phần mở đầu và kết luận gồm 4 phần: Phần 1: Cơ sở lý luận về tài chính doanh nghiệp và phân tích tài chính doanh nghiệp. Phần 2: Giới thiệu chung về Công ty Xây dựng công trình 507. Phần 3: Phân tích và đánh giá thực trạng tài chính của Công ty Xây dựng công trình 507. Phần 4: Một số biện pháp cải thiện tình hình tài chính tại Công ty Xây dựng công trình 507.
Sinh viên: Đặng Thị Phương Linh - Lớp: QT 1002N Phân tích TC và BP cải thiện tình hình TC tại Công ty XDCT 507 PHẦN 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP VÀ PHÂN TÍCH TÀI CHÍNH DOANH NGHIỆP 1.Tổng quan về tài chính doanh nghiệp: 1.Khái niệm về tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp là quá trình tạo lập, phân phối và sử dụng các quỹ tiền tệ phát sinh trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp nhằm góp phần đạt tới các mục tiêu của doanh nghiệp. Bản chất tài chính doanh nghiệp: Tài chính doanh nghiệp xét về bản chất là các mối quan hệ phân phối dƣới hình thức giá trị gắn liền với sự tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp trong quá trình kinh doanh. Xét về hình thức, tài chính doanh nghiệp phản ánh sự vận động và chuyển hóa của các nguồn lực tài chính trong quá trình phân phối để tạo lập hoặc sử dụng các quỹ tiền tệ của doanh nghiệp hợp thành các quan hệ tài chính của doanh nghiệp. Vì vậy, các hoạt động gắn liền với việc phân phối để tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ thuộc hoạt động tài chính của doanh nghiệp.Các quan hệ tài chính của doanh nghiệp: Quan hệ trong nội bộ doanh nghiệp: Xuất phát từ mục đích sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, cũng nhƣ những mối quan hệ về phân phối và phân phối lại dƣới hình thức giá trị của cải vật chất sử dụng và sáng tạo ra ở doanh nghiệp.
Quan hệ tài chính trong nội bộ doanh nghiệp: đó là những quan hệ về phân phối, điều hòa cơ cấu thành phần vốn kinh doanh, phân phối thu nhập giữa các thành viên trong nội bộ doanh nghiệp; các quan hệ về thanh toán hợp đồng lao động giữa chủ doanh nghiệp và công nhân viên chức. Các mối quan hệ này đều thông qua việc tạo lập và sử dụng các quỹ tiền tệ ở doanh nghiệp nhƣ: vốn cố định, vốn lƣu động, quỹ tiền lƣơng, quỹ khấu Sinh viên: Đặng Thị Phương Linh - Lớp: QT 1002N Phân tích TC và BP cải thiện tình hình TC tại Công ty XDCT 507 hao, quỹ dự trữ tài chính…nhằm phục vụ cho các mục tiêu kinh doanh của doanh nghiệp. Quan hệ tài chính giữa doanh nghiệp với Nhà nước: Đây là mối quan hệ phát sinh khi doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ tài chính với Nhà nƣớc nhƣ nộp các khoản thuế, phí, lệ phí…vào ngân sách Nhà nƣớc. Quan hệ này còn đƣợc biểu hiện thông qua việc Nhà nƣớc cấp vốn cho doanh nghiệp hoạt động, hỗ trợ doanh nghiệp về kỹ thuật, cơ sở vật chất, đào tạo con ngƣời… Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường tài chính: Quan hệ này đƣợc thể hiện thông qua việc doanh nghiệp tìm kiếm các nguồn tài trợ.
Trên thị trƣờng tài chính, doanh nghiệp có thể vay ngắn hạn để đáp ứng nhu cầu vốn ngắn hạn, có thể phát hành cổ phiếu, trái phiếu để đáp ứng nhu cầu vốn của doanh nghiệp. Ngƣợc lại doanh nghiệp phải trả lãi vay và vốn vay, trả lãi cổ phần cho các nhà tài trợ. Doanh nghiệp cũng có thể gửi tiền vào ngân hàng, đầu tƣ chứng khoán bằng số tiền tạm thời chƣa sử dụng. Quan hệ giữa doanh nghiệp với thị trường khác: Trong nền kinh tế thị trƣờng, doanh nghiệp còn có mối quan hệ chặt chẽ với các doanh nghiệp khác trên thị trƣờng hàng hóa, dịch vụ, thị trƣờng sức lao động.
