ĐẶT VẤN ĐỀ 1.2) Sự cần thiết của dé tài: Hiện nay, thuỷ sản đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn trong sự phát triển của đất nước, thu về một nguồn ngoại tệ lớn, mang lại công ăn việc làm cho người dân. Sản phẩm thuỷ sản của Việt Nam đã có mặt ở nhiều nước trên thế giới như Mỹ, Nhật, EU, Hồng Kông,. Trong những năm gần đây tốc độ xuất khẩu thuỷ sản tăng nhanh, đặc biệt trong năm 2001 kim ngạch xuất khẩu của thuỷ sản đứng thứ 3 sau dầu thô và dệt may với doanh số trên 1,75 tỷ USD. Để đẩy mạnh việc phát triển ngành thuỷ sản nhất là việc nuôi trồng thuỷ sản thì Thủ Tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 224/1999/QĐ-TTg phê duyệt chương trình phát triển nuôi trồng thuỷ sn thời kỳ 1999-2010 với mục tiêu: dam bảo an ninh thực phẩm và tạo nguồn nguyên liệu chủ yếu cho xuất khẩu.
Phấn đấu đến năm 2010 tổng sản lượng nuôi trồng thuỷ sắn đạt trên 2.000 tấn, giá trị kim ngạch xuất khẩu đạt trên 2,5 tỷ USD, tạo việc làm và thu nhập cho khoảng 2 triệu người, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế xã hội đất nước và an ninh ven biển. Trong nghề nuôi trồng thuỷ sản thì nghề nuôi tôm st với sản lượng lớn dan chiếm một vị trí quan trọng và là một mặt hàng xuất khẩu chủ lực. Nghề nuôi tôm sú phát triển rầm rộ trong cả nước với quy mô ngày càng mở rộng. Quảng Ngai là một tỉnh duyên hải miền Trung có điều kiện tự nhiên thuận lợi cho việc nuôi trồng tôm sti như: nhiệt độ trung bình 25,5-27,5° C, mưa tập trung vào cuối tháng 9- tháng 12, nắng nhiều từ 2.000 giờ/năm, chế độ thủy triều và bán nhật triều thích hợp cho nuôi tôm st.
Tuy nhiên nghề nuôi tôm st ở tỉnh gặp không ít rủi ro từ nhiều yếu tố khác nhau như: chất lượng con giống, tình hình dịch bệnh, sự ô nhiễm môi trường, thời tiết, khí hậu diễn biến phức tạp. Những trở ngại này không những làm giảm năng suất tôm mà có thể mang lại sự phá sản cho người nuôi nếu như không có những giải pháp khắc phục kịp thời. Môi trường nước tự nhiên bị ô nhiễm gây ra nhiều dịch bệnh tràn lan cho tôm, kỹ thuật đơn sơ, năng suất thấp, khi gặp phải rủi ro trong mùa vụ sẽ bị thiệt hại nặng về mặt kinh tế. Chất lượng con giống là nhân tố quan trọng ảnh hưởng lớn đến năng suất, sản lượng và chất lượng tôm thành phẩm.
Trong giai đoạn bùng nổ của nghề nuôi tôm sú thì số lượng con giống có lúc không thể đáp ứng đủ cho nhu cầu người nuôi. Chính vì vây, đã xuất hiện một số lượng lớn con giống không đạt yêu cầu, chưa qua kiểm dịch, gây thiệt hại cho người nuôi. Bên cạnh đó, các yếu tố kỹ thuật trong quá trình nuôi như: hao hụt đâu con, độ mặn, độ pH. thức ăn, phòng dịch,.
cùng với yếu tố thị trường là giá cả cũng có nhiều tác động đến lợi nhuận và hiệu quả trong quá trình nuôi. Vì vậy, để giảm thiểu đến mức thấp nhất những rủi ro này thì chúng ta phai làm gì? Để trả lời câu hỏi trên, tôi tiến hành nghiên cứu dé tài: “ PHAN TÍCH RỦI RO CÁC YẾU TỐ KINH TẾ- KỸ THUẬT TRONG NUÔI TÔM SÚ TẠI XÃ NGHĨA HOÀ HUYỆN TƯ NGHĨA TINH QUANG NGAI” với mong muốn đánh giá tác động của từng loại rủi ro và tìm ra những giải pháp hạn chế giúp người nuôi tôm có thể yên tâm hơn trong quá trình canh tác của mình.3) Ý nghĩa: Nhiều yếu tố rủi ro luôn đe doạ đến lợi nhuận trong nuôi trồng tôm sú của các hộ nông dân. Mỗi loại rủi ro xẩy ra với người nuôi tôm theo từng cách khác nhau va chúng để lại những hậu quả vô cùng lớn. Người nuôi tôm với mong muốn có thể thu được lợi nhuận cao nhưng kết quả lại không đúng hoàn toàn như mong đợi của họ.
