CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU VỀ TÁC ĐỘNG CỦA CÁC NHÂN TỐ ĐẾN KHẢ NĂNG SINH LỢI TRONG CÁC DOANH NGHIỆP 1.1 Các nghiên cứu về khả năng sinh lợi và đo lường khả năng sinh lợi 1.1 Khả năng sinh lợi Như chúng ta thấy bất kỳ doanh nghiệp nào khi kinh doanh đều hướng tới mục tiêu lợi nhuận, do đó các doanh nghiệp vô cùng quan tâm đến khả năng sinh lợi của doanh nghiệp mình vì doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển lâu dài thì doanh nghiệp đó phải có khả năng sinh lợi. Khả năng sinh lợi cũng là vấn đề được quan tâm bởi rất nhiều tác giả trong và ngoài nước với nhiều quan điểm và vấn đề nghiên cứu thực nghiệm khác nhau và đã có nhiều kết quả nghiên cứu đáng chú ý. Như trong bài báo nghiên cứu với đề tài “Mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi: Bằng chứng thực nghiệm ở VN”, của Từ Thị Kim Thoa và Nguyễn Thị Uyên Uyên (2014) đã sử dụng phân tích dữ liệu bảng gồm 208 công ty phi tài chính niêm yết trên Sở Giao dịch Chứng khoán TP.HCM (HOSE) và Sở Giao dịch Chứng khoán Hà Nội (HNX) trong giai đoạn 2006 đến 2012, bằng các phương pháp ước lượng bình phương tối thiểu (pooled OLS), mô hình hiệu ứng cố định (FEM) và bình phương tối thiểu tổng quát (GLS) kiểm định mối quan hệ giữa quản trị vốn luân chuyển và khả năng sinh lợi ở các doanh nghiệp VN. Bài báo của Nguyễn Văn Dương (2022) cho rằng khả năng sinh lợi chính là vấn đề nòng cốt của doanh nghiệp và mức độ mà một doanh nghiệp có thể tạo ra lợi nhuận được gọi là khả năng sinh lợi của nó.
Hay Nguyễn Văn Công (2019), khả năng sinh lợi là chỉ tiêu phản ánh lợi nhuận mà doanh nghiệp có thể thu được trên một đơn vị chi phí hay yếu tố đầu vào hay trên một đơn vị đầu ra phản ánh kết quả kinh doanh. Bài báo nghiên cứu với đề tài “Ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động tới khả năng sinh lợi của doanh nghiệp: Bằng chứng từ các doanh nghiệp sản xuất vật liệu xây dựng tại Việt Nam” của Dương Thị Hồng Vân và Trần Phương Nga (2018) đã tập 9 trung phân tích và đánh giá ảnh hưởng của quản trị vốn lưu động tới khả năng sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) của các doanh nghiệp. Theo từ điển Kinh tế học (Nguyễn Văn Ngọc, 2012) khả năng sinh lợi (Profitability) là một con số đánh giá khả năng tạo ra lợi nhuận của một doanh nghiệp trong thời gian dài, giả sử tất cả các điều kiện hoạt động hiện tại nói chung là không đổi. Bên cạnh đó cũng có những nghiên cứu nước ngoài cũng đã có những định nghĩa về khả năng sinh lợi như Pandey & Diaz (2019), khả năng sinh lợi là khả năng kiếm được lợi nhuận của một doanh nghiệp, khả năng sinh lợi có thể đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp về lợi nhuận mà doanh nghiệp kiếm được liên quan đến đầu tư của các cổ đông hoặc vốn được sử dụng trong doanh nghiệp hoặc liên quan đến doanh thu.
Hay Malik (2011), cho rằng khả năng sinh lợi là một trong những thước đo, mục tiêu quan trọng nhất của quản lý tài chính và mục tiêu của quản lý tài chính là tối đa hóa sự giàu có của chủ sở hữu và khả năng sinh lợi là yếu tố quyết định rất quan trọng của hiệu suất, đồng thời ông cũng cho rằng khả năng sinh lợi là thước đo hiệu quả về sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Ngoài ra, khả năng sinh lợi (profitability) còn được định nghĩa là sự chênh lệch giữa chi phí và doanh thu trong một khoản thời gian cố định, thường là một năm tài chính (Malik, Awais, & Khursheed, 2016). Với nghiên cứu “Journal of Research and Analytical Reviews” của Abate & Mesfin (2019) tại Ethiopia đã áp dụng phân tích dữ liệu bảng với 9 ngân hàng thương mại trong giai đoạn 2007-2016 và cho thấy sự ảnh hưởng đáng kể của các nhân tố đối với khả năng sinh lợi của ngân hàng. Hay trong bài báo của Phan Thu Hiền và Nguyễn Nhật Hà (2020) với đề tài “Các yếu tố tác động đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp ngành dệt may trên thị trường chứng khoán Việt Nam” đã nghiên cứu phân tích và đánh giá tác động của các yếu tố đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp ngành dệt may niêm yết trên Thị Trường Chứng Khoán (TTCK) Việt Nam giai đoạn 2009 - 2018.
