CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ SỰ TÁC ĐỘNG CUNG TIỀN CỦA NGÂN HÀNG TRUNG ƯƠNG ĐẾN GIÁ CẢ VÀ SẢN LƯỢNG TRONG NỀN KINH TẾ 1. Tổng quan về cung tiền của Ngân hàng trung ương 1. Mục tiêu của cung tiền NHTW là cơ quan điều hành chính sách tiền tệ của một quốc gia, nhưng trên thực tế có rất ít NHTW có thể điều hành chính sách tiền tệ một cách độc lập. Nhiều quốc gia trên thế giới, NHTW thường trực thuộc Chính phủ nên mức độ độc lập trong điều hành chính sách không cao, phần lớn liên quan đến các yếu tố về thể chế (Fry, 2009).
Chính sách tiền tệ có mục tiêu trung gian là kiểm soát cung tiền, khi cung tiền tăng có thể kích thích tăng trưởng sản lượng, nhưng đi kèm là giá cả trong nền kinh tế gia tăng (Goujon, 2011). Về mặt thực tiễn, rất khó để có thể kiểm soát được các biến số kinh tế vĩ mô như giá cả và sản lượng một cách trực tiếp mà phải thông qua các mục tiêu trung gian để thực hiện được những mục tiêu cuối cùng này (Cambazoğlu and Karaalp, 2012). Như vậy, về lý thuyết, mục tiêu của cung tiền là kiểm soát giá cả và NHTW sử dụng các công cụ chính sách để điều tiết lượng tiền nhằm ổn định giá trị tiền tệ trong nền kinh tế. Tuy nhiên, trong trường hợp NHTW không độc lập thì mục tiêu cuối cùng có thể không phải là mục tiêu duy nhất mà còn phải thực hiện những mục tiêu khác như đảm bảo tăng trưởng kinh tế, ổn định tỷ giá và tạo công ăn việc làm.
Bởi vì lúc này NHTW phải chấp hành sự điều hành của Chính phủ. Các công cụ cung tiền Để thực hiện được những mục tiêu cuối cùng là ổn định giá cả, kích thích tăng trưởng kinh tế và đảm bảo an toàn hệ thống tài chính, NHTW phải thực hiện thông qua những công cụ tiền tệ để đạt được mục tiêu đề ra, bao gồm hoạt động thị trường mở, dự trữ bắt buộc và lãi suất chính sách. NHTW có thể tăng cung tiền bằng cách thực hiện hoạt động thị trường mở, cho vay tái cấp vốn hoặc đơn giản là in thêm tiền. Tuy nhiên, việc cung ứng lượng tiền này ra nền kinh tế có thể thực hiện bằng cách thông qua hệ thống trung gian tài chính là các NHTM.
Như vậy, có LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 6 thể kết luận rằng, NHTM cũng có khả năng tạo tiền thông qua hoạt động vay và cho vay. NHTW có thể kiểm soát mức tăng hoặc giảm lượng tiền trong lưu thông (C) và tỷ lệ dự trữ bắt buộc (R), thông qua đó có thể kiểm soát được mức cung tiền. Tuy nhiên, để có thể làm tăng hoặc giảm cung tiền, NHTW phải thông qua các công cụ của chính sách tiền tệ. Như vậy, quá trình tạo tiền của NHTW sẽ thông qua hai giai đoạn, thứ nhất là từ NHTW đến NHTM và thứ hai là từ NHTM cho vay ra nền kinh tế qua kênh tín dụng.
Khi NHTW thực hiện tăng cung tiền bằng các công cụ tiền tệ, khối tiền trong lưu thông sẽ không tăng lên một lượng bằng với lượng tăng thêm, mà tiền trong lưu thông sẽ tăng lên theo cơ chế số nhân tiền tệ. Mô hình quá trình cung tiền tệ có phương trình như sau 1: M = [(cr+1)/(cr+rr)]*MB M = k*MB Trong đó: - cr = C/D: Tỷ lệ tiền trong lưu thông so với tiền gửi; - rr = R/D: Tỷ lệ dự trữ bắt buộc; - MB = C+R: Cơ sở tiền; - K =[(cr+1)/(cr+rr)]: Số nhân tiền tệ; - M: Cung tiền. Hoạt động thị trường mở Hoạt động thị trường mở có thể được hiểu là việc mua bán giấy tờ có giá như trái phiếu Chính phủ, tín phiếu kho bạc giữa các NHTM với NHTW. Chẳng hạn, khi muốn tăng lượng cung tiền, NHTW có thể mua lại giấy tờ có giá và như vậy một lượng tiền từ NHTW đã được chuyển qua NHTM.
