ĐẶT VẤN ĐỀ 11 Giới Thiệu Tôm Sú là một trong những loài thủy sản có giá trị dinh dưỡng cao, thịt ngon, giàu đạm, Canxi. Đây cũng là mặt hàng xuất khẩu có giá trị kinh tế được nhiều thị trường trên thế giới ưa chuộng đặc biệt là Mỹ và các nước Châu A. Ngày nay, trong tiến trình công nghiệp hóa-hiện đại hóa, nông nghiệp vẫn giữ vai trò quan trọng trong việc cung cấp lương, thực thực phẩm cho nhu cầu người dân và cung cấp nguyên vật liệu cho các ngành sản xuất khác. Trong cơ cấu nông nghiệp, ngành nuôi trông thủy sản (NTTS) được coi là ngành kinh tế mũi nhọn, trong đó ngành nuôi tôm Sú đặc biệt giữ vị trí quan trọng trong xuất khẩu đóng góp ngoại tệ đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu của nước ta.
Nghề nuôi tôm Sú ở Việt Nam đã hình thành từ lâu đời, chủ yếu nuôi theo mô hình tự nhiên, quảng canh, bán thâm canh, mật độ thưa nên năng suất thấp, hiệu quả kinh tế không cao. Trong những năm gần đây, ngành nuôi tôm Sú đã phát triển rất nhanh ở các tỉnh đồng bằng sông Cửu Long như Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau. Huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng là một trong các địa phương có mô hình nuôi tôm Sú công nghiệp bước đầu thành công và đạt hiệu quả kinh tế cao. Trước đây, vùng này có đặc điểm là đất phèn mặn, đất hoang chỉ có một số là đất nông nghiệp một năm chỉ trồng được một vụ lúa vào mùa mưa, thời tiết khắc nghiệt năng suất đạt rất thấp có năm bị thất mùa mất trắng.
Từ năm 2000 chính phủ đã qui hoạch vùng nuôi tôm và đê bao bảo vệ. Vùng qui hoạch bao gồm các xã: Lịch Hội Thượng, Liêu Tú và Trung Bình với diện tích qui hoạch là 5528ha phát triển hết khu vực từ tỉnh lộ 8 ra đến đê. Từ đó, người dân đã chuyển đổi cơ cấu kinh tế từ trồng lúa kém hiệu quả sang nuôi tôm theo mô hình nuôi tôm Sú công nghiệp, bước đầu mô hình nuôi đã đạt hiệu quả rất cao. Tuy nhiên, những năm gần đây phong trào nuôi tôm Sú tại địa phương vẫn còn nhiều khó khăn bất cập như sự ô nhiễm môi trường nước, kỹ thuật nuôi, chất lượng con giống, dịch bệnh, thị trường tiêu thu.
khiến người nuôi tôm (NNT) nơi đây hoang mang, chưa thật sự yên tâm sản xuất.2 Sự Cần Thiết Của Đề Tài Nghề nuôi tôm Sú đã phát triển rất mạnh ở nhiều địa phương đặc biệt là các tỉnh ven biển, có nhiều mô hình nuôi khác nhau như: quảng canh, quảng canh cải tiến, bán công nghiệp và công nghiệp. Đây là ngành mang lại siêu lợi nhuận so với trồng lúa và tích lũy ngoại tệ thông qua xuất khẩu. Trong đó mô hình nuôi tôm Sú công nghiệp mang lại hiệu quả kinh tế cao nhất và đã thúc đẩy người dân mạnh dạng đầu tư mở rộng qui mô sản xuất. Mặt khác, đây cũng là ngành nghề gặp không ít rủi ro từ nhiều yếu tố khác nhau như: chất lượng con giống, tình hình dịch bệnh, thời tiết khí hậu, sự ô nhiễm môi trường.
Những rủi ro này không những làm giảm năng suất tôm nuôi mà có thể mang lại sự phá sản cho người nuôi tôm, nếu không có biện pháp xử lý, khắc phục kịp thời. Môi trường nước tự nhiên trong thời gian qua bị ô nhiễm với mức độ ngày càng nghiêm trọng và gây ra nhiều dịch bệnh lan tràn cho tôm. Đặc biệt những hộ nuôi tại vùng qui hoạch nuôi tôm Su công nghiệp trên địa bàn huyện Long Phú nuôi với mật độ cao, lượng thức ăn lớn, trình độ kỹ thuật cao, chi phí đầu tư lớn, khi gặp rủi ro trong mùa vụ sẽ bị thiệt hại nặng nề và ngày càng kiệt quệ về kinh tế thậm chí trắng tay. Chất lượng con giống là vấn dé trọng tâm quyết định rất lớn đến năng suất và chất lượng tôm thành phẩm.