Các rủi ro này đến với người nuôi tôm bất ngờ nên họ khó có chủ động được. Cách khắc phục tốt nhất là người nuôi tôm phải làm sao để có thể hạn chế số lần xảy ra sự cố cũng như hạn chế hậu quả mà chúng để lại. Như vây, người nuôi tôm sú phải hiểu rằng đây là nghề san xuất gặp không ít rủi ro do đó đòi hỏi tối ưu nhiều yếu tố mới có thể hạn chế rủi ro và mang lại lợi nhuận cao. Hạn chế và khắc phục rủi ro trong nuôi tôm sú trở thành việc làm rất quan trọng và cần có sự tham gia phối hợp đồng bộ giữa các thành phan trong định hướng phát triển chung.4) Mục đích nghiên cứu: Phân tích rủi ro các yếu tố kinh tế- kỹ thuật trong nuôi tôm sú tại xã Nghĩa Hoà-Tư Nghĩa- Quảng Ngãi.
Từ đó có một số để xuất để hạn chế rủi ro, năng cao năng suất cũng như giá trị kinh tế cho nghề nuôi tôm sú tại xã.4) Nội dung nghiên cứu: -Diéu tra nông hộ và tiến hành phân tích hiện trạng nuôi tôm sú tại xã. -Phân tích rủi ro và độ nhạy của từng biến số. -Phân tích những tình huống rủi ro tác động đến lợi nhuận.5) Phan vi nghiên cứu: e Pham vi thời gian: dé tài được tiến hành nghiên cứu trong khoảng thời gian từ: tháng 3 đến tháng 6 năm 2005. ° Phạm vi không gian: tiến hành nghiên cứu trên địa bàn của huyện Tư Nghĩa- Quảng Ngãi.
Thu thập số liệu theo mẫu điều tra nông hộ ở các hộ nuôi tôm sú, kết hợp với các số liệu thu thập từ các phòng ban ở địa phương. Từ đó tiến hành phân tích các số liệu này. Chương 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1) Đặc điểm sinh học của tôm sú: 2.1) Tên gọi: Tên thường gọi: Tôm sú, tôm cỏ. Tên khoa học: Penaeus monodon.2) Hình thái: Phần đầu ngực gồm 13 đốt và 13 đốt phụ bộ dính thành 1 khối.
Phần bụng gồm 7 đốt, mỗi đốt có 1 vùng vỏ. Cuối bụng có | gai nhọn là Telson. Chuỳ: giống như thanh kiếm, giúp tôm tự vệ. Nhờ số răng cưa trên chuỳ ta phân biệt được các loài tôm khác nhau trong họ tôm he ( tôm sú có 7-8 răng trên chuỳ).
Râu: là cơ quan khứu giác và thăng bằng của cơ thể. Chân hàm: có 3 cặp giúp tôm ăn và hỗ trợ hô hấp. Chân ngực: có 5 cặp, giúp tôm ăn và bò. Chân đuôi: có 1 cặp, giúp tôm bơi lên xuống va búng ra xa.3) Chu kỳ sống a.Giai đoạn phôi: thời gian phát triển của phôi phụ thuộc nhiều vào nhiệt độ.
Phôi phát triển tốt ở nhiệt độ từ 25-30°C. Sau 12-15 giờ kể từ khi thụ tỉnh trứng sẽ nở. Ấu trùng khi mới nở gọi là Nauplius. Giai đoạn ấu trùng: Tôm ở giai đoạn ấu trùng không chủ động tìm mỗi.
Dinh dưỡng hoàn toàn phụ thuộc vào tự nhiên. Khả năng bơi lội độc lập và kèm theo đó là khả năng chủ động bắt mỗi chỉ xuất hiện ở cuối Postlarvae. Giai đoạn tôm giống: ở giai đoạn này tôm sử dung chân ngực để bò va chân bụng để bơi theo dòng nước. Chúng bắt đầu di chuyển vào vùng triều để sống.