Thông qua kênh tín dụng, NHTM lại cung một lượng tiền ra nền kinh tế bằng cách cho các tổ chức và cá nhân vay. Ngược lại, trong trường hợp muốn thu hẹp cung tiền, NHTW sẽ bán giấy tờ có giá cho NHTM và thu một lượng tiền về và kết quả là cung tiền giảm đi. Hoạt động 1 Đinh Vũ Trang Ngân, Tiền và chính sách tiền tệ, Chương trình giảng dạy kinh tế Fulbright, 2011. LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 7 thị trường mở là nghiệp vụ quan trọng của các NHTW trên thế giới trong việc kiểm soát cung tiền trong nền kinh tế.
Tỷ lệ dự trữ bắt buộc Tỷ lệ dự trữ bắt buộc là tỷ lệ mà NHTW yêu cầu các NHTM phải dự trữ trên số tiền huy động được. Về nguyên tắc, công cụ này mang tính hành chính hơn là chính sách trong việc thực thi chính sách tiền tệ. Tỷ lệ dự trữ bắt buộc giảm sẽ giúp các NHTM có điều kiện để đẩy mạnh hoạt động tín dụng, vì số tiền phải dự trữ giảm đi. Ngược lại, khi muốn giảm cung tiền, NHTW có thể tăng dự trữ bắt buộc làm cho các NHTM phải dự trữ trên số tiền huy động được lớn hơn, chính sách này sẽ gián tiếp hạn chế hoạt động cho vay của các NHTM.
Lãi suất chính sách Lãi suất chính sách là lãi suất định hướng của NHTW đối với NHTM. Các loại lãi suất chính sách bao gồm lãi suất cơ bản, lãi suất tái chiết khấu, lãi suất tái cấp vốn, lãi suất trên thị trường mở và lãi suất trên thị trường liên ngân hàng. Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất mà NHTM chiết khấu giấy tờ có giá tại NHTW. Khi lãi suất này hấp dẫn so với lãi suất thị trường, NHTM có thể thực hiện nghiệp vụ này.
Trong khi đó, lãi suất cơ bản là lãi suất định hướng lãi suất cho vay của các NHTM. Lãi suất tái cấp vốn là loại lãi suất đặc biệt, trong trường hợp các NHTM mất thanh khoản cần một lượng vốn nhanh chóng để đảm bảo an toàn hoạt động thì NHTM có thể sử dụng công cụ tái cấp vốn tại NHTW. Như vậy, lãi suất chính sách là công cụ gián tiếp để NHTW có thể tăng lượng cung tiền và tạo điều kiện thuận lợi để NHTM tăng cung tín dụng ra nền kinh tế. Tổng quan về giá cả và sản lượng trong nền kinh tế 1.
Tổng quan về giá cả Giá cả là một trong những biến kinh tế vĩ mô quan trọng. Biến số này có sự tác động đến nhiều biến vĩ mô khác trong nền kinh tế như sản lượng, tiêu dùng, đầu tư, lãi suất và các biến khác. Hàng năm, các nhà hoạch định chính sách thường đưa ra mục tiêu giá cả và điều hành chính sách tiền tệ để đạt mục tiêu đó. Theo thông lệ quốc tế, giá cả chung của nền kinh tế được đo lường thông qua chỉ số CPI, chỉ số LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 8 này được thống kê hàng tháng bằng cách tính bình quân các loại hàng hóa với các trọng số khác nhau.
