quan trọng trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế tài chính trung gian này mà các nguồn tiền nhàn rỗi nằm rải rác trong xã hội được huy động, tập trung lại, đồng thời số vốn đó được sử dụng để cấp tín dụng cho các tổ chức kinh tế và cá nhân với mục đích phát triển kinh tế xã hội.
Nhiệm vụ, chức năng, vai trò cơ bản Nhìn chung, NHTM có ba chức năng cơ bản: chức năng trung gian tín dụng, chức năng tạo tiền và chức năng sản xuất. Chức năng trung gian tài chính và tạo tiền là hai chức năng cơ bản của NHTM. Trong những năm gần đây, nhiều nhà quản trị ngân hàng còn đề cập đến chức năng sản xuất của NHTM, bao gồm việc huy động và sử dụng các nguồn lực để tạo ra “sản phẩm” và dịch vụ ngân hàng cung cấp cho nền kinh tế. Nguyễn Văn Thuận 4 2013 Phân tích tình hình thanh khoản nhóm các NHTMCP niêm yết Dựa vào các chức năng kể trên của NHTM, có thể nhận ra các vai trò chính của NHTM trong nền kinh tế thị trường như sau: _ Vai trò tập trung vốn của nền kinh tế: NHTM là trung gian kết nối giữa những người có nguồn tiền nhàn rỗi muốn sinh lời trong xã hội (cá nhân, tổ chức kinh doanh, đơn vị kinh tế, …) đến những người có nhu cầu sử dụng vốn nhằm mục đích kinh doanh hoặc tiêu dùng.
Qua quá trình này, NHTM là thành phần đầu mối quan trọng thúc đẩy nền kinh tế phát triển. Ngoài ra, NHTM còn có thể làm trung gian giữa các công ty và nhà đầu tư trong việc chuyển giao mệnh lệnh trên thị trường chứng khoán, mua trái phiếu công ty. _ Vai trò làm trung gian thanh toán và quản lý các phương tiện thanh toán: NHTM hỗ trợ các chủ thể trong nền kinh tế thực hiện thanh toán, cất giữ tiền một cách an toàn, tiện lợi hơn. Để thực hiện vai trò này, ngân hàng sử dụng những công cụ lưu thông và độc quyền quản lý chúng (séc, giấy chuyển tiền, thẻ thanh toán, …), thông qua đó đã tiết kiệm nhiều chi phí đã có thể phát sinh trong xã hội, đẩy nhanh tốc độc luân chuyển vốn, thúc đẩy quá trình lưu thông hàng hóa.
Ngày nay, với việc thực hiện thanh toán thông qua hệ thống bù trừ của và hình thức chuyển tiền điện tử được hỗ trợ bởi công nghệ cao sẽ hỗ trợ tối đa các dịch vụ ngân hàng nhanh chóng, tiện lợi và an toàn hơn. _ Vai trò tạo ra tiền trong hệ thống ngân hàng hai cấp: Quá trình này được thực hiện thông qua tín dụng và thanh toán trong hệ thống ngân hàng, trong mối liên hệ chặt chẽ với NHTW mỗi nước. Đây là chức năng sáng tạo ra bút tệ góp phần gia tăng khối luợng tiền tệ phục vụ cho nhu cầu chuyển và phát triển nền kinh tế. Theo quỹ Tiền tệ Quốc tế IMF (International Monetary Fund), khối tiền tệ của một quốc gia bao gồm: tiền giấy, tiền kim loại và tiền gửi không kỳ hạn tại ngân hàng.
Còn tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi định kỳ không đụơc xem là bộ phận của khối tiền tệ mà chỉ được xem là “chuẩn tiền” do tính chất kém thanh khoản của bộ phận này. Tuy nhiên kể từ năm 1980 trở đi, nhiều nhà kinh tế học bắt đầu xem “chuẩn tiền” là một phần của khối tiền tệ. Quỹ Tiền tệ Quốc tế và Ngân hang Thế giới (WB) gần như chấp nhận quan điểm này nhưng còn ngần ngại nên phân biệt thành nhiều khối tiền tệ như M1, M2, M3 và L. Trong đó: + M1: tiền mặt phát hành bao gồm tiền giấy và tiền kim loại + tiền gửi không kỳ hạn; + M2: M1 + tiền gửi tiết kiệm và tiền gửi định kỳ tại ngân hàng; + M3: M2 + tất cả các loại tiền gửi ở các định chế tài chính khác; | GVHD: TS.
Nguyễn Văn Thuận 5 2013 Phân tích tình hình thanh khoản nhóm các NHTMCP niêm yết + L: M3 + các loại trái phiếu, thương phiếu và các công cụ khác của thị trường tiền tệ.2 Vấn đề thanh khoản của các NHTM 2. Định nghĩa thanh khoản Tính thanh khoản của NHTM được xem như khả năng tức thời (the short-run ability) để đáp ứng nhu cầu rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết. Như vậy, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời; hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao. Nói cách khác, đây là loại rủi ro xuất hiện trong trường hợp ngân hàng thiếu khả năng chi trả do không chuyển đổi kịp các loại tài sản ra tiền mặt hoặc không thể vay mượn để đáp ứng yêu cầu của các hợp đồng thanh toán.