Trong thời điểm hiện nay, nghề nuôi tôm Sú phát triển nhảy vọt về quy mô, diện tích dẫn đến số lượng con giống có lúc không đủ để đáp ứng nhu cầu NNT trong vụ. Vì vậy, đã có một số lượng con giống không đạt yêu cầu, chưa qua kiểm dich gây thiệt hại đáng kể cho NNT. Mặt khác, yếu tố kỹ thuật trong quá trình nuôi như: tỷ lệ hao hụt đầu con, độ mặn, độ PH, thức ăn. cũng góp phan làm tăng rủi ro trong san xuất.
Ngoài các yếu tố kỹ thuật còn có các yếu tố về kinh tế như giá cả của các yếu tố đầu vào, đầu ra ảnh hưởng đến hiệu quả nuôi. Đặc biệt là vào năm 2004, giá tôm giảm một cách đột ngột do ảnh của vụ kiện bán phá giá của Mỹ gây thiệt hại lớn cho NNT trong vùng. Với những lý do trên; được sự đồng ý của khoa Kinh Tế trường Đại Hoc Nông Lâm Tp.HCM; sự chấp nhận của ba con nông dân va các cấp chính quyển địa phương tôi tiến hành điều tra thu thập số liệu và nghiên cứu dé tài :”Phân tích rủi ro về kinh tế - kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm Sú công nghiệp trên địa bàn huyện Long Phú, tỉnh Sóc Trăng 1.3 Ý Nghĩa Nghề nuôi tôm St luôn bị đe dọa bởi nhiều yếu tố rủi ro và mỗi loại rủi ro lại ảnh hưởng theo từng phương cách khác nhau, chúng để lại những hậu quả vô cùng to lớn. Người dân tiến hành đầu tư canh tác tôm với hy vọng có thể thu nhiều lợi nhuận nhưng kết quả đạt được là hoàn toàn khác nhau.
Rui ro luôn đến với NNT một cách bất ngờ và họ hoàn toàn không chủ động được. Để nâng cao hiệu quả kinh tế, NNT phải hạn chế đến mức thấp nhất rủi ro cũng như những hậu quả xấu mà nó đem lại. Như vậy, trong quá trình canh tác của mình NNT phải ý thức và xác định được rằng đây không phải là ngành nghề sản xuất ăn chắc mà đòi hỏi sự kết hợp tối ưu của nhiều yếu tố mới có thể hạn chế rủi ro và mang lại lợi nhuận.4 Phạm Vi Nghiên Cứu 1.1 Phạm vi thời gian Đề tài được tiến hành trong khoảng thời gian từ tháng 03/2005-06/2005 1.2 Phạm vi không gian Tiến hành nghiên cứu trên địa bàn hai xã: Liêu Tú và Lịch Hội Thượng huyện Long Phú tỉnh Sóc Trăng. Số liệu được thu thập qua thực tế nuôi tôm tại nông hộ kết hợp với các số liệu thống kê từ các phòng ban địa phương.
Số liệu điều tra thu thập năm 2004.5 Mục Tiêu Của Đề Tài Phân tích rủi ro về kinh tế — kỹ thuật trong mô hình nuôi tôm St công nghiệp trên địa bàn huyện Long Phư, tỉnh Sóc Trăng. Mục tiêu cụ thể: -Phân tích tình hình nuôi tôm Sú trong vùng. -Phân tích rủi ro và độ nhạy của các yếu tố. -Xác định ảnh hưởng của rủi ro đến lợi nhuận của NNT theo từng tình huống.