Đây là thị trƣờng mà tại đó doanh nghiệp tiến hành mua sắm máy móc, thiết bị, nhà xƣởng, tìm kiếm lao động… Điều quan trọng là thông qua thị trƣờng, doanh nghiệp có thể xác định nhu cầu hàng hóa, dịch vụ cần thiết để cung ứng. Trên cơ sở đó doanh nghiệp hoạch định ngân sách đầu tƣ, kế hoạch sản xuất, tiếp thị nhằm thỏa mãn nhu cầu thị trƣờng. Chức năng của tài chính doanh nghiệp: Tổ chức vốn và luân chuyển vốn: Một trong những điều kiện đảm bảo cho doanh nghiệp hoạt động thƣờng xuyên, liên tục là phải có đầy đủ vốn để thỏa mãn các nhu cầu chi tiêu cần thiết cho quá trình sản xuất kinh doanhh. Song, do sự vận động của vật tƣ, hàng hóa và tiền tệ thƣờng không khớp nhau về thời gian nên giữa nhu cầu và khả năng về Sinh viên: Đặng Thị Phương Linh - Lớp: QT 1002N Phân tích TC và BP cải thiện tình hình TC tại Công ty XDCT 507 vốn tiến tệ thƣờng không cân đối nhau.
Vì vậy, đảm bảo đủ vốn cho hoạt động sản xuất kinh doanh là vấn đề quan trọng, đòi hỏi phải tổ chức vốn. Thực hiện tốt chức năng tổ chức của tài chính doanh nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn tức là dùng một số vốn ít nhằm đạt đƣợc hiệu quả cao nhất. Phân phối thu nhập bằng tiền: Sau một thời gian hoạt động sản xuất kinh doanh, doanh nghiệp có đƣợc thu nhập bằng tiền. Để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đƣợc diễn ra liên tục cần thiết phải phân phối số thu nhập này.
Thực chất đó là quá trình hình thành các khoản thu nhập bằng tiền, bù đắp chi phí (chi phí sản xuất kinh doanh, chi phí sản xuất lƣu thông…) phân phối tích lũy tiền tệ đạt đƣợc thông qua sự vận động và sử dụng các quỹ tiền tệ ở doanh nghiệp. Việc thực hiện tốt chức năng này có ý nghĩa quan trọng: - Đảm bảo bù đắp những hao phí về lao động sống và lao động vật hóa đã tiêu hao trong quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo nguồn vốn cho quá trình kinh doanh liên tục. - Phát huy đƣợc vai trò của đòn bẩy tài chính doanh nghiệp. Kết hợp đúng đắn giữa lợi ích Nhà nƣớc, doanh nghiệp và cán bộ công nhân viên, thúc đầy doanh nghiệp và công nhân viên quan tâm đến hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Giám đốc (kiểm tra): Tổ chức vốn, phân phối thu nhập và tích lũy tiền tệ đòi hỏi phải có sự giám đốc, kiểm tra. Giám đốc của tài chính doanh nghiệp là loại giám đốc toàn diện, thƣờng xuyên và có hiệu quả cao, không những giúp doanh nghiệp thấy rõ tiến trình hoạt động của doanh nghiệp mà còn giúp thấy rõ hiệu quả kinh tế do những hoạt động đó mang lại. Bởi vì hầu hết các hoạt động kinh tế của doanh nghiệp đều đƣợc thể hiện qua các chỉ tiêu tiền tệ. Từ đó, thông qua tình hình quản lý và sử dụng vốn, chi phí dịch vụ, các loại quỹ, các khoản tiền thu, thanh toán với cán bộ công nhân với các đơn vị kinh tế khác, với Nhà nƣớc… mà phát hiện chỗ Sinh viên: Đặng Thị Phương Linh - Lớp: QT 1002N Phân tích TC và BP cải thiện tình hình TC tại Công ty XDCT 507 mạnh, chỗ yếu từ đó có biện pháp tác động thúc đẩy doanh nghiệp cải tiến các hoạt động tổ chức quản lý kinh doanh sản xuất kinh doanh nhằm đạt hiệu quả cao nhất.