Thời kỳ tiền trưởng thành: Tôm dan dần phát triển để có thể phân biệt được con đực cái. Khi hoàn toàn trưởng thành về sinh dục thì tôm cái thường lớn nhanh hơn tôm đực. Một số tôm cái đã nhận túi tinh từ con đực. Thời kỳ này tôm di cư từ đầm ra khơi.
Giai đoạn trưởng thành: Tôm hoàn toàn thành thục sinh dục và tham gia sinh sản. Ở ngoài khơi giao vỹ diễn ra mạnh, quá trình sinh sản được lặp lại.4) Chu kỳ lột xác: Như tôm càng xanh, tôm sú muốn lớn lên thì phải lột xác. Lột xác phụ thuộc vào điều kiện dinh dưỡng, môi trường nước và giai đoạn phát triển cá thể. Trong ao nuôi, tần số lột xác cao khi độ muối dao động từ 15-209/oo.
Nếu độ muối tăng trên 329/oo thì tan số lột xác giảm.5) Tập tính ăn và loại thức ăn: Tôm sú là loại ăn tạp, đặc biệt ưa ăn giáp xác, thực vật dưới nước, mảnh vụn hữu cơ, giun nhiều tơ, loài hai mảnh vỏ, côn trùng. Trong tự nhiên, tôm sú bắt mỗi nhiều hơn khi thuỷ triều rút. Tôm sti nuôi trong ao, hoạt động bắt mỗi vào lúc sáng sớm và lúc chiều tối. Động tác bắt mỗi của tôm sú là dùng càng đẩy thức ăn vào miệng để gam thức ăn.2) Một số yếu tố kỹ thuật trong nuôi tôm sú 2.1) Tôm và các yếu tố kỹ thuật môi trường: a) Nhiệt độ nước: nhiệt độ thích hợp đối với sự phát triển của tôm bột và tôm trưởng thành là 25-30°C.
Nhiệt độ tốt nhất từ 28-32°C. Nhiệt độ nước không phù hợp có thể làm tôm kém ăn, chậm sinh trưởng, chết dần hoặc mắc bệnh. b) Độ muối: tôm sú có ngưỡng độ muối từ 0-409/oo chịu đựng tốt với sự thay đổi đột ngột của độ muối. Tôm giống và tôm thịt ưa thích độ muối từ 10-25°/o0.
c) Oxy hoà tan trong nước: hàm lượng O; thích hợp từ 5mg/1 trở lên. Vào sáng sớm Op hoà tan trong ao thường thấp hơn do đó tôm có thể nổi đầu và chết. Khi này cần khuấy động ao đầm để tăng lượng O> hoà tan trong nước. d) Kim loại nặng: nước trong ao, đầm có thể có mặt kim loại nặng như đồng, chì, coban, thuỷ ngân,.
chúng tạo ra ảnh hưởng xấu đến đời sống của tôm. Cần phải tăng cường biện pháp cải tạo ao đầm để khắc phục tác động xấu của kim loại. e) Chất khí bão hoà: khi trong môi trường nước có quá nhiều chất khí bão hoà, tôm sẽ bệnh hoặc chết khi những chất này xâm nhập hệ thống tuần hoàn, tạo thành những hạt bong bóng, can trở sự lưu thông của máu. f) Độ pH: tôm ưa thích môi trường có trị số pH trung tính hay hơi kiềm.
Độ pH lý tưởng là 7,5-8,5 và không nên để pH trong ao thay đổi quá nhiều hay quá đột ngột. g) Độ trong: thường do các phiêu sinh vật quyết định, thích hợp nhất là khoảng 30- 50 em. Khi ao quá đục khiến tôm dễ bị ngạt. Độ trong quá lớn là dấu hiệu thiếu chất dinh dưỡng trong ao.2) Một số yêu câu đối với con giống: Con giống đều về kích cỡ( từ 12-15 mm), cùng lứa, đốt của cơ thể tôm dài.
Râu tôm dạng chữ V gốc 2 râu sát nhau, đuôi xoè rộng khi bơi, khoảng cách giữa 4 chân ở hai phần đuôi càng xa càng tốt. Cơ thịt bụng đầy đủ, không có vết lạ bám vào cơ thể tôm. Mau sắc tươi sáng, vỏ mỏng, ngoại hình không di dạng, đầu trên cân đối là giống tôm tốt, không bị bệnh.