-Từ đó, dé xuất những giải pháp hạn chế và khắc phục rủi ro cho nghề nuôi tôm Sú trong vùng. Chương II CƠ SỞ LÝ LUẬN 2.1 Cơ Sở Phát Triển NTTS Sản phẩm thủy sản là nguồn thực phẩm quan trọng đối với người dân ở nhiều nước, đặc biệt là các nước Châu Á. Tuy nhiên, trong thời gian qua sản lượng thủy sản trong môi trường tự nhiên đã giảm sút đáng kể do tình trạng khai thác quá mức với các phương tiện ngày càng hiện đại. Mặt khác, nhu cầu ngày càng tăng của thị trường trong và ngoài nước đối với những sản phẩm thủy sản có giá trị cũng là động lực phát triển nghề NTTS.
Việc chọn đối tượng, kỹ thuật nuôi hợp lý thì tôm Sú nói riêng, Thủy sản nói chung có ưu thế lớn so với gia súc và gia cầm trong việc sản xuất protein động vật. Do đặc điểm động vật thủy sản là động vật biến nhiệt nên nhu cầu năng lượng cho duy trì thân nhiệt thấp, tốc độ sinh trưởng cao. Chi phí nuôi thấp nhờ tận dụng khả năng ba chiều của thủy vực, đồng thời sử dụng những protein mà con người không sử dụng được như: phế phẩm công nghiệp, phụ phẩm nông nghiệp, chăn nuôi, .có thể nâng cấp thành protein có giá trị thông qua NTTS. Protein cũng có thể được tạo ra thông qua quá trình phát triển thức ăn trong tự nhiên cho tôm, cá nuôi,.
NTTS càng quan trọng đối với những loài đang có nguy cơ tuyệt chủng do lạm thác và suy thoái môi trường tự nhiên.2 Phát Triển NTTS Bên Vững Phát triển bén vững là sự phát triển để thỏa mãn nhu cầu của thế hệ hiện tại mà không là thiệt hại kha năng của thế hệ tương lai để thỏa mãn các nhu cau riêng của họ Hệ thống NTTS bén vững (HTNTTSBV) bao gồm các yếu tố sau và có mối quan hệ tác động lẫn nhau. Sơ đồ1: Hệ Thống Nuôi Trồng Thủy Sản Bén Vững Kỹ thuật san xuất | Năng suất ‡ HTNTTSBV Có lợi về phù hợp về Kinh tế — xã hội môi trường Khia cạnh kinh tế — xã hội Khía cạnh môi trường Kỹ thuật — san xuất: Kỹ thuật NTTS có năng suất cao và hiệu quả nhất đó là lợi thế cạnh tranh và khả năng sử dụng các nguồn tài nguyên gồm 3 khía cạnh quan hệ lẫn nhau: thiết bị nuôi, đối tượng và phương pháp nuôi. Thiết bị nuôi: hệ thống nước tuần hoàn, khép kín hay nửa khép kín. Đối tượng nuôi giáp sát hay nhuyễn thể.
Phương pháp nuôi: san xuất giống, ương giống hay thả giống nuôi. Khia cạnh kinh tế — xã hội: Mục đích NTTS là phục vụ nhu cầu của con người đồng thời mang lại lợi nhuận cho người sản xuất và tích lũy ngoại tệ thông qua xuất khẩu. Tuy nhiên, nếu quá trình NTTS phát triển quá mức sẽ gây đình trué trong san xuất ảnh đến hiệu quả kinh tế của người dân. Khía cạnh môi trường: Tác động môi trường đến NTTS: môi trường tự nhiên ảnh hưởng đến NTTS thông qua yếu tố địa lý — khí hậu mỗi loài động vật có khả năng chịu đựng các giới hạn khác nhau (độ mặn, nhiệt độ.
Môi trường nhân tao tác động ngược lại NTTS như: làm gia tăng sự ô nhiễm, suy thoái môi trường. NTTS tác động đến môi trường: sự phú dưỡng gây ra bởi nước thải của NTTS, khai thác quá mức nguồn giống tự nhiên cho NTTS, sử dụng hóa chất không đúng mức như dùng kháng sinh trong điều trị bệnh tôm hay cá, sử dụng các chất hữu cơ để tạo nguồn đạm động vật có giá trị kết hợp với khai thác quá mức như thả giống nhân tạo vào môi trường tự nhiên.3 Các Vấn Dé Về Hiệu Quả Kinh Tế 2.1 Khái Niệm Về Hiệu Quả Kinh Tế Như những loại hình kinh doanh khác, NTTS cũng là một hình thức kinh doanh.