Ba chức năng của tài chính doanh nghiệp có mối quan hệ hữu cơ, không thể tách rời nhau. Thực hiện chức năng quản lý vốn và chức năng phân phối tiến hành đồng thời với chức năng giám đốc. Quá trình giám đốc, kiểm tra tiến hành tốt thì quá trình tổ chức phân phối vốn mới đƣợc thực hiện tốt. Ngƣợc lại, việc tổ chức vốn và phân phối tốt sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện chức năng giám đốc.
Quản trị tài chính doanh nghiệp: 1. Khái niệm quản trị tài chính doanh nghiệp: Quản trị tài chính doanh nghiệp là việc lựa chọn và đƣa ra các quyết định tài chính, tổ chức thực hiện những quyết định đó nhằm đạt đƣợc mục tiêu hoạt động của doanh nghiệp, đó là tối đa hóa lợi nhuận, không ngừng làm tăng giá trị doanh nghiệp và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trƣờng. Quản trị tài chính có mối quan hệ chặt chẽ với quản trị doanh nghiệp và giữ vị trí quan trọng hàng đầu trong quản trị doanh nghiệp. Hầu hết mọi quyết định quản trị khác đều dựa trên những kết luận rút ra từ những đánh giá về mặt tài chính trong hoạt động của doanh nghiệp.
Vai trò của quản trị tài chính doanh nghiệp: - Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. - Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả. - Giám sát, kiểm tra thƣờng xuyên, chặt chẽ các mặt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Các nhân tố ảnh hưởng tới quản trị tài chính doanh nghiệp: Hình thức pháp lý của tổ chức doanh nghiệp: Những đặc điểm riêng về mặt pháp lý tổ chức doanh nghiệp giữa các doanh nghiệp có ảnh hƣởng lớn đến quản trị tài chính doanh nghiệp nhƣ việc có Sinh viên: Đặng Thị Phương Linh - Lớp: QT 1002N Phân tích TC và BP cải thiện tình hình TC tại Công ty XDCT 507 tổ chức huy động vốn, sử dụng vốn kinh doanh và việc phân phối kết quả kinh doanh của doanh nghiệp.
Theo hình thức pháp lý tổ chức doanh nghiếp hiện hành ở nƣớc ta, hiện có các loại hình doanh nghiệp sau: - Doanh nghiệp Nhà nƣớc - Công ty cổ phần - Doanh nghiệp tƣ nhân - Công ty hợp danh - Doanh nghiệp có vốn đầu tƣ nƣớc ngoài Đặc điểm kinh tế kỹ thuật của ngành kinh doanh: - Ảnh hƣởng của tình chất ngành kinh doanh: ảnh hƣởng này thể hiện trong thành phần cơ cấu vốn kinh doanh, cũng nhƣ tỷ lệ thích ứng để hình thành và sử dụng chúng, do đó có ảnh hƣởng tới tốc độ luân chuyển vốn (vốn cố định và vốn lƣu động) ảnh hƣởng đến phƣơng pháp đầu tƣ, thể thức thanh toán và chi trả. - Ảnh hƣởng của tính thời vụ và chu kỳ sản xuất kinh doanh: tính thời vụ và chu kỳ sản xuất có ảnh hƣởng đến nhu cầu vốn sử dụng và doanh thu tiêu thụ sản phẩm. Môi trường kinh doanh: Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trƣờng kinh doanh nhất định. Môi trƣờng kinh doanh bao gồm tất cả những điều kiện bên ngoài ảnh hƣởng tới hoạt động của doanh nghiệp.