Thanh khoản của một ngân hàng có vấn đề có thể do các nguyên nhân cơ bản sau: _ Ngân hàng vay mượn quá nhiều các khoản tiền gửi ngắn hạn từ các cá nhân và định chế tài chính khác; sau đó chuyển hóa chúng thành các tài sản đầu tư dài hạn. Cho nên, tình trạng mất cân đối về kỳ hạn giữa nguồn vốn và sử dụng vốn, mà thường gặp là dòng tiền thu về từ tài sản đầu tư nhỏ hơn dòng chi ra để trả các khoản tiền gửi đến hạn. _ Sự thay đổi của lãi suất có thể tác động đến cả người gửi tiền và người vay vốn. Khi lãi suât giảm, một số người gửi tiền rút vốn khỏi ngân hàng để đầu tư vào nơi có tỷ suất sinh lời cao hơn; còn những người đi vay tích cực tiếp cận các khoản tín dụng vì lãi suất đã thấp hơn trước.
Như vậy, rốt cuộc lãi suất thay đổi sẽ ảnh hưởng đến giá trị thị trường của các tài sản mà ngân hàng có thể đem bán nhằm tăng thêm nguồn cung thanh khoản và trực tiếp ảnh hưởng đến chi phí vay mượn trên thị trường tiền tệ. _ Do chiến lược quản trị rủi ro thanh khoản không phù hợp và kém hiệu quả như: các chứng khoán đang sở hữu có tính thanh khoản thấp, dự trữ của ngân hàng không đủ cho nhu cầu chi trả, … 2. Cung – cầu thanh khoản và đánh giá trạng thái thanh khoản Nhu cầu thanh khoản của một ngân hàng có thể được xem xét bằng mô hình cung – cầu về thanh khoản. _ Cung thanh khoản: là các khoản vốn làm tăng khả năng chi trả của ngân hàng, là nguồn cung cấp thanh khoản cho ngân hàng bao gồm: | GVHD: TS.
Nguyễn Văn Thuận 6 2013 Phân tích tình hình thanh khoản nhóm các NHTMCP niêm yết + Các khoản tiền gửi đến; + Doanh thu từ việc bán các dịch vụ phi tiền gửi; + Thu hồi các khoản tín dụng đã cấp; + Bán các tài sản đang kinh doanh và sử dụng; + Vay mượn trên thị trường tiền tệ. _ Cầu thanh khoản: là nhu cầu vốn cho các mục đích hoạt động của ngân hàng, các khoản làm giảm quỹ của ngân hàng. Thông thường, trong lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng, những hoạt động tạo ra cầu về thanh khoản bao gồm: + Khách hàng rút tiền từ tài khoản; + Yêu cầu vay vốn từ các khách hàng có chất lượng tín dụng cao; + Thanh toán các khoản vay phi tiền gửi; + Chi phí phát sinh khi kinh doanh các sản phẩm và dịch vụ; + Thanh toán cổ tức bằng tiền. Trạng thái thanh khoản ròng NPL (Net Liquidity Position) của một ngân hàng được xác định như sau: NPL = Tổng cung thanh khoản – Tổng cầu thanh khoản Có ba khả năng có thể xảy ra như sau: _Thặng dư thanh khoản: khi cung thanh khoản vượt quá cầu thanh khoản (NPL > 0) thì ngân hàng đang ở trong trạng thái thặng dư thanh khoản.
Nhà quản trị ngân hàng phải cân nhắc đầu tư số vốn thặng dư này vào đâu để mang lại hiệu quả cho tới khi chúng cần được sử dụng đáp ứng nhu cầu thanh khoản trong tương lai. _Thâm hụt thanh khoản: Khi cầu thanh khoản lớn hơn cung thanh khoản (NPL < 0), ngân hàng phải đối mặt với tình trạng thâm hụt thanh khoản. Nhà quản trị phải xem xét, quyết định tài trợ thanh khoản lấy từ đâu, bao giờ thì có và chi phí là bao nhiêu. _Cân bằng thanh khoản: Khi cung thanh khoản bằng với cầu thanh khoản (NPL = 0), tình trạng này được gọi là cân bằng thanh khoản.
Tuy nhiên đây là tình trạng rất khó xảy ra trên thực tế, hoặc nếu có cũng không tồn tại lâu dài. Nguyễn Văn Thuận 7 2013 Phân tích tình hình thanh khoản nhóm các NHTMCP niêm yết 2. Các chỉ tiêu đánh giá 2.