Dựa trên các khái niệm liên quan đến khả năng sinh lợi đã được thu thập từ các công trình nghiên cứu trước đây, tác giả cho rằng khả năng sinh lợi là chỉ tiêu phản 10 ánh hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp cũng như là một con số cho thấy mức độ mà một doanh nghiệp có thể tạo ra lợi nhuận trong một khoảng thời gian cố định.2 Đo lường khả năng sinh lợi Để đo lường và phản ánh khả năng sinh lợi, các chỉ tiêu sức sinh lợi thông thường được sử dụng như sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE), sức sinh lợi của doanh thu thuần (ROS), sức sinh lợi của tài sản (ROA). Ngoài ra, còn có một số chỉ tiêu cũng có thể được dùng như sức sinh lợi của vốn đầu tư (ROIC), sức sinh lợi của vốn dài hạn (ROCE) hay sức sinh lợi cơ bản của tài sản (BEP). Tuy nhiên, ở nghiên cứu này tác giả sẽ chú trọng đến hai chỉ tiêu đó là ROA và ROE. Sức sinh lợi của tài sản (ROA) Theo Phan Đức Dũng (2008), sức sinh lợi của tài sản hay còn gọi là tỷ suất sinh lợi trên tổng tài sản (Return on Assets – ROA) là một tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng tài sản của doanh nghiệp.
Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp trong kỳ báo cáo chia cho bình quân tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp trong cùng kỳ. Công thức được tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROA = x 100 Tổng tài sản bình quân Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Tỷ số càng cao cho thấy doanh nghiệp làm ăn càng hiệu quả. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ.
Ngoài ra, chỉ tiêu ROA thể hiện tính hiệu quả của quá trình tổ chức, quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh và sử dụng tài sản của doanh nghiệp. Kết quả chỉ tiêu cho biết bình quân cứ một đồng tài sản được sử dụng trong quá trình sản xuất kinh doanh thì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Vì vậy, chỉ số này sẽ cho biết một doanh nghiệp sử dụng tài sản để kiếm lời hiệu quả như thế nào (Phan Thu Hiền & Nguyễn Nhật Hà, 2020). 11 Trong bài báo nghiên cứu “The Impact of Financial Leverage, Growth, and Size on Profitability of Jordanian Industrial Listed Companies” của AlGhusin (2015) với mục đích chính là điều tra tác động của đòn bẩy tài chính, tăng trưởng của công ty, tỷ lệ nợ ngắn hạn trên tổng tài sản và quy mô công ty như là các biến độc lập đối với khả năng sinh lợi trên tổng tài sản (ROA) là biến phụ thuộc.
Với mẫu dữ liệu được chọn gồm 25 công ty Công nghiệp Jordan được niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Amman (ASE) trong thời gian 10 năm (từ 1995-2005). Kết quả nghiên cứu cho thấy rằng có tác động đáng kể của đòn bẩy tài chính và tăng trưởng đối với ROA của các công ty. Từ đó nghiên cứu đưa ra biện pháp để công ty có thể nâng cao khả năng sinh lợi của công ty mình bằng cách giảm thiểu nợ và tăng tài sản tài chính so với tổng tài sản. Sau cùng, nghiên cứu kết luận một số kiến nghị những gì có lợi cho các bên liên quan.
Hay bài báo nghiên cứu “Ảnh hưởng của vốn hoạt động thuần đến khả năng sinh lợi của các doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết tại Việt Nam” của Lê Thị Thanh Mỹ và Lê Thị Thanh Nhật (2021) bằng cách thu thập từ Báo cáo tài chính đã được kiểm toán của 38 doanh nghiệp ngành xây dựng niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán Thành phố Hồ Chí Minh và Sở giao dịch chứng khoán Hà Nội trong 5 năm 2015-2019, cùng với các mô hình nghiên cứu bao gồm hồi quy nhỏ nhất, mô hình sai phân bậc 1, mô hình tác động cố định, mô hình tác động ngẫu nhiên và mô hình momen tổng quát, tác giả đã kiểm định mối quan hệ giữa vốn hoạt động thuần với khả năng sinh lợi thông qua hai chỉ tiêu là hệ số đảm nhiệm vốn hoạt động thuần (WCR) và ROA. Kết quả phân tích cho thấy rằng giữa hệ số đảm nhiệm vốn hoạt động thuần (WCR) và khả năng sinh lợi của đơn vị có mối quan hệ phi tuyến tính, cụ thể là theo hình chữ U ngược và tại đó sẽ có một giá trị của WCR mà khả năng sinh lợi của doanh nghiệp là tối ưu nhất. Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu (ROE) Theo Nguyễn Minh Kiều (2009), sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu hay còn gọi là tỷ suất sinh lợi trên vốn chủ sở hữu (Return on Equity – ROE) là tỷ số tài chính dùng để đo lường khả năng sinh lợi trên mỗi đồng vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp. Chỉ tiêu này được tính bằng cách lấy lợi nhuận sau thuế của doanh nghiệp trong kỳ báo 12 cáo chia cho bình quân vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp trong cùng kỳ.
Công thức được tính như sau: Lợi nhuận sau thuế ROE = x 100 Vốn chủ sở hữu bình quân Nếu tỷ số này lớn hơn 0, thì có nghĩa doanh nghiệp làm ăn có lãi. Còn nếu tỷ số nhỏ hơn 0, thì doanh nghiệp làm ăn thua lỗ. Ngoài ra, chỉ tiêu ROE còn cho biết hiệu quả quản lý và sử dụng vốn chủ sở hữu để tạo ra thu nhập của doanh nghiệp. Chỉ tiêu ROE phản ánh năng lực sử dụng đồng vốn để sinh lợi trong quá trình hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp.
Phân tích khả năng sinh lợi của vốn chủ sở hữu cho thấy rõ, một đồng vốn chủ sở hữu sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế thu nhập doanh nghiệp. Việc xem xét chỉ tiêu này có một ý nghĩa quan trọng là xác định mục tiêu kinh doanh của ban lãnh đạo doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận hay tối đa hoá quy mô (Phan Thu Hiền & Nguyễn Nhật Hà, 2020). Trong bài báo nghiên cứu “Factors affecting profitability in Malaysia” của Alarussi & Alhaderi (2018) nhằm kiểm tra các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng sinh lợi trong các công ty niêm yết tại Malaysia.