Có hai cách tính chỉ số CPI: ∑𝑛𝑛𝑖𝑖=1 𝑃𝑃𝑖𝑖𝑖𝑖 𝑄𝑄𝑖𝑖0 Theo phương pháp Laspeyres: CPI = ∗100 ∑𝑛𝑛𝑖𝑖=1 𝑃𝑃𝑖𝑖0 𝑄𝑄𝑖𝑖0 Trong đó: - 𝑃𝑃𝑖𝑖𝑖𝑖 : Giá hàng hóa i tại thời kỳ t; - 𝑃𝑃𝑖𝑖0 : Giá hàng hóa i tại thời kỳ gốc; - 𝑄𝑄𝑖𝑖0 : Hàng hóa i trong thời kỳ gốc. ∑𝑛𝑛𝑖𝑖=1 𝑃𝑃𝑖𝑖𝑖𝑖 𝑄𝑄𝑖𝑖𝑡𝑡 Theo phương pháp Peasche: CPI = ∗100 ∑𝑛𝑛𝑖𝑖=1 𝑃𝑃𝑖𝑖0 𝑄𝑄𝑖𝑖𝑡𝑡 Trong đó: - 𝑃𝑃𝑖𝑖𝑖𝑖 : Giá hàng hóa i tại thời kỳ t; - 𝑃𝑃𝑖𝑖0 : Giá hàng hóa i tại thời kỳ gốc; - 𝑄𝑄𝑖𝑖𝑡𝑡 : Hàng hóa i trong thời kỳ t. Tổng quan về sản lượng Sản lượng của nền kinh tế được đo lường thông qua chỉ số GDP. Chỉ số này là một biến kinh tế rất quan trọng, cho thấy giá trị sản phẩm tăng thêm của xã hội được làm ra trong một khoảng thời gian nhất định.
Ngoài ra, sự gia tăng hàng năm của GDP chính là thước đo để đánh giá tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia. Các nhà hoạch định chính sách thường đặt mục tiêu đối với biến số này và thực hiện các chính sách tài khóa, tiền tệ và các chính sách khác để kích thích tăng trưởng sản lượng. Trong thời kỳ suy thoái kinh tế, Chính phủ có thể dùng chính sách tài khóa và tiền tệ mở rộng để kích thích làm sản lượng gia tăng. Ngược lại, trong thời kỳ kinh tế tăng trưởng quá nóng, để kiềm chế tốc độ tăng trưởng GDP, chính sách thu hẹp tài khóa và tiền tệ có thể được sử dụng, bởi vì tốc độ tăng trưởng quá nóng có thể đi kèm với sự tăng giá cả và gây ra các tác động lợi bất cập hại đối với nền kinh tế.
Sản lượng thường được đo lường theo phương pháp tổng cầu: Y=GDP=C+I+G+X-M LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 9 Trong đó: - C: Tiêu dùng; - I: Đầu tư; - G: Chi tiêu của Chính phủ; - X, M: Xuất khẩu và nhập khẩu. Sự tác động cung tiền của Ngân hàng trung ương đến giá cả và sản lượng 1. Sự tác động của cung tiền đến giá cả NHTW thông qua các công cụ chính sách để thực thi chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp nhằm đạt mục tiêu nhất định. Việc thực hiện chính sách tiền tệ mở rộng hay thu hẹp sẽ ảnh hưởng đến các biến số kinh tế vĩ mô cơ bản thông qua cơ chế truyền dẫn (Cambazoğluand Karaalp, 2012).
Theo quan điểm của trường phái trọng tiền, điểm hình là Friedman, khi NHTW tăng cung tiền quá mức sẽ làm giá cả chung của nền kinh tế tăng lên và ngược lại (Gokaland Hanif, 2004). Trường phái trọng tiền cho rằng, trong thời kỳ suy thoái kinh tế, NHTW cần tăng lượng cung tiền để giúp tăng trưởng kinh tế và trong thời kỳ tăng trưởng nóng cần giảm tốc độ tăng cung tiền để hạ nhiệt nền kinh tế. Theo Friedman nguyên nhân của khủng hoảng 1929-1933 là do Cục dự trữ liêng bang Hoa Kỳ đã phát hành một lượng tiền quá ít so với yêu cầu của tăng trưởng kinh tế. Phương trình diễn tả mối quan hệ giữa cung tiền và giá cả: M*V=P*Q (1.1) Trong đó: - M: khối tiền M2; - V: Tốc độ lưu thông của khối tiền; - P: Giá cả chung trong nền kinh tế, được đo lường thông qua chỉ số CPI; - Q: Sản lượng, được tính bằng GDP thực.
Lấy log hai vế phương trình (1.1), phương trình mới là: %∆M +%∆V = %∆P+%∆Q (1.2) LUAN VAN CHAT LUONG download : add luanvanchat@agmail.com 10 Từ phương trình (1.